Bản dịch
JA 540 — Chuyện Hiếu Tử Sàma (Tiền thân Sàma)
3 Suvaṇṇasāmajātaka
Ai đó đang mai phục bắn m ình…,
Câu chuyện này bậc Đạo Sư kể tại Kỳ Vi ên về một Tỷ- kheo phụng dưỡng mẹ.
Chuyện kể rằng có một thương nhân giàu có tại thành Xá-vệ, của cải lên đến một trăm tám mươi triệu, người n ày có một cậu con trai rất được y êu quý. Một ngày nọ, cậu trai đi l ên lầu, mở cửa nhìn xuống đường, khi thấy đám đông dân chúng đang đi đến Kỳ Vi ên, tay cầm hương hoa cúng dường để nghe thuyết Pháp, cậu bảo rằng cậu cũng muốn đi. Cậu truyền đem hương hoa lại, rồi cậu đi đến tịnh xá cúng dường y phục, dược phẩm, c ùng các thức ăn uống cho chúng Tỷ-kheo ở đó v à đảnh lễ đức Thế Tôn với hương hoa, rồi ngồi xuống một b ên…
Sau khi nghe thuyết Pháp, cậu nhận thức được các quả ác do tham dục gây ra v à những quả phúc do đời sống tu h ành mang lại. Rồi khi hội chúng ra về, cậu xin đức Thế Tôn cho cậu thọ giới. Nhưng đức Như Lai bảo cậu rằng ng ài không truyền giới cho ai chưa xin phép cha mẹ. Vì thế cậu ra về, nhịn ăn một tuần, cuối c ùng được cha mẹ chấp thuận, cậu trở lại v à xin thọ giới. Thế Tôn bảo một Tỷ-kheo làm lễ xuất gia cho cậu.
Sau đó vị Tỷ-kheo mới n ày được tán thán v à đạt nhiều công hạnh, được sự ái mộ của các vị sư trưởng v à giáo thọ và khi đ ã thọ đại giới, ông tinh thông Giáo pháp trong v òng n ăm năm. Rồi vị Tỷ-kheo n ày nghĩ: "Ta sống viễn ly ở chốn này thật không hợp với ta". Và ông nóng lòng đạt cứu cánh của Thiền định. Thế l à sau khi nghe lời dạy của vị giáo sư về Thiền định, ông đi đến một l àng ở biên giới, sống trong rừng sâu hành trì phép Thiền định, nhưng không đạt được ý niệm n ào đặc biệt, d ù ông đ ã tinh cần tu tập trong mười hai n ăm liền m à tâm không được định tĩnh.
Cũng trong thời gian này, cha mẹ của Tỷ-kheo này trở nên nghèo túng vì những người thuê đất hay bán h àng cho nhà này thấy trong nhà không có con em gì đến buộc họ trả nợ, cho n ên đ ã đoạt hết của cải n ào rơi vào tay họ và tha hồ chạy trốn; gia nhân tôi tớ trong nhà lại trộm vàng bạc trốn đi. V ì thế cuối cùng hai người lâm vào cảnh khốn cùng, không còn đến cái b ình đựng nước nữa, phải bán nh à đi lang thang hết sức c ùng cực, phải đi ăn xin, mặc áo rách rưới v à mang chiếc bình mẻ trong tay.
Lúc bấy giờ có một trưởng lão Tỷ-kheo từ Kỳ Viên đến nơi cư trú của người con trai ấy, ông tiếp đón ân cần vị khách kia xong, ngồi y ên lặng hỏi th ăm khách từ đâu đến. Khi được biết từ Kỳ Vi ên, ông hỏi th ăm sức khỏe của bậc Đạo Sư c ùng các đại đệ tử của ng ài, xong rồi hỏi th ăm tin tức cha mẹ m ình.
- Thưa Tôn giả, xin Tôn giả cho biết tình cảnh của một gia đ ình thương nhân ở Xá-vệ.
- Này hiền hữu, đừng hỏi thăm tin tức gia đ ình ấy nữa.
- Tại sao thế, thưa Tôn giả?
- Người ta nói gia đ ình ấy có một cậu con trai, nhưng cậu ta đ ã đi tu theo đạo pháp, v à từ khi cậu ấy xuất gia thì gia đ ình cậu bị sạt nghiệp, lúc này cả hai ông bà lão đang lâm v ào tình cảnh rất thê thảm và phải đi ăn xin.
Khi ông nghe khách nói xong, không thể nào cầm lòng được, nước mắt cứ r àn rụa và khi khách hỏi tại sao lại khóc, ông đáp:
- Thưa Tôn giả, đó chính l à cha mẹ tôi, tôi là con của các vị ấy.
- Này Hiền hữu, cha mẹ bạn đ ã sạt nghiệp vì bạn,vậy hãy về phụng dưỡng các vị.
Ông liền nghĩ: "Trong mười hai n ăm liền ta tinh cần tu tập m à không thể nào đạt đạo hay đắc quả, có lẽ ta vô t ài trí. Vậy ta có làm gì được với đời sống Phạm hạnh n ày? Chi bằng ta trở về làm một gia chủ phụng dưỡng cha mẹ già và bố thí của cải. Như vậy cuối cùng ta cũng được sinh l ên thiên giới". Quyết định xong ông nhường chỗ cư trú của m ình trong rừng cho vị Trưởng lão kia.
Hôm sau ông ra đi, qua nhiều chặng đường th ì tới tinh xá phía sau Kỳ Viên không xa thành Xá-vệ mấy. Tại đó ông thấy hai con đường, một đường dẫn đến Kỳ Vi ên, một đường dẫn đến Xá-vệ. Khi đứng đó, vị Tỷ-kheo n ày suy nghĩ: "Ta đến viếng cha mẹ ta trước hay đức Phật trước? Rồi ông tự nhủ: "Ng ày xưa ta gặp cha mẹ ta luôn, từ đây ta sẽ ít có dịp yết kiến đức Phật; vậy ta h ãy yết kiến bậc Chánh Đẳng Giác ng ày hôm nay và nghe thuyết Pháp, rồi ngày mai ta sẽ đi thăm cha mẹ".
Thế là ông bỏ con đường đi Xá-vệ v à đi đến Kỳ Vi ên lúc chiều tối. Vào ngày đó, lúc tảng sáng, bậc Đạo Sư nh ìn xuống trần gian, đ ã thấy được tiềm lực ngộ đạo của vị n ày, nên khi ông đến yết kiến Thế Tôn, ng ài tán thán công đức của cha mẹ theo kinh M àtiposaka (voi hiếu dưỡng mẹ-Tiền thân số 455). Trong khi đứng cuối hội chúng Tỷ-kheo v à nghe thuyết Pháp, ông nghĩ: "Nếu ta trở thành người gia chủ, ta có thể phụng dưỡng cha mẹ ta", nhưng bậc Đạo Sư cũng dạy: "Một người con đi xuất gia vẫn có thể giúp đỡ cha mẹ m ình". Trước kia ta rời thế tục mà không đến yết kiến đức Thế Tôn, v à ta đ ã thất bại trong sự thọ giới không trọn vẹn như vậy. Bây giờ ta muốn phụng dưỡng cha mẹ ta mà vẫn duy trì đời sống tu h ành chứ không làm một người gia chủ". Vì vậy ông cầm lấy thẻ cùng các vật thực phát theo thẻ và cháo của mình và cảm thấy như thể mình đ ã phạm trọng tội đáng bị khai trừ sau mười hai năm độc cư trong rừng.
Sáng hôm sau ông đi đến Xá-vệ v à nghĩ thầm: "Ta nên đi lấy cháo trước hay thăm cha mẹ ta trước đây?". Ông nghĩ lại v à thấy rằng đi thăm cha mẹ trong lúc cha mẹ ngh èo khổ mà không có gì trong tay để biếu th ì thật là không phải đạo. V ì thế ông đi lấy cháo trước rồi đến cửa nh à cũ. Vừa thấy cha mẹ ngồi cạnh bức tường đối diện, sau khi đ ã đi một v òng khất thực được cháo l òng, ông đứng không cách xa họ mấy v à bỗng thấy nỗi sầu thương nổi lên, mắt đẫm lệ. C òn họ thấy ông nhưng không nhận ra, rồi bà mẹ tưởng rằng đó l à một kẻ đang chờ của bố thí, liền nói:
- Chúng ta không có gì để bố thí cho người cả, người chịu khó đi nơi khác.
Nghe bà mẹ nói vậy, ông cố nén nỗi buồn đang tr àn đầy trong l òng, đứng y ên mắt đẫm lệ, v à khi được bảo lần thứ hai, thứ ba, ông vẫn đứng y ên. Cuối cùng ông cha bảo bà mẹ:
- Bà đến xem thử có phải con trai b à đó không?.
Bà vùng dậy chạy đến nh ìn ra con, gục xuống chân mà than khóc, ông cha cũng khóc theo, bao nỗi sầu khổ đều tuôn ra hết. Thấy lại cha mẹ, ông không thể nén được l òng mình, cũng bật khóc. Sau cơn xúc động, ông nói:
- Đừng buồn nữa cha mẹ ôi, con sẽ phụng dưỡng cha mẹ.
Thế là sau khi an ủi cha mẹ và cho họ húp nước cháo rồi ngồi xuống bên đường, ông lại ra đi khất thực đem về cho cha mẹ d ùng, sau đó mới đi khất thực cho chính m ình. Xong bữa ăn, ông liền đi t ìm nơi trú chân không xa đó mấy. "Từ ng ày ấy về sau ông ch ăm sóc cha mẹ bằng cách n ày; ông đem cho cha mẹ đồ khất thực d ành cho mình, luôn cả những vật dụng bố thí hằng nửa tháng một lần, và ông đi khất thực nhiều lần để thọ dụng. C òn những vật thực dành cho mùa mưa cũng đều đem cho cha mẹ d ùng, trong khi ông đem áo quần rách của cha mẹ về đóng cửa kín m à nhuộm lại để mặc. Nhưng rất ít ng ày ông đi khất thực được đồ d ùng, phần nhiều là chẳng được g ì cả, nên y trong cũng như y ngoài đều tả tơi cả. Trong thời gian chăm sóc cha mẹ như thế, ông dần dần trở n ên xanh xao gầy ốm, bạn hữu thấy vậy bảo:
- Da dẻ bạn trước đây tươi sáng, nhưng nay bạn xanh xao quá, hẳn có bệnh g ì?
Ông đáp:
- Ta không có bệnh gì cả, nhưng ta đang gặp một chướng ngại.
Rồi ông kể cho họ nghe câu chuyện nhà. Họ đáp:
- Thưa hiền giả, bậc Đạo Sư không cho phép ta phí phạm lễ vật cúng dường của các thí chủ, bạn đ ã làm việc trái phép khi đem lễ vật cúng dường của thí chủ cho người thế tục.
Nghe nói vậy, ông hổ thẹn cúi gầm mặt xuống, nhưng vẫn chưa thỏa dạ, họ đem chuyện kể với bậc Đạo Sư:
- Bạch Thế Tôn, người này đ ã phí phạm lễ vật cúng dường và đem cho người thế tục.
Bậc Đạo Sư cho gọi vị Tỷ-kheo trẻ ấy đến v à hỏi:
- Có phải ông đ ã xuất gia mà còn lấy vật cúng dường của thí chủ đem cho người thế tục không?
Ông thú nhận là có. Rồi bậc Đạo Sư muốn ngợi khen việc l àm của ông và nói về một việc cũ của Ngài, liền hỏi:
- Thế ông phụng dưỡng người thế tục nào đó?
- Bạch Thế Tôn, chính cha mẹ của con.- Ông đáp.
Lúc đó Thế Tôn muốn khuyến khích việc l àm của ông hơn nữa, Ngài bảo ba lần:
- Tốt lành thay! Tốt lành thay! Ông đang đi con đường ng ày xưa Ta đ ã đi qua, ng ày xưa khi đi khất thực Ta cũng phụng dưỡng cha mẹ Ta.
Như thế vị Tỷ-kheo được Ng ài khích lệ vì việc đó. Rồi theo lời thỉnh cầu của chúng Tỷ-kheo, bậc Đạo Sư kể chuyện quá khứ để cho biết các nghiệp đời trước của Ng ài.
*
Ngày xưa, không xa thành Ba-la-nại, ở phía bên này sông, có một làng thợ s ăn v à một làng nữa ở bên kia sông, mỗi làng có chừng n ăm trăm gia đ ình cư trú. Lúc bấy giờ có hai nhà thiện xạ trong hai làng đó l à đôi bạn thân thích, họ giao ước với nhau từ trẻ rằng nếu đôi b ên sinh con trai và con gái thì sẽ gả con cho nhau. Theo thời gian trôi, một cậu trai được hạ sinh trong nh à thiện xạ bên này sông và một cô gái sinh vào nhà thiện xạ kia. Cậu bé được đạt t ên Dukùlaka vì khi sinh ra đời cậu được quấn trong lớp t ã lót thật đẹp, c òn cô gái được đặt t ên là Parikà, vì cô sinh ra bên kia sông. Cả hai đều xinh đẹp với l àn da óng ả như vàng và mặc dù được sinh ra trong l àng s ăn bắn, chúng không hề sát sinh hại mạng. Khi cậu bé l ên mười sáu tuổi, cha mẹ cậu bảo:
- Này con, cha mẹ sẽ cưới vợ cho con.
Nhưng cậu là một người thanh tịnh từ Phạm thiên giới mới xuống đây, cho n ên cậu bịt tai lại bảo:
- Con không muốn ở trong nhà, đừng nói chuyện ấy với con.
Rồi mặc dù cha mẹ cậu nói chuyện đó ba lần, cậu không tỏ ý ham thích chút n ào. Còn nàng Parikà cũng vậy, khi cha mẹ nàng bảo:
- Con trai của ông bạn nhà ta thật khôi ngô với làn da óng ả như vàng, cha mẹ định gả con cho cậu ấy đấy.
Nàng cũng bịt tai lại và trả lời như chàng trai kia.Vì chính nàng cũng xuống đây từ Phạm thi ên giới. Cậu Dukùlaka bí mật gửi cho cô gái một lời nhắn nhủ: "Nếu nàng muốn sống đời vợ chồng th ì hãy tìm đến một gia đ ình khác, vì ta không muốn như vậy". Và nàng cũng gửi cậu một lời nhắn nhủ tương tự như thế. Nhưng dù họ không đồng ý, cha mẹ họ vẫn cử h ành hôn lễ. Thế là cả hai người sống riêng lẻ như các vị Phạm thiên, không hề sa vào bể ái dục. Dakùlaka không hề giết cá hay nai hươu, cũng không hề bán các thứ cá mà người khác mang đến cho cậu. Cuối c ùng cha mẹ cậu bảo:
- Con sinh ra trong gia đ ình s ăn bắn m à con lại không thích sống trong nhà, cũng không sát sinh hại vật, vậy con muốn gì?.
Cậu đáp:
- Nếu cha mẹ cho phép, con xin làm ẩn sĩ ngay ngày hôm nay.
Cha mẹ họ đều cho phép họ ngay lập tức. Thế l à họ từ giã cha mẹ, ra đi dọc theo bờ sông Hằng, rồi rời bỏ sông Hằng, họ đi l ên núi dọc theo sông Migasammatà. Lúc bấy giờ cung của Sakka Thiên chủ bỗng nóng rực lên. Thiên chủ Sakka, sau khi xác định duy ên cớ, liền bảo thần Vissakamma:
- Này Vissakamma, có hai bậc Đại nhân đ ã xuất thế và đang đi v ào núi Himavat, chúng ta phải tìm nơi trú ẩn cho họ, vậy hãy đi dựng am lá v à cung cấp mọi vật dụng cần thiết cho cuộc đời tu h ành của họ ở một nơi cách sông Migasammatà chừng một phần tư dặm đường, xong rồi trở lại đây.
Thế là vị này đi chuẩn bị đủ mọi vật dụng giống như được mô tả trong Tiền thân M ùgapakkha, rồi trở về nhà; sau khi đ ã xua hết mọi súc vật có thể gây ồn ào khó chịu trong rừng và mở một con đường m òn gần đó. Hai vị ẩn sĩ thấy có đường m òn liền theo đó đến am. Khi Duk ùlaka bước vào trong am, thấy đủ mọi vật dụng cần thiết liền k êu lên:
- Đây chính l à lễ vật của Thiên chủ Sakka cúng dường ta.
Thế rồi Dukùlaka cởi áo ngoài ra, mặc vào chiếc y màu vỏ dà, đắp tấm da hươu qua một b ên vai, cột túm tóc lại ra dáng một vị khổ hạnh, rồi cũng làm lễ truyền giới cho Parikà như vậy, xong rồi họ sống ở đó, tu tập l òng Từ thuộc về cõi Dục. Nhờ ảnh hưởng lòng Từ của họ đối với mọi vật, chim muông v à thú rừng cũng khởi lên lòng từ ái đối với nhau, chứ không hề l àm hại lẫn nhau.
Parikà lo kiếm nước và thức ăn, quét dọn am, l àm đủ mọi việc cần thiết, rồi cả hai người đi kiếm đủ loại trái cây về ăn. Sau đó họ ở v ào trong thảo am riêng của mình hành trì đủ mọi giới luật của đời Phạm hạnh. Thi ên chủ Sakka cung cấp đủ mọi nhu cầu của họ.
Một ngày kia, ngài tiên tri được một hiểm họa sắp xảy ra cho họ: "Họ sẽ mất thị giác". V ì thế ngài tìm đến Duk ùlaka, đảnh lễ xong, ngồi xuống một b ên, ngài bảo:
- Thưa Tôn giả, ta thấy trước một hiểm họa sắp đe dọa các Tôn giả, vậy các Tôn giả phải sinh một đứa con trai để phụng dưỡng các vị sau n ày, hãy đi theo đường lối của thế gian.
- Thưa Thiên chủ, tại sao ngài lại bảo vậy? Ngay cả khi chúng con còn ở chung một nhà trước kia, chúng con cũng đ ã chán ghét ái dục, giờ đây l àm sao chúng con thực hiện điều ấy được khi chúng con đ ã vào rừng sống đời Phạm hạnh của kẻ xuất gia.
- Được rồi, nếu Tôn giả không muốn l àm như ta nói, thì đợi đến lúc thuận tiện h ãy lấy tay sờ rốn của Parikà.
Dukùlaka ưng thuận làm theo. Thiên chủ Sakka từ giã ra về. Bậc Đại Sĩ kể chuyện ấy với Parik à và đến lúc thời cơ thuận lợi, lấy tay sờ v ào rốn Parikà. Ngay lúc ấy Bồ-tát từ Thiên giới xuống nhập vào bụng bà và bà mang thai từ đó. Sau mười tháng, b à hạ sinh một hài nhi da vàng óng, vì thế nên họ đặt t ên là Suvannasàma (Hoàng Kim).
Lúc bấy giờ các nữ thần Kinnara (Khẩn-na-la: Ca thần của Sakka) ở núi bên kia đến chăm sóc Parik à lúc bà lâm bồn. Đôi cha mẹ n ày tắm rửa hài nhi xong đặt v ào chòi lá và đi kiếm đủ loại trái cây. Trong khi họ ra ngo ài, các nữ thần Kinnara đem h ài nhi vào động của họ tắm rửa v à đem l ên đỉnh núi trang ho àng cho hài nhi đủ loại hoa, lấy chất sơn v àng đỏ xanh l àm dấu đặc biệt tr ên thân thể, rồi đem về để lại tr ên giường trong chòi lá, sau đó Parik à về chòi cho con bú.
Họ yêu quý con, nâng niu ch ăm sóc con cho đến năm mười sáu tuổi, họ thường để con ở trong ch òi rồi đi v ào rừng kiếm củ và trái cây. Bồ-tát suy nghĩ: "Mối hiểm họa một ngày kia sẽ xảy ra". Ngài thường canh chừng con đường cha mẹ ng ài đi ra.
Một ngày kia họ trở về lúc chiều tối sau khi đ ã nhặt củ và trái cây. Vừa đến gần ch òi thì một đám mây lớn kéo tới. Họ vội ẩn m ình dưới gốc cây trên một ổ kiến. Trong ổ kiến này có một con rắn độc. Lúc bấy giờ nước tr ên thân họ nhỏ giọt xuống mang theo mùi mồ hôi đến mũi con rắn l àm nó tức giận, thổi phà hơi độc lúc họ đứng đó để tấn công họ, khiến cho cả hai đều bị m ù không nhìn thấy nhau được nữa. Duk ùlaka gọi lớn Parikà:
- Mắt ta mù rồi, ta không thấy nàng nữa.
Họ bảo nhau trong khi quờ quạng đi quanh, khóc lóc v à không sao tìm được lối về." Đời trước ta đ ã phạm tội gì?" Họ nhủ thầm như vậy. Thuở tiền kiếp, họ sinh vào gia đ ình một y sĩ. Vị y sĩ đó chữa bệnh mắt cho một người gi àu có, nhưng người này không chịu trả y phí, vị y sĩ tức giận nói với vợ:
- Ta phải làm sao đây?
Bà vợ cũng tức giận bảo:
- Ta không cần tiền của nó, cứ chế ra một thứ thuốc rồi bảo đó l à thuốc chữa bệnh và ta làm mù mắt nó đi.
Vị y sĩ đồng ý l àm theo lời vợ và chính vì tội này mà giờ đây cả hai đều bị m ù lòa.
Lúc ấy bậc Đại Sĩ suy nghĩ: "Trước đây cha mẹ ta thường về v ào giờ này, ta chẳng biết chuyện gì xảy ra cho cha mẹ ta, ta phải đi t ìm mới được". V ì thế ngài ra đi t ìm họ và gây nên một tiếng động. Họ nhận ra tiếng động ấy n ên cũng làm một tiếng động đáp lại v à vì lòng thương con, họ bảo con:
- Sàma ơi, ở đây nguy hiểm lắm, đừng tới gần. V ì thế ngài đưa cho cha mẹ một cây d ài, bảo họ cầm lấy đầu cây gậy rồi đi lần về phía ng ài. Ngài bảo với họ:
- Cha mẹ bị mù mắt vì duyên cớ gì?
- Khi trời mưa ta núp dưới gốc cây trên một tổ kiến, thế là ta bị mù mắt.
Nghe thế ngài biết ngay sự việc đ ã xảy ra. "Có lẽ ở đó có rắn độc, đang lúc nổi giận, nó phun nọc độc ra đấy". Khi ng ài nhìn cha mẹ, ngài bật khóc rồi lại bật cười. Cha mẹ ngài hỏi tại sao, ngài đáp:
- Con khóc vì cha mẹ bị mù lúc còn trẻ, nhưng con lại cười vì từ đây con sẽ phụng dưỡng cha mẹ, cha mẹ đừng buồn, con sẽ chăm nom cha mẹ chu đáo.
Thế rồi ngài dẫn họ về chòi, buộc dây thừng tứ phía phân chia các gian để ở ban ng ày và ban đ êm, các trai phòng và các phòng khác nữa. Từ ngày ấy ngài bảo cha mẹ ở nhà, còn ngài đi kiếm củ v à trái rừng. Buổi sáng dọn dẹp nhà cửa, đi lấy nước sông Migasammat à về, nấu thức ăn v à nước, rồi lấy nước rửa mặt đánh răng cho cha mẹ, đem đến cho cha mẹ đủ trái cây ngon ngọt. Khi cha mẹ súc miệng xong, ng ài mới dùng. Ăn xong ng ài chào cha mẹ, rồi được một đ àn nai hộ tống, ngài vào rừng hái quả.
Sau khi hái quả cùng với đám nữ thần Kinnara tr ên núi, ngài trở về lúc chiều tối, nấu nước nóng tắm rửa chân tay cho cha mẹ rồi mang lại một mẻ chậu than hồng hơ ấm tay chân cha mẹ. Ngài đem đủ loại trái cây cho cha mẹ d ùng. Cuối cùng ngài mới ăn phần m ình và cất dọn các thứ còn lại. Cứ thế ngài ch ăm sóc cha mẹ mỗi ng ày.
Lúc ấy có một vị vua tên Pilliyakkha trị vì tại Ba-la-nại. Vị này rất thích thịt thú rừng nên đ ã giao việc triều chính cho mẹ rồi nai nịt n ăm loại vũ khí đi v ào núi Himavat s ăn bắn hươu nai để ăn thịt, tiến lần đến con sông Migasammat à và cuối cùng tới nơi Sàma thường xuống múc nước. Thấy có vết chân hươu nai, vua dựng chỗ trú ẩn dưới các bụi cây màu ngọc bích, lấy tên tẩm thuốc độc v ào, sẵn sàng giương lên và nằm mai phục.
Buổi chiều bậc Đại Sĩ đ ã hái trái cây xong, đem về lều, ch ào hỏi cha mẹ rồi nói:
- Con sẽ đi tắm v à múc ít nước.
Ngài cầm bình, cả một đo àn nai vây quanh, ngài chỉ chọn ra hai con, buộc bình vào lưng chúng, rồi dẫn chúng đến nơi tắm sông. Nh à vua thấy ngài đến gần tự nhủ: "Suốt thời gian ta đi quanh quẩn nơi đây, ta chưa hề thấy bóng người n ào cả, vậy đó l à Thiên thần hay rắn thần? Bây giờ nếu ta đến gần hỏi nó ắt nó sẽ bay l ên trời nếu đó l à Thiên thần, hoặc sẽ độn thổ nếu đó l à rắn thần. Nhưng ta có ở núi Himavat này mãi đâu, một ng ày kia ta sẽ trở về Ba-la-nại. Lúc đó các quan đại thần sẽ hỏi ta có thấy được việc g ì kỳ lạ trong thời gian ta lang bạt ở đây không. Nếu ta bảo họ ta có thấy một người như vầy như vầy, họ sẽ gạn hỏi ta t ên nó là gì, nếu ta trả lời không biết thì họ sẽ chê trách ta; vậy thì ta cứ bắn nó cho bị thương, rồi hỏi nó sau".
Vừa lúc ấy, bầy nai đi xuống trước để uống nước rồi bước l ên khỏi chỗ tắm. Sau đó Bồ-tát chầm chậm bước xuống nước như thể một vị đại Trưởng l ão đầy đủ giới luật uy nghi đang chuy ên tâm đạt đại định, khoác bộ áo bằng vỏ cây v à đắp tấm y bằng da nai qua một b ên vai, nhấc bình lên múc đầy nước, rồi đặt tr ên vai trái. Ngay lúc này, vua thấy rằng đ ã đến thời, liền bắn mũi t ên tẩm thuốc độc, l àm bậc Đại Sĩ bị thương ở sườn b ên phải, rồi mũi tên xuyên qua sườn bên trái.
Bầy nai thấy ngài bị thương kinh hoàng chạy trốn, nhưng Suvannasàma, mặc dù bị thương nặng, vẫn hết sức giữ bình nước cho vững và cố định thần, ng ài chầm chậm bước ra khỏi nước. Ngài đ ào cát chất lên một ụ cao, kê đầu l ên hướng về phía chòi của cha mẹ, và ngài nằm xuống chẳng khác nào một bức tượng vàng trên bãi cát màu sáng bạc. Rồi hồi tưởng lại, ngài suy xét mọi việc đ ã xảy ra: "Ta không có kẻ thù nào trong vùng núi Himavat này, ta cũng không thù oán ai cả". Khi ngài nói như vậy, máu từ miệng ngài tuôn ra và vì không nhìn thấy vua, ngài liền ngâm kệ:
1. Ai đó đang mai phục bắn m ình, Khi ta đ ã múc nước đầy b ình, Bà-la-môn, quý tộc, nô lệ, Ai ám hại ta chẳng biết danh?
Rồi ngài ngâm thêm một vần kệ cho biết thịt của ngài vô dụng, không làm thức ăn được:
2. Người chẳng thể nào ăn thịt ta, Cũng không thể sử dụng bao da, Sao người nghĩ lấy ta l àm đích, Người đ ã tưởng đâu thắng lợi m à?
Ngài lại ngâm thêm một vần kệ khác hỏi họ tên của vua:
3. Người là ai, hãy nói con ai, Là gì ta sẽ gọi tên người, Tại sao người lại nằm mai phục? Thành thật xin người hãy trả lời.
Khi nghe vậy, vua tự nhủ: "Mặc dù kẻ này đ ã bị ta bắn trọng thương bằng tên độc, vẫn không mạ lỵ ta, oán trách ta, lại c òn nói n ăng dịu d àng như thể ru lòng ta vậy. Thôi ta đến xem sao". Thế l à vua đến gần b ên ngài và ngâm kệ:
4. Chúa tể Kà-si quốc chính ta, Đại vương danh hiệu Pi-yak-kha, Ta rời ngôi báu v ì thèm thịt, Thơ thẩn tìm nai rừng núi xa. 5. Tài thiện xạ ta thật khéo thay, Tâm ta can đảm chẳng lung lay, Chẳng rồng rắn thoát t ên ta được Khi nó đ ã vào tầm bắn đây.
Sau khi tự khen ngợi tài n ăng m ình như vậy, vua hỏi gia thế của ngài:
6. Ngươi là ai đó vậy, con ai, Là gì ta sẽ gọi tên ngươi? Và tên thân phụ cùng gia tộc, Tên của nhà ngươi, hãy trả lời.
Bậc Đại Sĩ suy nghĩ: "Nếu ta bảo rằng ta l à Thiên thần hay dòng dõi các nữ thần Kinnara (Khẩn-la-na), hoặc bảo ta là một Sát- đế-lỵ hay thuộc một quý tộc tương tự, vị n ày sẽ tin ngay, nhưng ta phải nói sự thật". Vì thế ngài nói:
7. Lúc ta sinh được gọi Sà-ma, Con thợ s ăn c ùng khổ chính ta, Nay ở đây nằm tr ên đất lạnh, Người nh ìn ta đ ã gặp nguy cơ. 8. Tên độc củ a người bắn trọng thương, Ta nằm đơn độc tựa linh dương, Nạn nhân người giết nhờ t ài nghệ, L ăn lóc ta nay nhuộm máu hường. 9. T ên của người xuyên suốt thịt da, Theo từng hơi thở máu trào ra, Ngất ngư, ta vẫn còn than hỏi: Sao muốn giết người mai phục ta? 10. Ngươi chẳng thể nào ăn thịt ta, Cũng không thể sử dụng bao da, Sao người nghĩ lấy ta l àm đích, Người đ ã tưởng đâu thắng lợi mà?
Khi vua nghe vậy, biết rằng không thể nói thật được, liền bịa một câu chuyện như sau:
11. Một nai đ ã đến đúng vừa tầm, Ta nghĩ rằng ta sắp hưởng phần, Nhưng thấy ngươi, nai kinh hoảng chạy, Với ngươi, ta chẳng có lòng sân.
Bậc Đại Sĩ đáp:
- Tại sao Đại vương nói vậy được? Cả v ùng núi Himavat này không có nai nào thấy ta mà bỏ chạy:
12. Từ khi ta mới biết suy tư, Nhớ lại thời xưa mãi đến giờ, Không thú mồi hay nai chạy trốn, Kinh ho àng khi gặp bước ta qua. 13. Từ lúc ta mang áo vỏ cây, Bỏ đằng sau chuỗi ng ày thơ ngây, Không nai hay thú mồi đ ào tẩu, Khi thấy ta qua các lối này. 14. Các thú hoang kia chính bạn mình, Cùng ta phiêu bạt khắp rừng xanh, Nai này sao lại, như người nói, Khi thấy ta liền chạy hãi kinh ?
Khi vua nghe nói, liền nghĩ thầm: "Ta đ ã làm trọng thương con người vô tội này và lại còn nói dối, thôi ta phải thú tội mới được". Nghĩ vậy, vua nói:
15. Chẳng có nai nào thấy Sà-ma, Sao ta nói dối quá dư thừa? Lòng ta tràn ngập niềm tham, hận, Và bắn đầu t ên đó ấy, chính ta.
Rồi vua nghĩ: "Suvanna không thể sống một mình trong rừng được, chắc phải có thân thích ở đây, để ta thử hỏi xem". V ì thế vua ngâm kệ:
16. Sáng sớm từ đâu đến, bạn l ành, Ai người bảo bạn phải cầm bình, Đổ đầy nước múc bờ sông ấy, Mang gánh nặng lui bư ớc lộ trình?
Nghe vậy, bậc Đại Sĩ cảm thấy một nỗi đau đớn vô c ùng và ngâm vần kệ trong khi máu trào ra từ miệng:
17. Cha mẹ sống rừng vắng phía xa, Mù lòa chỉ lệ thuộc con thơ, Vì hai thân, đến b ên bờ nước, Ta đổ đầy b ình nước của ta.
Rồi ngài tiếp tục than khóc số phận của cha mẹ:
18. Đời sống chỉ như lửa chập chờn, Một tuần thực phẩm trữ không hơn Nếu không có nước ta đem lại, Yếu đuối, m ù lòa chết thảm thương. 19. Ta chẳng sợ đau khổ tử vong, Ấy l à số phận mọi loài chung, Sống không còn được nh ìn thân phụ, Điều ấy khiến tâm trí h ãi hùng. 20. Thời khắc lê thê nặng khổ buồn, Mẹ ta ấp ủ nỗi sầu thương, Nửa đ êm và cả khi trời sáng, Dòng lệ chảy như suối nước tuôn. 21. Thời khắc lê thê nặng khổ buồn. Cha ta ấp ủ nỗi sầu thương, Nửa đ êm và cả khi trời sáng. Dòng lệ chảy như suối nước tuôn. 22. Họ lang thang khắp chốn rừng hoang, Than vãn con đi quá muộn m àng, Chờ đợi ho ài công nghe tiếng bước, Hay chờ ta vuốt tấm thân tàn. 23. Ý tưởng này, tên độc thứ hai, Đâm sâu hơn trước nữa, than ôi! V ì ta nằm tại đây chờ chết Không thể nh ìn cha mẹ nữa rồi!
Nhà vua nghe ngài than khóc, nghĩ thầm: "Người này phụng dưỡng cha mẹ hết lòng hiếu thảo tận tụy, ngay bây giờ đang lúc đau đớn m à cũng chỉ nghĩ đến cha mẹ, thật ta đ ã gây tội ác với một thánh nhân như vậy, làm sao ta an ủi được người đây? Khi ta đọa xuống địa ngục rồi th ì ngai vàng có ích gì cho ta? Thôi ta nguyện phụng dưỡng cha mẹ người như người đ ã phụng dưỡng họ. Như thế cái chết của người không ảnh hưởng mấy đến họ". Liền sau đó vua nói l ên quyết tâm của mình qua các vần kệ sau:
24. Này hỡi Sà-ma dáng cát tường, Chớ nên tuyệt vọng ngập tâm hồn, Vì ta phụng dưỡng hai thân lão Trong cảnh cô đơn nặng khổ buồn. 25. Ta nay thành thạo với cây cung, Lời hứa ta cương quyết thủy chung, Ta sẽ thay người và phụng dưỡng Mẹ cha người sống ở trong rừng. 26. Ta sẽ đi t ìm miếng thịt nai, Đủ d ùng củ rễ, trái cây tươi, Rồi ta hầu hạ hai thân lão, Ta chính gia nô của các ngài. 27. Hiện nay hai vị ở rừng nào? Này hởi Sa-ma, hãy nói mau, Ta thề bảo vệ, nuôi hai vị Như chính người làm tự bấy lâu.
Bậc Đại Sĩ đáp:
- Thế thì tốt quá, xin Đại vương nuôi nấng cha mẹ ta d ùm.
Rồi ngài chỉ đường cho vua:
28. Nơi chốn đầu ta đặt ở đây, Hai trăm tầm chạy giữa rừng cây, Con đường dẫn đến lều cha mẹ, Xin đến, l àm ơn phụng dưỡng thay.
Sau khi chỉ đường v à kiên nhẫn chịu đựng đau đớn khủng khiếp v ì lòng thương yêu cha mẹ, ngài kính cẩn chấp tay lại, thỉnh cầu vua một lần cuối hãy nuôi dưỡng cha mẹ thay mình:
29. Cung kính lễ ngài, bậc Đại vương, Ng ài đi như vậy đúng con đường, Mù lòa, cha mẹ ta đơn độc, Xin bảo vệ, nuôi dưỡng, đoái thương. 30. Kính lễ K à-si Chúa thượng ôi, Hai tay ta chắp khẩn cầu ngài, Nhân danh ta gửi về cha mẹ Lời nhắn nhủ ta đ ã nói rồi.
Vua nhận lời ủy thác và bậc Đại Sĩ, sau khi nói xong lời nhắn nhủ cuối c ùng, liền bất tỉnh.
*
Bậc Đạo Sư giải thích việc n ày như sau:
31. Sà-ma với vẻ mặt hiền lương, Đ ã nói lời này với Đại vương, Rồi ngất lịm dần v ì thuốc độc, Nằm m ê man tựa bỏ thân tàn.
*
Từ trước đến giờ ng ài cố gắng thốt ra những lời lẽ trên như thể người bị hụt hơi, nhưng đến đây tiếng nói đ ã đứt qu ãng vì toàn thân, tim óc, sinh lực của ngài đều lần lượt chịu tác động dữ dội của thuốc độc, n ên miệng và mắt ngài khép lại, tay chân cứng đờ, to àn thân đẫm máu. Vua k êu lên:
- Người này đang nói với ta cho đến giờ phút n ày, bỗng dưng tại sao lại hết thở vô ra rồi kìa? Các cơ quan đ ã ngưng hoạt động, thân thể đ ã cứng đờ, chắc chắn S à-ma đ ã chết rồi,
Và không thể nào ng ăn được sầu thương, vua đấm v ào đầu than khóc thảm thiết.
*
Đến đây bậc Đạo Sư ngâm kệ để làm sáng tỏ vấn đề này:
32. Đau đớn nhà vua đã khóc than: - Trước kia chưa xảy đến tai nạn, Ta không hề biết gi à rồi chết, Trời hỡi, giờ ta biết rõ ràng! 33. Nay thấy mọi người phải chết thôi, Chính Sà-ma cũng chết, than ôi! Chàng vừa khuyên nhủ, lời tr ăn trối, Khi hấp hối từ gi ã cõi đời. 34. Địa ngục đ ày, ta đọa hiển nhi ên, Thánh nhân bị giết đó, nằm y ên, Mọi người thôn xóm nào ta gặp, Sẽ nói đồng thanh tội lỗi tr ên. 35. Sống ở rừng hoang vắng vẻ này, Họ tên ta có kẻ nào hay? Đây miền hiu quạnh không người ở, Ai sẽ nhắc ta mối nhục n ày?
*
Lúc bấy giờ có một nữ thần tên gọi Bahusodarì ở tại núi Gandhamàdana (Hương Sơn) đ ã là mẹ của Bồ-tát cách đây bảy đời trước của ng ài, vẫn thường tưởng nhớ đến ng ài với tình mẹ thương con; nhưng ngày hôm đó v ì ham tưởng lạc thú thiên giới nên bà không nhớ đến ng ài như thường lệ. Các bằng hữu của bà lại bảo bà đ ã đi dự hội họp tr ên thiên giới cho nên đ ã im hơi lặng tiếng.
Bỗng nhiên bà nghĩ đến ng ài đúng lúc ng ài đang bất tỉnh. B à tự nhủ: "Việc gì đ ã xảy ra cho con ta?" và bà nhìn thấy vua Piliyakkha đ ã giết ngài bằng mũi tên tẩm thuốc độc b ên bờ sông Migasammatà, ngài đang nằm tr ên bờ cát, còn nhà vua đang than khóc thảm thiết. "Nếu ta không đến đó th ì con ta sẽ chết, vua sẽ đau đớn lắm, c òn cha mẹ Sà-ma sẽ chết đói, chết khát. Nhưng nếu ta đến, th ì vua sẽ mang bình nước lại cho cha mẹ của con ta. Sau khi nghe họ nói, vua sẽ dẫn họ đến gặp con, rồi ta v à họ sẽ cùng thành tâm thực hiện lời nguyền trang nghiêm để đánh tan chất độc trong thân thể S àma cho con ta sống lại. Cha mẹ của con ta lại được sáng mắt ra v à sau đó khi đ ã nghe Sàma thuyết giảng, vua sẽ làm bố thí lớn và được tái sinh l ên cõi trời, vậy ta phải đi liền". Thế rồi b à đến bờ sông Migasammat à, và tàng hình đứng tr ên không, thuyết Pháp cho vua nghe.
*
Đến đây bậc Đạo Sư ngâm kệ để làm sáng tỏ vấn đề này:
36. Thần nữ ẩn mình giữa cõi không, Ở trên thượng đỉnh của Hương Sơn, Rót v ài câu kệ vào tai nọ, Vì bởi xót thương vị chúa công: 37.- Ngài đ ã tạo ra một ác hành, Tội kia đ è nặng ở trên mình, Mẹ, cha, con thảy đều vô tội, Mũi t ên ngài giết cả gia đ ình. 38. Đến đây ta bảo với ng ài nào: Tìm chỗ trú an nương tựa vào, Cấp dưỡng người mù rừng vắng nọ, Tâm ngài sẽ hạnh phúc dường bao!
Nghe nữ thần dạy bảo, vua tin lời bà ngay rằng nếu đi phụng dưỡng hai kẻ m ù lòa đó, vua sẽ được l ên thiên giới. Vì thế vua quyết định: "Ta c òn cần gì ngai vàng nữa, ta sẽ bỏ đi v à hết lòng phụng dưỡng họ". Sau một hồi tuôn trào lời than khóc, vua cố nén nỗi sầu bi vì cho rằng Sàma đ ã chết thật rồi, vua làm lễ cung kính thi thể ngài với đủ loại hoa thơm, vẩy nước l ên thi thể ngài, đi diễu quanh ba v òng, thân phía bên hữu hướng về thi thể và lễ bái khắp bốn phương. Rồi vua cầm bình nước đ ã được giao v à đi về hướng nam, l òng nặng trĩu u sầu.
Đến đây, bậc Đạo Sư giải thích thêm qua vần kệ:
39. Sau một hồi tuôn lệ khóc than, Thương chàng xấu số nửa chừng xuân, Vua liền tiến lại cầm bình nước, Và hướng mặt đi đến phía nam .
*
Nhà vua vốn là người mạnh khỏe, nên cầm bình nước cương quyết b ăng rừng đến am ẩn sĩ v à cuối cùng cũng đến trước cửa am hiền giả. Hiền giả đang ngồi trong am, nghe tiếng chân người đến gần, phân vân không biết l à ai, liền thốt lên lời kệ:
40. Ta đang nghe các bước chân n ày, Một kẻ nào đi đến lối đây, Không phải tiếng chân S àma bước, Xin nói, thưa ngài, cho lão hay.
Vua nghe nói liền suy nghĩ: "Nếu ta bảo thật cho ông lão biết ta đ ã giết con ông và không nói rõ ta là vua thì họ sẽ phẫn nộ và mắng chửi ta, và lòng sân hận của ta sẽ nổi lên khiến ta xúc phạm đến họ, lại c àng gây thêm tội ác; nhưng thường tình ai gặp vua mà lại không kinh sợ, vậy ta phải nói cho họ biết". Vì thế vua đặt b ình vào đúng chỗ, rồi đứng trước cửa am nói to:
41. Kà-si Chúa tể chính là ta, Tên được gọi l à Pi-yak-kha, Từ giã ngôi vì thèm món thịt, S ăn nai, phi êu bạt chốn rừng già. 42. Có tài thiện xạ chính ta đây, Cương quyết l òng ta chẳng chuyển lay, Chẳng rắn thần nào hòng thoát khỏi, Một khi đ ã đến trong tầm tay!
Lão hiền nhân chào mừng vua với tình thân hữu, và đáp lời:
43. Kính mừng vạn tuế Đấng Quân vương! Hạnh ngộ ng ài đi lạc bước đường, Chúa thượng vinh quang v à vĩ đại, Sứ mạng g ì xin được tỏ tường? 44. Tin-dook, pi-yal, các lá cây, Kà-su-mà trái ngọt ngào thay, Dù còn chỉ ít oi đôi chút, Chọn thứ thiệt ngon có sẵn đây. 45. Nước mát n ày từ dưới động sâu, Ẩn m ình trên một ngọn đồi cao, Kính mời Chúa thượng, xin ng ài ngự, Cầm lấy, uống vào thỏa ước ao.
Vua nghe lời tung hô nọ liền nghĩ: "Nếu ta nói ngay với ông lão rằng ta vừa giết chết con lão thì thật là thất sách. Vậy ta phải khởi đầu câu chuyện như ta chẳng biết g ì cả, rồi sẽ nói sau". Vì thế vua hỏi:
46. Sao ngươi mù lẩn quẩn rừng hoang, Các trái này đây ai đ ã mang? Người ấy phải là người sáng mắt, Hái nhiều loại tích trữ kho hàng .
Lão hiền nhân ngâm hai vần kệ sau cho biết hai vợ chồng lão không đi hái trái m à con trai đ ã mang về:
47. Sà-ma, con trẻ tuổi hoa niên, Tầm thước, đẹp sao mắt ngắm xem, Tóc d ài, đen nhánh quanh đầu nọ, Cứ cuộn tr òn trông thật tự nhiên. 48. Đem trái cây rồi lại bước ra, Vội đi đổ nước đầy b ình ta, Sẽ quay trở lại tức thì đó, Đường đến bờ sôn g cũng chẳng xa.
Vua đáp lời:
49. Sà-ma hiếu tử của hai người, Người tả đẹp sao, tốt tuyệt vời, Ta đ ã giết chàng nằm ở đó, Tóc đen kia nhuộm máu hồng rồi!
Chòi lá của Parikà gần đó, trong lúc b à ngồi nghe giọng nói của vua, bà lo ngại không biết việc gì đ ã xảy ra và khi đi đến gần men theo sợi dây thừng, b à kêu lên:
50. Cho biết là ai, Du-kù-la, Nói rằng con bị giết, Sà-ma, "Sà-ma đ ã chết", đây tin dữ, Như xẻ l àm đôi tim của ta! 51. Như thể chồi cây sung trẻ non, Bị cơn gió mạnh xé l ìa tan, "Sà-ma đ ã chết", nghe tin ấy, Đau khổ l àm ta nát ruột gan.
Lão nhân khuyên nhủ bà:
52. Đây l à Chúa tể nước Kà-si, Cung ác của ngài đ ã giết đi, Con của chúng ta b ên bến nước, Song ta đ ừng có rủa nguyền gì.
Parikà đáp lại:
53. Chỗ dựa, con yêu, độc nhất đời, Trông mong, chờ đợi m ãi không thôi, Sao tâm chứa đủ niềm căm hận, Với kẻ ra tay giết hại người?
Lão nhân nói lớn:
54. Chỗ dựa, con yêu độc nhất đời, Trông mong, chờ đợi m ãi không thôi, Nhưng hiền nhân cấm ta c ăm hận, Với kẻ ra tay giết hại người!
Rồi cả hai ông bà đều lớn tiếng khóc than đấm ngực tán thán công đức của Bồ-tát. Lúc đó vua cố hết sức an ủi hai vị:
55. Thôi đừng khóc nữa, ta van người, Vì trẻ Sà-ma bạc phận rồi, Ta sẽ phụng thờ hai vị mãi, Đừng buồn như thể quá đơn côi. 56. Ta đây th ành thạo với cây cung, Lời hứa ta cương quyết thủy chung, Ta sẽ hầu bên hai vị mãi. Và nuôi hai vị ở trong rừng. 57. Ta sẽ đi t ìm miếng thịt nai, Đủ d ùng củ, rễ, trái cây tươi, Rồi ta hầu hạ bên hai vị, Ta chính gia nô của các người,
Hai ông bà lão liền phản đối vua:
58. Chuyện n ày chẳng phải đạo, Quân vương, Chẳng thích hợp đâu, trái lẽ thường, Ng ài chính là Quân vương hợp pháp, Chúng thần xin đảnh lễ đôi chân.
Khi nghe vậy vua rất hoan hỷ nghĩ thầm: "Thật kỳ diệu thay! Họ đ ã không mở lời hung h ăng trách mắng ta l à kẻ gây tội lỗi, lại còn tiếp đón ta thật ân cần". Rồi vua ngâm kệ:
58. Sơn nhân tuyên bố lẽ công bằng, Tiếp đón như vầy thật chí thân, Ng ài chính từ đây cha của trẫm, V à bà là mẹ của thần dân.
Cả hai ông bà đều cung kính giơ tay l ên trời thỉnh cầu vua.
- Chúng tôi không dám nhờ Đại vương phụng dưỡng, chỉ mong Đại vương cầm đầu cây gậy dẫn chúng tôi đến chỗ S à-ma nằm.
Rồi họ ngâm hai vần kệ:
59. Kà-si Chúa tể thật huy hoàng! Ngài sẽ làm dân tộc phú cường, Xin hãy đưa ta đi đến chỗ, S à-ma yêu quý của ta nằm. 60. Tại đó, ta quỳ xuống dưới chân, Chúng ta sờ mắt, mũi, to àn thân, Chúng ta quyết đợi chờ thần chết, Ki ên nhẫn bên con mãi đến c ùng.
Trong lúc họ đang nói chuyện th ì mặt trời lặn. Vua nghĩ thầm: "Bây giờ nếu ta đưa họ đến đó, họ sẽ tan nát c õi lòng trước cảnh đau thương v à nếu ba mạng người chết vì ta, thì chắc chắn ta sẽ đọa v ào địa ngục. Thôi ta đừng dẫn họ đến đó nữa". Thế rồi vua ngâm ba vần kệ n ày:
61. Một vùng đầy d ã thú s ăn mồi. Như tận c ùng biên giới cõi đời, Chính chỗ S à-ma nằm hiện tại, Như vầng tr ăng rụng xuống trần rồi. 62. Một vùng đầy d ã thú s ăn mồi. Như tận c ùng biên giới cõi đời, Chính chỗ S à-ma nằm hiện tại, Như vầng duong rụng xuống trần rồi.
62. Ở chốn tận cùng của thế gian, Chàng nằm, bụi, máu, phủ lên chàng, Vậy nên ở lại trong am thất, Đừng mạo hiểm trong chốn núi ng àn.
Hai ông bà đáp lời chứng tỏ l òng gan dạ của họ:
64. Mặc loài dã thú phá tan hoang, Hàng vạn triệu con cứ ngập tràn, Ta chẳng sợ đâu bầy d ã thú, Chúng không thể hại đến thân t àn.
Như thế vua không thể ng ăn cản họ được, đ ành phải cầm tay dắt họ đến đó.
Khi đến nơi, vua bảo:
- Con trai của hai vị nằm đây rồi.
Ông lão liền ấp đầu v ào lòng con và bà mẹ gục đầu xuống chân con khóc lóc thảm thiết.
*
Bậc Đạo Sư ngâm kệ n ày để l àm sáng tỏ vấn đề;
65. Lấm bụi và tan nát ruột gan, Vừa nhìn cảnh tượng Sà-ma nằm, Họ quỳ xuống giống như nhìn thấy, Vầng nhật nguyệt rơi rụng xuống trần; Cha mẹ giơ cao đôi tay họ, Khóc than thật thống thiết muôn phần. 66. -Phải chăng con ngủ hỡi S à-ma, Con giận hờn, quên cả mẹ cha? Hãy nói việc gì làm mệt trí, Khiến con nằm chẳng trả lời ta? 67. Ai sẽ, bây giờ, kết tóc ta, Rồi ai sẽ phủi bụi trong nhà, Khi Sà-ma chẳng còn đây nữa , Ở lại chỉ hai kẻ mắt lòa? 68. Ai sẽ quét sàn cho chúng ta, Ai đem nước nóng, lạnh bây giờ, Ai t ìm củ, quả rừng về nữa, Cô độc, gi à, mù cả mẹ cha?
Bà mẹ than khóc đấm ngực hồi lâu, rồi suy xét kỹ nỗi sầu thương của m ình, bà tự nhủ: "Tất cả chuyện đau thương n ày là do con ta bị hôn mê vì chất độc quá mạnh, vậy ta phải th ành khẩn thề nguyền để giải độc cho con". V ì thế bà thực hiện một lời thề Chân lý qua các vần kệ sau:
70. Nếu quả thật là thuở trước đây, S à-ma luôn sống chánh chân đầy, Cầu mong thuốc độc trong d òng máu, Mất hết hiệu n ăng, vô hại ngay. 71. Nếu thuở trước con nói thật chân, Ng ày đ êm lo phụng dưỡng song thân, Cầu mong thuốc độc trong d òng máu, Mất hết công n ăng, hạ xuống dần. 72. Công đức ng ày xưa đ ã tạo ra, Chính ta và cả lão thân gia, Cầu mong giải độc cho tan hết, Con trẻ quý y êu được tỉnh ra.
Sau khi bà trang nghiêm thề nguyền như vậy, Sàma bỗng nghiêng mình và khi ông cha cũng thành khẩn thề nguyền như vậy thì Sàma xoay người sang phía bên kia. Sau đó nữ thần cũng lập lại lời thề nguyền trang nghi êm như vậy.
Bậc Đạo Sư giải thích th êm qua các vần kệ:
73. Thần nữ ẩn mình giữa cõi không, Ở trên thượng đỉnh của Hương Sơn, Thực h ành lời nguyện cầu chân lý, Vì với Sà-ma, dạ xót thương. 74. -Ở đây tr ên thượng đỉnh Hương Sơn Ta đ ã chọn đời sống độc đơn, Trong chốn rừng sâu thăm thẳm ấy Mọi lo ài hoa tỏa ngát hương thơm. 75. Không có một ai giữa thế nhân, Còn thân thiết đối với ta hơn, V ì đây quả thật l à chân chánh, Mong chất độc trong máu thoát dần. 76. Trong khi thương xót họ thay phi ên, Chứng thực trang nghiêm, họ phát nguyền, Kìa thấy Sà-ma vùng đứng dậy, Xinh tươi, cường tráng, thật hồn nhi ên.
Thế là bậc Đại Sĩ đ ã phục hồi khỏi vết trọng thương, cha mẹ ngài lại phục hồi thị giác, bình minh cũng vừa xuất hiện. Các phép lạ ấy xảy ra cùng một lúc tại chốn am tranh nhờ thần lực của tiên nữ. Đôi cha mẹ vui mừng không sao kể xiết khi thấy m ình sáng mắt ra và con trai họ đ ã phục sinh . Lúc ấy Sà-ma ngâm kệ này:
77. Con chính Sà-ma được vạn an, Nh ìn con trước mặt, hãy hân hoan, Hãy lau khô hết đôi d òng lệ, Và đón ch ào con, hạnh phúc tràn. 78. Vạn tuế, cầu mong bậc Đại vương, Phước phần phục vụ lệnh ng ài luôn, Ngài là chúa tể thần dân đó, Ước nguyện g ì xin hãy tỏ tường. 79. Tin-duk, pi-yal, ma-dhuk tươi, Trái cây quý hiếm nhất, xin mời, Dâng lên thượng khách, ngon như mật. Ngài ngự dùng cho thỏa ý ngài 80. Nước mắt đây từ dưới động sâu Ẩn m ình trên một ngọn đồi cao, Suối trong l àm dịu ngay cơn khát, Ngài ngự dùng cho thỏa khát khao.
Vua nhìn cảnh tượng kỳ dịu này liền nói to:
81. Ta lạ lùng kinh ngạc biết bao, Ta không thể nói hướng phương nào, Một giờ trước thấy chàng nằm chết, Nay sống dậy đây thật nhiệm mầu!
Sà-ma nghĩ thầm: "Vua tưởng ta đ ã chết, vậy ta phải giải thích rõ là ta vẫn còn sống" và ngài nói:
82. Một người đầy đủ các công năng, Tình cảm, tâm tư chẳng thoát thân, Vì bất tỉnh là ngưng hoạt động, Người ngo ài tưởng kẻ ấy từ trần.
Rồi muốn cho hiểu rõ ý nghĩa thật sự của chuyện này, ngài ngâm kệ thuyết pháp:
83. Các thế nhân theo Pháp chánh chân, Ch ăm nuôi cha mẹ lúc gian truân, Chư thiên nhìn thấy lòng con hiếu, Và đến chữa l ành các bệnh luôn. 84. Các thế nhân theo Pháp chánh chân, Ch ăm nuôi cha mẹ lúc gian truân, Chư thi ên thế giới này ca tụng, Đời kế c õi thiên hưởng phước phần.
Vua nghe vậy nghĩ thầm: "Thật kỳ diệu thay, ngay cả các thiên thần cũng xuống trần chữa lành bệnh cho người phụng thờ cha mẹ, khi kẻ này bị bệnh hoạn, chàng Sà-ma này thật vinh quang vượt bậc".
Rồi vua ngâm kệ:
85. Ta lạ lùng kinh ngạc biết bao, Ta không thể thấy hướng phương nào, Sà-ma, ta đến nhờ ch àng giúp, Chàng chính là nơi ta trú vào.
Lúc ấy bậc Đại Sĩ nói:
- Tâu Đại vương, nếu Đại vương muốn l ên thiên giới và hưởng an lạc ở đó, th ì Đại vương phải thực h ành Mười phận sự như sau:
Rồi ngài ngâm kệ về vấn đề n ày:
86. Trước tiên là đối với song thân, Ngài phải làm tròn phận sự luôn, Phận sự hoàn thành trên cõi đất, Sẽ đưa ng ài đến c õi Thiên nhân. 87. Đối với vương phi, với các con, Phải l àm tròn phận sự, Quân vương, Phận sự hoàn thành trên cõi đất, Sẽ đưa ng ài đến c õi Thiên nhân. 88. Với thân bằng và các triều thần, Binh sĩ trong tất cả đạo quân, Với các thôn l àng và thị trấn, Giang sơn ngài với mọi tùy tùng. 89. Với người thanh tịnh, Bà-la-môn, Ẩn sĩ, thú, chim, hỡi Chúa công, Phận sự hoàn thành trên cõi đất, Sẽ đưa ng ài đến c õi thiên thần. 90. Phận sự tròn đem lại phước ân, Phạm thi ên, Đế Thích, các thi ên thần, Nhờ làm phận sự đầy an lạc, Vậy phải ho àn thành phận thế nhân.
Sau khi thuyết giảng Thập vương pháp cho vua xong, bậc Đại sĩ c òn thuyết giảng thêm nhiều pháp nữa và dạy vua giữ N ăm giới. Vua cuối đầu tín thọ lời thuyết giảng v à sau khi cung kính từ tạ ra về, liền trở lại Ba-la-nại thực hành đại bố thí c ùng nhiều công đức khác, rồi đi theo nghiệp của m ình cùng với triều thần gia nhập hội chúng thiên giới. Còn Bồ-tát cùng với cha mẹ ngài đều đạt các Thắng trí v à nhiều cấp độ Thiền chứng khác nhau, rồi đi l ên cõi Phạm thiên.
*
Sau khi thuyết giảng xong, bậc Đạo Sư bảo:
- Này các Tỷ-kheo, người hiền phụng dưỡng cha mẹ là một phong tục tối cổ.
Rồi ngài tuyên thuyết các Sự Thật (sau đó vị Tỷ-kheo đắc quả Dự-Lưu) v à nhận diện tiền thân:
- Vào thời ấy, vua là Ànanda (A-nan), nữ thần là Uppalavannà (Liên Hoa Sắc), Thiên chủ Sakka là Anuruddha (A-na-luật- đ à), người cha là Kassapa (Ca-diếp), người mẹ là Bhaddakàpilàni và Sàma chính là Ta.
-ooOoo- Đầu trang | Mục lục | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 | 08 Chân thành cám ơn đạo hữu HT đã giúp đánh máy bản vi tính, và đạo hữu PCC & NQ đã giúp dò soát (Bình Anson, 12-2005).
[ Mục lục Tiểu Bộ ][ Thư Mục Tổng Quát ]
last updated: 02-01-2006
BuddhaSasana Home Page This document is written in Vietnamese, with Unicode Times font
Tiểu Bộ Kinh - Tập IX
Chuyện Tiền Thân Đức Phật (VII)
Giáo sư Trần Phương Lan dịch Việt
Chương XXII Đại Phẩm (tiếp theo)
-ooOoo-
Bản dịch: Trần Phương Lan
Dịch bởi Trần Phương Lan. Trích từ Chuyện Tiền Thân Đức Phật (Jātaka), Tiểu Bộ Kinh. Nguồn: http://www.budsas.net/.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
540. Suvaṇṇasāmajātakaṃ (3)
540. The Suvaṇṇasāma Jātaka
540. Bổn sanh Suvaṇṇasāma (3)
296.
296.
296.
‘‘Ko nu maṃ usunā vijjhi, pamattaṃ udahārakaṃ †;
Khattiyo brāhmaṇo vesso, ko maṃ viddhā nilīyasi.
Who has pierced me with an arrow, while I was heedless and drawing water? Are you a noble, a brahmin, or a merchant? Who are you that, having struck me, now hides?
Ai đã dùng tên bắn ta, khi ta đang xao lãng lấy nước? Là Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, hay Phệ-xá, ai đã bắn ta rồi đang ẩn núp?
297.
297.
297.
‘‘Na me maṃsāni khajjāni, cammenattho na vijjati;
Atha kena nu vaṇṇena, viddheyyaṃ maṃ amaññatha.
My flesh is not to be eaten, nor is there any use for my skin. For what reason, then, did you think I should be shot?
Thịt của ta không thể ăn được, da cũng không có ích lợi gì. Vậy thì vì lý do gì, ngài lại nghĩ rằng nên bắn ta?
298.
298.
298.
‘‘Ko vā tvaṃ kassa vā putto, kathaṃ jānemu taṃ mayaṃ;
Puṭṭho me samma akkhāhi, kiṃ maṃ viddhā nilīyasi’’.
Who are you? Whose son are you? How may we know you? Being asked, good sir, tell me: why, having shot me, do you hide?
Ngươi là ai, là con của ai, làm sao chúng ta có thể biết ngươi? Này bạn, khi được hỏi, hãy nói cho ta biết, tại sao bắn ta rồi lại ẩn núp?
299.
299.
299.
‘‘Rājāhamasmi kāsīnaṃ, pīḷiyakkhoti maṃ vidū;
Lobhā raṭṭhaṃ pahitvāna, migamesaṃ carāmahaṃ.
I am the king of the Kāsīs; they know me as Pīḷiyakkha. Out of greed, having abandoned my kingdom, I roam seeking game.
Ta là vua xứ Kāsi, người ta biết ta là Pīḷiyakkha. Vì tham lam, đã từ bỏ vương quốc, ta đi lang thang để săn thú.
300.
300.
300.
‘‘Issatthe casmi kusalo, daḷhadhammoti vissuto;
Nāgopi me na mucceyya, āgato usupātanaṃ.
I am skilled in archery, renowned as 'Strong-bow.' Not even an elephant could escape me, having come within range of my arrow.
Ta thiện xạ trong thuật bắn cung, nổi tiếng là người có sức mạnh vững chắc. Ngay cả voi cũng không thể thoát khỏi ta, khi đã vào tầm tên bắn.
301.
301.
301.
‘‘Ko vā tvaṃ kassa vā putto †, kathaṃ jānemu taṃ mayaṃ;
Pituno attano cāpi, nāmagottaṃ pavedaya’’.
Who are you? Whose son are you? How may we know you? Declare your own name and lineage, and that of your father.
Ngươi là ai, là con của ai, làm sao chúng ta có thể biết ngươi? Hãy cho biết tên và họ của cha ngươi và của chính ngươi.
302.
302.
302.
‘‘Nesādaputto bhaddante, sāmo iti maṃ ñātayo;
Āmantayiṃsu jīvantaṃ, svajjevāhaṃ gato † saye.
I am the son of a hunter, venerable sir. My kinsmen called me Sāma while I was alive. Today I have gone to my final rest.
Thưa ngài, tôi là con của một người thợ săn, bà con gọi tôi là Sāma. Họ đã gọi tôi như vậy khi tôi còn sống, hôm nay tôi sẽ nằm chết.
303.
303.
303.
‘‘Viddhosmi puthusallena, savisena yathā migo;
Sakamhi lohite rāja, passa semi paripluto.
I am pierced by a broad, poisoned arrow, like a deer. See, O king, how I lie submerged in my own blood.
Tôi đã bị bắn bởi mũi tên rộng, có tẩm thuốc độc, giống như con nai. Thưa đức vua, hãy nhìn xem, tôi đang nằm ngập chìm trong máu của chính mình.
304.
304.
304.
‘‘Paṭivāmagataṃ † sallaṃ, passa dhimhāmi † lohitaṃ;
Āturo tyānupucchāmi, kiṃ maṃ viddhā nilīyasi.
See the arrow lodged in my side; see how I spurt blood. Afflicted, I ask you: why did you strike me and then hide?
Mũi tên đã đâm ngược vào, hãy xem, tôi đang thổi ra máu. Bị bệnh hoạn, tôi hỏi ngài, tại sao bắn ta rồi lại ẩn núp?
305.
305.
305.
‘‘Ajinamhi haññate dīpi, nāgo dantehi haññate;
Atha kena nu vaṇṇena, viddheyyaṃ maṃ amaññatha’’.
The leopard is killed for its skin, the elephant for its tusks. But for what quality did you think that I should be shot?
“Con báo bị giết vì bộ da, con voi bị giết vì cặp ngà; vậy thì vì lý do gì, các người lại nghĩ rằng tôi đáng bị bắn?”
306.
306.
306.
‘‘Migo upaṭṭhito āsi, āgato usupātanaṃ;
Taṃ disvā ubbijī sāma, tena kodho mamāvisi’’.
A deer stood nearby, having come within range of my arrow. Seeing it, Sāma, you were startled, and because of that, anger entered me.
“Có một con nai đã đến, đi vào trong tầm tên bắn. Hỡi Sāma, khi thấy ngươi, nó đã hoảng sợ. Vì thế, cơn giận đã xâm chiếm ta.”
307.
307.
307.
‘‘Yato sarāmi attānaṃ, yato pattosmi viññutaṃ;
Na maṃ migā uttasanti, araññe sāpadānipi.
As long as I can remember myself, since I attained understanding, deer are not afraid of me, nor are any wild beasts in the forest.
“Kể từ khi tôi nhớ được về mình, kể từ khi tôi đạt đến tuổi có trí khôn, các loài nai không hề sợ hãi tôi, cả các loài thú dữ trong rừng cũng vậy.
308.
308.
308.
‘‘Yato nidhiṃ parihariṃ, yato pattosmi yobbanaṃ;
Na maṃ migā uttasanti, araññe sāpadānipi.
Since I have avoided hoarding, since I have attained youth, deer are not afraid of me, nor are any wild beasts in the forest.
“Kể từ khi tôi mang bình nước này, kể từ khi tôi đến tuổi thanh xuân, các loài nai không hề sợ hãi tôi, cả các loài thú dữ trong rừng cũng vậy.
309.
309.
309.
‘‘Bhīrū kimpurisā rāja, pabbate gandhamādane;
Sammodamānā gacchāma, pabbatāni vanāni ca.
O King, we are timid kimpurisas on the Gandhamādana mountain; rejoicing, we go through mountains and forests.
“Tâu Đại vương, các vị Khẩn-na-la nhút nhát trên núi Hương Sơn, chúng tôi đi lại trong niềm hoan hỷ qua các ngọn núi và các khu rừng.
310.
310.
310.
(‘‘Na maṃ migā uttasanti, araññe sāpadānipi;) †
Atha kena nu vaṇṇena, utrāsanti migā mamaṃ’’ †.
No wild animals are frightened of me, nor beasts of prey in the forest; then for what reason do the wild animals take fright at me?
“(Các loài nai không hề sợ hãi tôi, cả các loài thú dữ trong rừng cũng vậy;) Vậy thì vì lý do gì, các loài nai lại sợ hãi tôi?”
311.
311.
311.
‘‘Na taṃ tasa † migo sāma, kiṃ tāhaṃ alikaṃ bhaṇe;
Kodhalobhābhibhūtāhaṃ, usuṃ te taṃ avassajiṃ †.
No wild animal was afraid of you, Sāma—why should I speak falsely to you? Overcome by anger and greed, I released that arrow at you.
“Hỡi Sāma, con nai đã không sợ ngươi, tại sao ta lại phải nói dối? Ta đã bị sân và tham chinh phục, nên đã bắn mũi tên ấy vào ngươi.”
312.
312.
312.
‘‘Kuto nu sāma āgamma, kassa vā pahito tuvaṃ;
Udahāro nadiṃ gaccha, āgato migasammataṃ’’.
From where have you come, Sāma? Or by whom were you sent? You go to the river as a water-carrier, you who are esteemed by the wild animals.
“Hỡi Sāma, ngươi từ đâu đến, hay ngươi là sứ giả của ai? Ngươi đi đến sông để lấy nước, đã đến bến nước quen thuộc của loài nai.”
313.
313.
313.
‘‘Andhā mātāpitā mayhaṃ, te bharāmi brahāvane;
Tesāhaṃ udakāhāro, āgato migasammataṃ.
My mother and father are blind; I support them in the great forest. For them I am a carrier of water; I have come to the river, esteemed by the wild animals.
“Cha mẹ của tôi bị mù, tôi phụng dưỡng các vị ấy trong khu rừng lớn. Tôi là người lấy nước cho các vị ấy, nên đã đến bến nước quen thuộc của loài nai.
314.
314.
314.
‘‘Atthi nesaṃ usāmattaṃ, atha sāhassa jīvitaṃ;
Udakassa alābhena, maññe andhā marissare.
Though they have perseverance, their life is precarious; through lack of water, I think the blind ones will die.
“Các vị ấy phụ thuộc vào tôi, và mạng sống của họ cũng thế. Vì không có được nước, tôi nghĩ rằng hai vị mù sẽ chết.
315.
315.
315.
‘‘Na me idaṃ tathā dukkhaṃ, labbhā hi pumunā idaṃ;
Yañca ammaṃ na passāmi, taṃ me dukkhataraṃ ito.
This is not so much my sorrow, for this can be obtained by a person; but that I will not see my mother—that is a greater sorrow to me than this.
“Nỗi đau này của tôi không đến thế, vì điều này có thể xảy đến cho một người; nhưng việc tôi không được thấy mẹ, điều đó đối với tôi còn đau khổ hơn thế này.
316.
316.
316.
‘‘Na me idaṃ tathā dukkhaṃ, labbhā hi pumunā idaṃ;
Yañca tātaṃ na passāmi, taṃ me dukkhataraṃ ito.
This is not so much my sorrow, for this can be obtained by a person; but that I will not see my father—that is a greater sorrow to me than this.
“Nỗi đau này của tôi không đến thế, vì điều này có thể xảy đến cho một người; nhưng việc tôi không được thấy cha, điều đó đối với tôi còn đau khổ hơn thế này.
317.
317.
317.
‘‘Sā nūna kapaṇā ammā, cirarattāya rucchati †;
Aḍḍharatteva ratte vā, nadīva avasucchati †.
Surely my poor mother will grieve for a long time; she will waste away like a river drying up at midnight or at dawn.
“Chắc chắn người mẹ đáng thương của tôi sẽ đau buồn trong đêm dài; vào lúc nửa đêm hay trong đêm, mẹ sẽ khô héo như dòng sông cạn.
318.
318.
318.
‘‘So nūna kapaṇo tāto, cirarattāya rucchati †;
Aḍḍharatteva ratte vā, nadīva avasucchati †.
Surely my poor father will grieve for a long time; he will waste away like a river drying up at midnight or at dawn.
“Chắc chắn người cha đáng thương của tôi sẽ đau buồn trong đêm dài; vào lúc nửa đêm hay trong đêm, cha sẽ khô héo như dòng sông cạn.
319.
319.
319.
‘‘Uṭṭhānapādacariyāya †, pādasambāhanassa ca;
Sāma tāta vilapantā, hiṇḍissanti brahāvane.
My mother and father will wander the great forest, lamenting for Sāma, for his help in rising and walking, and for the massaging of their feet.
“Vì việc đứng dậy, đi lại, và xoa bóp chân, (cha mẹ tôi) sẽ lang thang trong khu rừng lớn, vừa đi vừa than khóc: ‘Sāma, con ơi!’
320.
320.
320.
‘‘Idampi dutiyaṃ sallaṃ, kampeti hadayaṃ mamaṃ;
Yañca andhe na passāmi, maññe hissāmi † jīvitaṃ’’.
This second dart also makes my heart tremble: that I will not see the blind ones. I think I shall lose my life.
“Mũi tên thứ hai này làm rung động trái tim tôi: đó là việc không được thấy hai vị mù (cha mẹ). Tôi nghĩ rằng tôi sẽ từ bỏ mạng sống.”
321.
321.
321.
‘‘Mā bāḷhaṃ paridevesi, sāma kalyāṇadassana;
Ahaṃ kammakaro hutvā, bharissaṃ te brahāvane.
Do not lament so much, Sāma, you who are fair to behold; becoming their servant, I will support them in the great forest.
“Hỡi Sāma có dung mạo hiền thiện, ngươi đừng than khóc quá nhiều. Ta sẽ trở thành người phục vụ, phụng dưỡng cha mẹ ngươi trong khu rừng lớn.
322.
322.
322.
‘‘Issatthe casmi kusalo, daḷhadhammoti vissuto;
Ahaṃ kammakaro hutvā, bharissaṃ te brahāvane.
I am skilled in archery and renowned as 'Strongbow'; becoming a servant, I will support them in the great forest.
“Ta cũng là người thiện xạ, và nổi tiếng là người có cây cung vững chắc. Ta sẽ trở thành người phục vụ, phụng dưỡng cha mẹ ngươi trong khu rừng lớn.
323.
323.
323.
‘‘Migānaṃ † vighāsamanvesaṃ, vanamūlaphalāni ca;
Ahaṃ kammakaro hutvā, bharissaṃ te brahāvane.
Searching for the food of wild animals, and for forest roots and fruits, I, becoming a servant, will support them in the great forest.
“Ta sẽ tìm kiếm thức ăn thừa của loài nai, và các loại rễ cây, trái cây trong rừng. Ta sẽ trở thành người phục vụ, phụng dưỡng cha mẹ ngươi trong khu rừng lớn.
324.
324.
324.
‘‘Katamaṃ taṃ vanaṃ sāma, yattha mātāpitā tava;
Ahaṃ te tathā bharissaṃ, yathā te abharī tuvaṃ’’.
Which is that forest, Sāma, where your mother and father dwell? I will support them in the same way that you supported them.
“Hỡi Sāma, khu rừng ấy là nơi nào, nơi có cha mẹ của ngươi? Ta sẽ phụng dưỡng các vị ấy đúng như cách mà ngươi đã từng phụng dưỡng.”
325.
325.
325.
‘‘Ayaṃ ekapadī rāja, yoyaṃ ussīsake mama;
Ito gantvā aḍḍhakosaṃ, tattha nesaṃ agārakaṃ;
Yattha mātāpitā mayhaṃ, te bharassu ito gato.
This single-file path, O King, is the one at my head. Go half a league from here, and there is their dwelling. Where my mother and father are, go from here and support them.
“Tâu Đại vương, đây là con đường mòn, ở phía đầu của tôi đây. Từ đây đi khoảng nửa dặm, ở đó có ngôi nhà nhỏ của các vị ấy. Nơi có cha mẹ của tôi, sau khi đi từ đây, xin ngài hãy phụng dưỡng các vị ấy.
326.
326.
326.
‘‘Namo te kāsirājatthu, namo te kāsivaḍḍhana;
Andhā mātāpitā mayhaṃ, te bharassu brahāvane.
Homage be to you, King of Kāsi; homage be to you, increaser of Kāsi. My mother and father are blind; support them in the great forest.
“Xin kính lễ ngài, đức vua xứ Kāsi! Xin kính lễ ngài, người làm hưng thịnh xứ Kāsi! Cha mẹ của tôi bị mù, xin ngài hãy phụng dưỡng các vị ấy trong khu rừng lớn.
327.
327.
327.
‘‘Añjaliṃ te paggaṇhāmi, kāsirāja namatthu te;
Mātaraṃ pitaraṃ mayhaṃ, vutto vajjāsi vandanaṃ’’.
I raise my joined palms to you in reverence, O King of Kāsi, homage be to you; please convey my respects to my mother and father.
“Tôi xin chắp tay lạy ngài, hỡi vua xứ Kāsi, xin kính lễ ngài. Xin ngài hãy thay lời tôi đảnh lễ mẹ và cha của tôi.”
328.
328.
328.
‘‘Idaṃ vatvāna so sāmo, yuvā kalyāṇadassano;
Mucchito visavegena, visaññī samapajjatha.
Having spoken thus, that Sāma, young and fair to behold, overcome by the venom’s force, fell unconscious.
“Sau khi nói điều này, Sāma, người thanh niên có dung mạo hiền thiện, đã bị ngất đi vì sức mạnh của chất độc và trở nên bất tỉnh.
329.
329.
329.
‘‘Sa rājā paridevesi, bahuṃ kāruññasañhitaṃ;
Ajarāmarohaṃ āsiṃ, ajjetaṃ ñāmi † no pure;
Sāmaṃ kālaṅkataṃ disvā, natthi maccussa nāgamo.
That king lamented much, filled with compassion: 'I thought myself ageless and immortal; today I know what I did not know before. Having seen Sāma dead, I know there is no escape from death for a mortal.'
“Vị vua ấy đã than khóc rất nhiều lời bi thương: ‘Ta đã từng nghĩ ta không già, không chết; hôm nay ta mới biết điều này, trước đây thì không. Khi thấy Sāma đã chết, (ta biết rằng) không ai tránh khỏi được cái chết.’
330.
330.
330.
‘‘Yassu maṃ paṭimanteti, savisena samappito;
Svajjevaṃ gate kāle, na kiñci mabhibhāsati.
He who was speaking with me, though afflicted with poison, now that his time has passed, speaks not a word to me.
“Người mà đã trò chuyện với ta, dù bị trúng tên độc; hôm nay, khi thời gian trôi qua, lại không nói với ta một lời nào.
331.
331.
331.
‘‘Nirayaṃ nūna gacchāmi, ettha me natthi saṃsayo;
Tadā hi pakataṃ pāpaṃ, cirarattāya kibbisaṃ.
Surely I am going to hell, of this I have no doubt; for I have done an evil deed, a transgression that will bring suffering for a long time.
“Chắc chắn ta sẽ đi đến địa ngục, về điều này ta không có nghi ngờ. Vì tội ác đã được tạo ra khi ấy, là lỗi lầm cho muôn kiếp về sau.
332.
332.
332.
‘‘Bhavanti tassa vattāro, gāme kibbisakārako;
Araññe nimmanussamhi, ko maṃ vattumarahati.
For a wrongdoer in a village, there are those who will speak out; but in this unpeopled forest, who is there to reproach me?
“Đối với kẻ làm điều ác ở trong làng, có những người nói về kẻ ấy. (Nhưng) trong khu rừng không có người này, ai có thể nói về ta?
333.
333.
333.
‘‘Sārayanti hi kammāni, gāme saṃgaccha māṇavā;
Araññe nimmanussamhi, ko nu maṃ sārayissati’’.
When young men gather in a village, they call deeds to mind; but in this unpeopled forest, who now will call me to account?
“Khi các thanh niên tụ tập trong làng, họ nhắc nhở nhau về các hành vi. (Nhưng) trong khu rừng không có người này, ai sẽ nhắc nhở ta đây?”
334.
334.
334.
‘‘Sā devatā antarahitā, pabbate gandhamādane;
Raññova anukampāya, imā gāthā abhāsatha.
Then a deity, invisible on the Gandhamādana mountain, out of compassion for the king, spoke these verses:
Vị nữ thần ẩn mình trên núi Hương Sơn, vì lòng bi mẫn đối với đức vua, đã nói lên những câu kệ này.
335.
335.
335.
‘‘Āguṃ kira mahārāja, akari † kamma dukkaṭaṃ;
Adūsakā pitāputtā, tayo ekūsunā hatā.
Indeed, great king, you have committed a fault, a wicked deed; an innocent son and his parents—three persons—are slain by a single arrow.
“Tâu Đại vương, quả thật ngài đã phạm lỗi, đã làm một hành động xấu xa; Cha mẹ và con, ba người vô tội, đã bị giết bởi một mũi tên.”
336.
336.
336.
‘‘Ehi taṃ anusikkhāmi, yathā te sugatī siyā;
Dhammenandhe vane posa, maññehaṃ sugatī tayā.
Come, I shall instruct you, so that you may have a good destination; support the blind ones in the forest according to Dhamma, and I believe you will attain a good destination.
“Hãy lại đây, tôi sẽ chỉ dạy cho ngài, để ngài có thể được sanh về cõi lành. Hãy nuôi dưỡng những người mù trong rừng một cách đúng pháp, tôi nghĩ rằng ngài sẽ được sanh về cõi lành.”
337.
337.
337.
‘‘Sa rājā paridevitvā, bahuṃ kāruññasañhitaṃ;
Udakakumbhamādāya, pakkāmi dakkhiṇāmukho.
That king, after lamenting much, filled with compassion, took the water pot and departed facing south.
Vị vua ấy, sau khi than khóc rất nhiều với lòng bi mẫn, đã lấy bình nước và ra đi, mặt hướng về phương nam.
338.
338.
338.
‘‘Kassa nu eso padasaddo, manussasseva āgato;
Neso sāmassa nigghoso, ko nu tvamasi mārisa.
Whose footstep is this, that sounds like a human approaching? This is not the sound of Sāma—who are you, good sir?
“Tiếng bước chân này là của ai vậy, dường như của một người đang đến? Đây không phải là tiếng động của Sāma. Thưa ngài, ngài là ai vậy?”
339.
339.
339.
‘‘Santañhi sāmo vajati, santaṃ pādāni neyati †;
Neso sāmassa nigghoso, ko nu tvamasi mārisa’’.
For Sāma walks quietly, he places his feet quietly; this is not the sound of Sāma—who are you, good sir?
“Vì Sāma đi lại nhẹ nhàng, chàng đặt chân xuống một cách nhẹ nhàng. Đây không phải là tiếng động của Sāma. Thưa ngài, ngài là ai vậy?”
340.
340.
340.
‘‘Rājāhamasmi kāsīnaṃ, pīḷiyakkhoti maṃ vidū;
Lobhā raṭṭhaṃ pahitvāna, migamesaṃ carāmahaṃ.
I am the king of the Kāsīs; they know me as Pīḷiyakkha. Out of desire for the hunt, I have left my kingdom and now roam in search of game.
“Ta là vua của xứ Kāsi, người ta biết ta là Pīḷiyakkha. Vì tham lam, từ bỏ vương quốc, ta đi lang thang tìm kiếm thú săn.”
341.
341.
341.
‘‘Issatthe casmi kusalo, daḷhadhammoti vissuto;
Nāgopi me na mucceyya, āgato usupātanaṃ’’.
I am skilled in archery and renowned as 'Strongbow'; not even an elephant can escape me, once it comes within range of my arrow.
“Và ta thiện xạ trong thuật bắn cung, nổi tiếng là người có cây cung vững chắc. Ngay cả một con voi cũng không thể thoát khỏi ta, khi đã vào tầm tên bắn.”
342.
342.
342.
‘‘Svāgataṃ te mahārāja, atho te adurāgataṃ;
Issarosi anuppatto, yaṃ idhatthi pavedaya.
Welcome to you, great king, and your arrival is most welcome. You are the lord here, now that you have arrived; command whatever we have here.
“Xin chào mừng ngài, tâu Đại vương, và ngài đã đến đây thật may mắn. Ngài là bậc chúa tể đã đến đây, có thứ gì ở đây, xin ngài cứ cho biết.”
343.
343.
343.
‘‘Tindukāni piyālāni, madhuke kāsumāriyo;
Phalāni khuddakappāni, bhuñja rāja varaṃ varaṃ.
There are tinduka fruits, piyālas, madhukas, and kāsumārīs; these are fruits of a humble sort. Eat, O King, the very best of them.
“Có trái thị, trái piyāla, trái madhuka, trái kāsumāri, và những loại trái cây nhỏ khác. Tâu Đại vương, xin mời ngài dùng những thứ tốt nhất.”
344.
344.
344.
‘‘Idampi pānīyaṃ sītaṃ, ābhataṃ girigabbharā;
Tato piva mahārāja, sace tvaṃ abhikaṅkhasi’’.
Here also is cool water, brought from a mountain cavern; drink from it, great king, if you so desire.
“Và đây là nước uống mát lạnh, được mang về từ hang núi. Tâu Đại vương, xin mời ngài uống, nếu ngài mong muốn.”
345.
345.
345.
‘‘Nālaṃ andhā vane daṭṭhuṃ, ko nu vo phalamāhari;
Anandhassevayaṃ sammā, nivāpo mayha khāyati’’.
The blind are not able to see in the forest; who then brought you fruit? This provision truly seems to me to be for one who is not blind.
“Người mù không thể thấy đường trong rừng, vậy ai đã mang trái cây về cho hai vị? Đối với tôi, dường như đây là sự sắp đặt của một người không bị mù.”
346.
346.
346.
‘‘Daharo yuvā nātibrahā, sāmo kalyāṇadassano;
Dīghassa kesā asitā, atho sūnagga † vellitā.
A young man, a youth not overly large, Sāma, fair to behold; his long hair is black, and curled at the tips.
“Đó là một chàng trai trẻ, không quá to lớn, tên là Sāma, có ngoại hình đáng mến. Mái tóc của chàng dài và đen, với những lọn tóc xoăn ở ngọn.”
347.
347.
347.
‘‘So have phalamāharitvā, ito ādāya † kamaṇḍaluṃ;
Nadiṃ gato udahāro, maññe na dūramāgato’’.
Having gathered fruit and taken the water pot from here, he has gone to the river for water; I think he will not be long.
“Chính chàng đã mang trái cây về, rồi từ đây lấy bình nước, đã đi ra sông để lấy nước. Tôi nghĩ chàng chưa đi xa.”
348.
348.
348.
‘‘Ahaṃ taṃ avadhiṃ sāmaṃ, yo tuyhaṃ paricārako;
Yaṃ kumāraṃ pavedetha, sāmaṃ kalyāṇadassanaṃ.
I have slain Sāma, who was your attendant; the youth, fair to behold, whom you described.
“Ta đã giết Sāma đó, người phục vụ cho hai vị, chàng trai mà hai vị đã mô tả, Sāma có ngoại hình đáng mến.”
349.
349.
349.
‘‘Dīghassa kesā asitā, atho sūnaggavellitā;
Tesu lohitalittesu, seti sāmo mayā hato’’.
Long were his hairs, black, and curled at the tips; among them, smeared with blood, lies Sāma, slain by me.
“Mái tóc của chàng dài và đen, với những lọn tóc xoăn ở ngọn. Trên mái tóc ấy dính đầy máu, Sāma nằm đó, đã bị ta giết.”
350.
350.
350.
‘‘Kena dukūlamantesi, hato sāmoti vādinā;
Hato sāmoti sutvāna, hadayaṃ me pavedhati.
Why do you lament, saying, 'Sāma is slain'? Hearing 'Sāma is slain,' my heart trembles.
“Hỡi người nói rằng ‘Sāma đã bị giết’, sao ngài lại nói lời đau khổ như vậy? Nghe rằng Sāma đã bị giết, tim tôi run rẩy.”
351.
351.
351.
‘‘Assatthasseva taruṇaṃ, pavāḷaṃ māluteritaṃ;
Hato sāmoti sutvāna, hadayaṃ me pavedhati’’.
Like a tender shoot of the Assattha tree stirred by the wind, hearing 'Sāma is slain,' my heart trembles.
“Như một chồi non của cây bồ đề, bị gió lay động, nghe rằng Sāma đã bị giết, tim tôi run rẩy.”
352.
352.
352.
‘‘Pārike kāsirājāyaṃ, so sāmaṃ migasammate;
Kodhasā usunā vijjhi, tassa mā pāpamicchimhā’’.
O Pārika, this king of Kāsi pierced Sāma, who was considered a deer, with an arrow in anger; let us not wish evil upon him.
“Này Pārikā, đây là vua xứ Kāsi. Ông ấy, vì tưởng Sāma là một con nai, đã bắn bằng mũi tên trong cơn giận. Chúng ta chớ có ác ý với ông ấy.”
353.
353.
353.
‘‘Kicchā laddho piyo putto, yo andhe abharī vane;
Taṃ ekaputtaṃ ghātimhi, kathaṃ cittaṃ na kopaye’’.
A dear son, obtained with difficulty, who supported us blind in the forest; I have slain that only son—how could my heart not be angered?
“Đứa con trai yêu quý, khó khăn lắm mới có được, người đã nuôi dưỡng cha mẹ mù trong rừng; đối với kẻ đã giết đứa con độc nhất ấy, làm sao tâm không tức giận cho được?”
354.
354.
354.
‘‘Kicchā laddho piyo putto, yo andhe abharī vane;
Taṃ ekaputtaṃ ghātimhi, akkodhaṃ āhu paṇḍitā’’.
A dear son, obtained with difficulty, who supported the blind in the forest; you have slain that only son, yet the wise praise non-anger.
“Đứa con trai yêu quý, khó khăn lắm mới có được, người đã nuôi dưỡng cha mẹ mù trong rừng; đối với kẻ đã giết đứa con độc nhất ấy, bậc hiền trí nói rằng không nên tức giận.”
355.
355.
355.
‘‘Mā bāḷhaṃ paridevetha, hato sāmoti vādinā;
Ahaṃ kammakaro hutvā, bharissāmi brahāvane.
Do not lament excessively, saying, 'Sāma is slain.' I will become your servant and support you in this great forest.
“Xin hai vị chớ than khóc quá nhiều, nói rằng ‘Sāma đã bị giết’. Ta sẽ trở thành người phục vụ, sẽ nuôi dưỡng hai vị trong khu rừng lớn này.”
356.
356.
356.
‘‘Issatthe casmi kusalo, daḷhadhammoti vissuto;
Ahaṃ kammakaro hutvā, bharissāmi brahāvane.
I am skilled in archery, and famed as 'Firm in the Dhamma'; I will become your servant and support you in this great forest.
“Ta thiện xạ trong thuật bắn cung, nổi tiếng là người có cây cung vững chắc. Ta sẽ trở thành người phục vụ, sẽ nuôi dưỡng hai vị trong khu rừng lớn này.”
357.
357.
357.
‘‘Migānaṃ vighāsamanvesaṃ, vanamūlaphalāni ca;
Ahaṃ kammakaro hutvā, bharissāmi brahāvane’’.
Seeking the fodder of wild beasts, and the roots and fruits of the forest, I will become your servant and support you in this great forest.
“Tìm kiếm thức ăn thừa của thú rừng, và các loại củ, quả trong rừng, ta sẽ trở thành người phục vụ, sẽ nuôi dưỡng hai vị trong khu rừng lớn này.”
358.
358.
358.
‘‘Nesa dhammo mahārāja, netaṃ amhesu kappati;
Rājā tvamasi amhākaṃ, pāde vandāma te mayaṃ’’.
This is not the Dhamma, great king, this is not proper for us; you are our king—we bow at your feet.
“Tâu Đại vương, đó không phải là chánh pháp, điều đó không thích hợp với chúng tôi. Ngài là vua của chúng tôi, chúng tôi xin đảnh lễ dưới chân ngài.”
359.
359.
359.
‘‘Dhammaṃ nesāda bhaṇatha, katā apacitī tayā;
Pitā tvamasi † amhākaṃ, mātā tvamasi pārike’’.
You speak righteously, O forest-dwellers; reverence has been shown by you. You are our father, and you, Pārikā, are our mother.
“Này người thợ săn, ông nói đúng pháp, sự tôn kính đã được ông thể hiện. Ông là cha của tôi, và bà Pārikā, bà là mẹ của tôi.”
360.
360.
360.
‘‘Namo te kāsirājatthu, namo te kāsivaḍḍhana;
Añjaliṃ te paggaṇhāma, yāva sāmānupāpaya.
Homage to you, O king of Kāsi, homage to you, O increaser of Kāsi; we raise our joined palms to you, please lead us to Sāma.
“Xin kính lễ ngài, vua xứ Kāsi, xin kính lễ ngài, người làm hưng thịnh xứ Kāsi. Chúng tôi xin chắp tay lạy ngài, xin hãy dẫn chúng tôi đến chỗ Sāma.”
361.
361.
361.
‘‘Tassa pāde samajjantā †, mukhañca bhujadassanaṃ;
Saṃsumbhamānā attānaṃ, kālamāgamayāmase’’.
Stroking his feet, gazing upon his face and arms, and embracing him, we shall await our death.
“Vuốt ve đôi chân, khuôn mặt và cánh tay đáng nhìn của con, ôm lấy thân mình của con, chúng tôi sẽ chờ đợi cái chết.”
362.
362.
362.
‘‘Brahā vāḷamigākiṇṇaṃ, ākāsantaṃva dissati;
Yattha sāmo hato seti, candova patito chamā.
The great forest, teeming with wild beasts, appears like the sky; where Sāma lies slain, like the moon fallen to earth.
“Khu rừng lớn đầy dẫy thú dữ, trông như bầu trời. Nơi Sāma nằm chết, như mặt trăng rơi xuống đất.”
363.
363.
363.
‘‘Brahā vāḷamigākiṇṇaṃ, ākāsantaṃva dissati;
Yattha sāmo hato seti, sūriyova patito chamā.
The great forest, teeming with wild beasts, appears like the sky; where Sāma lies slain, like the sun fallen to earth.
“Khu rừng lớn đầy dẫy thú dữ, trông như bầu trời. Nơi Sāma nằm chết, như mặt trời rơi xuống đất.”
364.
364.
364.
‘‘Brahā vāḷamigākiṇṇaṃ, ākāsantaṃva dissati;
Yattha sāmo hato seti, paṃsunā patikuntito †.
The great forest, teeming with wild beasts, appears like the sky; where Sāma lies slain, covered with dust.
“Khu rừng lớn đầy dẫy thú dữ, trông như bầu trời. Nơi Sāma nằm chết, bị bụi đất bao phủ.”
365.
365.
365.
‘‘Brahā vāḷamigākiṇṇaṃ, ākāsantaṃva dissati;
Yattha sāmo hato seti, idheva vasathassame’’.
The great forest, teeming with wild beasts, appears like the sky; where Sāma lies slain, right there shall be our hermitage.
‘Khu rừng lớn đầy dẫy thú dữ, trông như trống không; Nơi Sāma nằm chết, hãy ở lại ngay tại am thất này’.
366.
366.
366.
‘‘Yadi tattha sahassāni, satāni niyutāni † ca;
Nevamhākaṃ bhayaṃ koci, vane vāḷesu vijjati’’.
Even if there were thousands, hundreds, or myriads there, we would have no fear of any wild beasts in the forest.
‘Dầu cho ở nơi ấy có hàng ngàn, hàng trăm, hàng vạn (thú dữ); Chúng tôi không có bất cứ sự sợ hãi nào về các loài thú dữ ở trong rừng’.
367.
367.
367.
‘‘Tato andhānamādāya, kāsirājā brahāvane;
Hatthe gahetvā pakkāmi, yattha sāmo hato ahu.
Then the king of Kāsi, taking the blind ones, led them by the hand into the great forest, to where Sāma had been slain.
Khi ấy, vua xứ Kāsi dẫn dắt những người mù, nắm tay họ đi vào khu rừng lớn, đến nơi Sāma đã bị giết.
368.
368.
368.
‘‘Disvāna patitaṃ sāmaṃ, puttakaṃ paṃsukunthitaṃ;
Apaviddhaṃ brahāraññe, candaṃva patitaṃ chamā.
Seeing Sāma fallen, their dear son covered in dust, cast away in the great forest, like the moon fallen to earth.
Sau khi nhìn thấy đứa con trai bé bỏng Sāma bị ngã xuống, thân vấy bụi, bị vất bỏ trong khu rừng lớn, giống như mặt trăng rơi xuống đất.
369.
369.
369.
‘‘Disvāna patitaṃ sāmaṃ, puttakaṃ paṃsukunthitaṃ;
Apaviddhaṃ brahāraññe, sūriyaṃva patitaṃ chamā.
Seeing Sāma fallen, their dear son covered in dust, cast away in the great forest, like the sun fallen to earth.
Sau khi nhìn thấy đứa con trai bé bỏng Sāma bị ngã xuống, thân vấy bụi, bị vất bỏ trong khu rừng lớn, giống như mặt trời rơi xuống đất.
370.
370.
370.
‘‘Disvāna patitaṃ sāmaṃ, puttakaṃ paṃsukunthitaṃ;
Apaviddhaṃ brahāraññe, kalūnaṃ † paridevayuṃ.
Seeing Sāma fallen, their dear son covered in dust, cast away in the great forest, they lamented piteously.
Sau khi nhìn thấy đứa con trai bé bỏng Sāma bị ngã xuống, thân vấy bụi, bị vất bỏ trong khu rừng lớn, họ đã than khóc một cách bi thương.
371.
371.
371.
‘‘Disvāna patitaṃ sāmaṃ, puttakaṃ paṃsukunthitaṃ;
Bāhā paggayha pakkanduṃ, adhammo kira bho iti.
Seeing Sāma fallen, their dear son covered in dust, they raised their arms and cried out, 'Truly, this is unrighteousness!'
Sau khi nhìn thấy đứa con trai bé bỏng Sāma bị ngã xuống, thân vấy bụi, họ giơ hai tay lên và kêu khóc rằng: ‘Ôi, quả thật là phi pháp’.
372.
372.
372.
‘‘Bāḷhaṃ kho tvaṃ pamattosi, sāma kalyāṇadassana;
Yo ajjevaṃ † gate kāle, na kiñci mabhibhāsasi.
Surely you are deeply heedless, Sāma of lovely appearance, that at such a time as this, you say nothing to me.
‘Này Sāma có dung sắc xinh đẹp, con quả thật quá lơ đãng; Vào lúc như thế này hôm nay, con không nói gì với cha mẹ cả.
373.
373.
373.
‘‘Bāḷhaṃ kho tvaṃ padittosi, sāma kalyāṇadassana;
Yo ajjevaṃ gate kāle, na kiñci mabhibhāsasi.
Surely you are burning with pain, Sāma of lovely appearance, that at such a time as this, you say nothing to me.
‘Này Sāma có dung sắc xinh đẹp, con quả thật đang bừng cháy; Vào lúc như thế này hôm nay, con không nói gì với cha mẹ cả.
374.
374.
374.
‘‘Bāḷhaṃ kho tvaṃ pakuddhosi, sāma kalyāṇadassana;
Yo ajjevaṃ gate kāle, na kiñci mabhibhāsasi.
Surely you are very angry, Sāma of lovely appearance, that at such a time as this, you say nothing to me.
‘Này Sāma có dung sắc xinh đẹp, con quả thật đang tức giận; Vào lúc như thế này hôm nay, con không nói gì với cha mẹ cả.
375.
375.
375.
‘‘Bāḷhaṃ kho tvaṃ pasuttosi, sāma kalyāṇadassana;
Yo ajjevaṃ gate kāle, na kiñci mabhibhāsasi.
Surely you are fast asleep, Sāma of lovely appearance, that at such a time as this, you say nothing to me.
‘Này Sāma có dung sắc xinh đẹp, con quả thật đang ngủ say; Vào lúc như thế này hôm nay, con không nói gì với cha mẹ cả.
376.
376.
376.
‘‘Bāḷhaṃ kho tvaṃ vimanosi, sāma kalyāṇadassana;
Yo ajjevaṃ gate kāle, na kiñci mabhibhāsasi.
Surely you are deeply distressed, Sāma of lovely appearance, that at such a time as this, you say nothing to me.
‘Này Sāma có dung sắc xinh đẹp, con quả thật đang buồn rầu; Vào lúc như thế này hôm nay, con không nói gì với cha mẹ cả.
377.
377.
377.
‘‘Jaṭaṃ valinaṃ paṃsugataṃ †, ko dāni saṇṭhapessati †;
Sāmo ayaṃ kālaṅkato, andhānaṃ paricārako.
Who now will arrange my matted, wrinkled, dust-covered hair? This Sāma is dead, the attendant of the blind.
‘Ai bây giờ sẽ sửa soạn búi tóc bện, nhăn nheo, và dính bụi này? Sāma này, người phục vụ cho cha mẹ mù lòa, đã qua đời.
378.
378.
378.
‘‘Ko me sammajjamādāya †, sammajjissati assamaṃ;
Sāmo ayaṃ kālaṅkato, andhānaṃ paricārako.
Who, taking the broom, will sweep the hermitage for me? This Sāma is dead, the attendant of the blind.
‘Ai bây giờ sẽ cầm chổi quét dọn am thất cho ta? Sāma này, người phục vụ cho cha mẹ mù lòa, đã qua đời.
379.
379.
379.
‘‘Ko dāni nhāpayissati, sītenuṇhodakena ca;
Sāmo ayaṃ kālaṅkato, andhānaṃ paricārako.
Who now will bathe me with cool and warm water? This Sāma has passed away, the attendant of the blind.
‘Ai bây giờ sẽ tắm cho (chúng ta) bằng nước lạnh và nước nóng? Sāma này, người phục vụ cho cha mẹ mù lòa, đã qua đời.
380.
380.
380.
‘‘Ko dāni bhojayissati, vanamūlaphalāni ca;
Sāmo ayaṃ kālaṅkato, andhānaṃ paricārako’’.
Who now will feed me with roots and fruits from the forest? This Sāma is dead, the attendant of the blind.
‘Ai bây giờ sẽ cho (chúng ta) ăn các loại củ và quả trong rừng? Sāma này, người phục vụ cho cha mẹ mù lòa, đã qua đời’.
381.
381.
381.
‘‘Disvāna patitaṃ sāmaṃ, puttakaṃ paṃsukunthitaṃ;
Aṭṭitā puttasokena, mātā saccaṃ abhāsatha.
Having seen Sāma fallen, her dear son covered in dust, afflicted by grief for her son, the mother spoke an Act of Truth.
Sau khi nhìn thấy đứa con trai bé bỏng Sāma bị ngã xuống, thân vấy bụi, người mẹ, đau đớn vì sầu muộn mất con, đã nói lên lời chân thật.
382.
382.
382.
‘‘Yena saccenayaṃ sāmo, dhammacārī pure ahu;
Etena saccavajjena, visaṃ sāmassa haññatu.
By the truth that this Sāma formerly lived righteously, by this utterance of truth, may the poison in Sāma be destroyed.
‘Với sự thật rằng Sāma này trước đây là người hành theo Chánh pháp; Mong rằng nhờ lời chân thật này, chất độc của Sāma được tiêu trừ.
383.
383.
383.
‘‘Yena saccenayaṃ sāmo, brahmacārī pure ahu;
Etena saccavajjena, visaṃ sāmassa haññatu.
By the truth that this Sāma formerly lived a holy life, by this utterance of truth, may the poison in Sāma be destroyed.
‘Với sự thật rằng Sāma này trước đây là người sống đời phạm hạnh; Mong rằng nhờ lời chân thật này, chất độc của Sāma được tiêu trừ.
384.
384.
384.
‘‘Yena saccenayaṃ sāmo, saccavādī pure ahu;
Etena saccavajjena, visaṃ sāmassa haññatu.
By the truth that this Sāma was formerly a speaker of truth, by this utterance of truth, may the poison in Sāma be destroyed.
‘Với sự thật rằng Sāma này trước đây là người nói lời chân thật; Mong rằng nhờ lời chân thật này, chất độc của Sāma được tiêu trừ.
385.
385.
385.
‘‘Yena saccenayaṃ sāmo, mātāpettibharo † ahu;
Etena saccavajjena, visaṃ sāmassa haññatu.
By the truth that this Sāma was a supporter of his mother and father, by this utterance of truth, may the poison in Sāma be destroyed.
‘Với sự thật rằng Sāma này là người đã nuôi dưỡng cha mẹ; Mong rằng nhờ lời chân thật này, chất độc của Sāma được tiêu trừ.
386.
386.
386.
‘‘Yena saccenayaṃ sāmo, kule jeṭṭhāpacāyiko;
Etena saccavajjena, visaṃ sāmassa haññatu.
By the truth that this Sāma was respectful to the elders in his family, by this utterance of truth, may the poison in Sāma be destroyed.
‘Với sự thật rằng Sāma này là người tôn kính bậc trưởng thượng trong gia tộc; Mong rằng nhờ lời chân thật này, chất độc của Sāma được tiêu trừ.
387.
387.
387.
‘‘Yena saccenayaṃ sāmo, pāṇā piyataro mama;
Etena saccavajjena, visaṃ sāmassa haññatu.
By the truth that this Sāma is dearer to me than life itself, by this utterance of truth, may the poison in Sāma be destroyed.
‘Với sự thật rằng Sāma này đối với tôi còn quý hơn mạng sống; Mong rằng nhờ lời chân thật này, chất độc của Sāma được tiêu trừ.
388.
388.
388.
‘‘Yaṃ kiñcitthi kataṃ puññaṃ, mayhañceva pitucca te;
Sabbena tena kusalena, visaṃ sāmassa haññatu’’.
Whatever merit has been made by me and also by your father, by all that wholesome action, may the poison in Sāma be destroyed.
‘Bất cứ phước thiện nào đã được tạo bởi tôi và bởi cha của con; Mong rằng nhờ tất cả thiện nghiệp ấy, chất độc của Sāma được tiêu trừ’.
389.
389.
389.
‘‘Disvāna patitaṃ sāmaṃ, puttakaṃ paṃsukunthitaṃ;
Aṭṭito puttasokena, pitā saccaṃ abhāsatha.
Seeing Sāma fallen, the young son covered in dust, distressed by sorrow for his son, the father spoke the truth.
Sau khi nhìn thấy đứa con trai bé bỏng Sāma bị ngã xuống, thân vấy bụi, người cha, đau đớn vì sầu muộn mất con, đã nói lên lời chân thật.
390.
390.
390.
‘‘Yena saccenayaṃ sāmo, dhammacārī pure ahu;
Etena saccavajjena, visaṃ sāmassa haññatu.
By the truth that Sāma was a follower of Dhamma in the past, by this utterance of truth, may the poison in Sāma be destroyed.
‘Với sự thật rằng Sāma này trước đây là người hành theo Chánh pháp; Mong rằng nhờ lời chân thật này, chất độc của Sāma được tiêu trừ.
391.
391.
391.
‘‘Yena saccenayaṃ sāmo, brahmacārī pure ahu;
Etena saccavajjena, visaṃ sāmassa haññatu.
By the truth that Sāma was a celibate in the past, by this utterance of truth, may the poison in Sāma be destroyed.
‘Với sự thật rằng Sāma này trước đây là người sống đời phạm hạnh; Mong rằng nhờ lời chân thật này, chất độc của Sāma được tiêu trừ.
392.
392.
392.
‘‘Yena saccenayaṃ sāmo, saccavādī pure ahu;
Etena saccavajjena, visaṃ sāmassa haññatu.
By the truth that Sāma was a truthful speaker in the past, by this utterance of truth, may the poison in Sāma be destroyed.
‘Với sự thật rằng Sāma này trước đây là người nói lời chân thật; Mong rằng nhờ lời chân thật này, chất độc của Sāma được tiêu trừ.
393.
393.
393.
‘‘Yena saccenayaṃ sāmo, mātāpettibharo ahu;
Etena saccavajjena, visaṃ sāmassa haññatu.
By the truth that Sāma was a supporter of his parents, by this utterance of truth, may the poison in Sāma be destroyed.
‘Với sự thật rằng Sāma này là người đã nuôi dưỡng cha mẹ; Mong rằng nhờ lời chân thật này, chất độc của Sāma được tiêu trừ.
394.
394.
394.
‘‘Yena saccenayaṃ sāmo, kule jeṭṭhāpacāyiko;
Etena saccavajjena, visaṃ sāmassa haññatu.
By the truth that Sāma was respectful to elders in his family, by this utterance of truth, may the poison in Sāma be destroyed.
‘Với sự thật rằng Sāma này là người tôn kính bậc trưởng thượng trong gia tộc; Mong rằng nhờ lời chân thật này, chất độc của Sāma được tiêu trừ.
395.
395.
395.
‘‘Yena saccenayaṃ sāmo, pāṇā piyataro mama;
Etena saccavajjena, visaṃ sāmassa haññatu.
By the truth that Sāma was dearer to me than life, by this utterance of truth, may the poison in Sāma be destroyed.
Do sự thật này, Sāma này đối với tôi còn quý hơn mạng sống; Bởi lời nói chân thật này, nguyện cho chất độc của Sāma được tiêu trừ.
396.
396.
396.
‘‘Yaṃ kiñcitthi † kataṃ puññaṃ, mayhañceva mātucca te;
Sabbena tena kusalena, visaṃ sāmassa haññatu.
Whatever merit has been made by me and by your mother, by all that wholesome deed, may the poison in Sāma be destroyed.
Bất cứ công đức nào đã được tạo, bởi chính tôi và bởi mẹ của con; Do tất cả thiện nghiệp ấy, nguyện cho chất độc của Sāma được tiêu trừ.
397.
397.
397.
‘‘Sā devatā antarahitā, pabbate gandhamādane;
Sāmassa anukampāya, imaṃ saccaṃ abhāsatha.
That deity, concealed on the Gandhamādana mountain, out of compassion for Sāma, spoke this truth:
Vị nữ thần ấy, ẩn mình trên núi Gandhamādana; Vì lòng thương tưởng Sāma, đã nói lên lời chân thật này.
398.
398.
398.
‘‘Pabbatyāhaṃ gandhamādane, cirarattanivāsinī †;
Na me piyataro koci, añño sāmena † vijjati;
Etena saccavajjena, visaṃ sāmassa haññatu.
I have long dwelt on the Gandhamādana mountain; none is dearer to me than Sāma. By this utterance of truth, may the poison in Sāma be destroyed.
Ta là người đã sống lâu năm trên núi Gandhamādana; Đối với ta, không có ai khác quý hơn Sāma; Bởi lời nói chân thật này, nguyện cho chất độc của Sāma được tiêu trừ.
399.
399.
399.
‘‘Sabbe vanā gandhamayā, pabbate gandhamādane;
Etena saccavajjena, visaṃ sāmassa haññatu’’.
All the forests on the Gandhamādana mountain are fragrant. By this utterance of truth, may the poison in Sāma be destroyed.
Tất cả các khu rừng trên núi Gandhamādana đều tỏa hương thơm; Bởi lời nói chân thật này, nguyện cho chất độc của Sāma được tiêu trừ.
400.
400.
400.
Tesaṃ lālappamānānaṃ, bahuṃ kāruññasañhitaṃ;
Khippaṃ sāmo samuṭṭhāsi, yuvā kalyāṇadassano.
As they were lamenting, filled with great compassion, Sāma quickly arose, a youth of lovely appearance.
Trong khi họ đang than khóc, với nhiều lời bi thương; Sāma đã nhanh chóng ngồi dậy, là chàng thanh niên có tướng mạo xinh đẹp.
401.
401.
401.
‘‘Sāmohamasmi bhaddaṃ vo †, sotthināmhi samuṭṭhito;
Mā bāḷhaṃ paridevetha, mañjunābhivadetha maṃ’’.
I am Sāma, may it be well with you. I have arisen safely. Do not lament excessively; address me with gentle words.
Con là Sāma đây, mong cha mẹ được an lành, con đã ngồi dậy được an toàn; Xin đừng than khóc quá nhiều, hãy chào đón con bằng lời nói dịu dàng.
402.
402.
402.
‘‘Svāgataṃ te mahārāja, atho te adurāgataṃ;
Issarosi anuppatto, yaṃ idhatthi pavedaya.
Welcome to you, O great king, and may your arrival be a good one. You have arrived as a lord; declare what is here.
Xin chào mừng ngài, tâu Đại Vương, và sự quang lâm của ngài thật tốt lành; Ngài đã đến đây với tư cách là người chủ, có điều gì ở đây, xin hãy cho biết.
403.
403.
403.
‘‘Tindukāni piyālāni, madhuke kāsumāriyo;
Phalāni khuddakappāni, bhuñja rāja varaṃ varaṃ.
Tinduka fruits, piyāla fruits, madhuka fruits, and kāsumāri fruits, small fruits; eat, O king, the very best.
Trái Tinduka, trái Piyāla, trái Madhuka, trái Kāsumāri; Và các loại trái cây nhỏ, xin mời đức vua dùng những thứ hảo hạng nhất.
404.
404.
404.
‘‘Atthi me pāniyaṃ sītaṃ, ābhataṃ girigabbharā;
Tato piva mahārāja, sace tvaṃ abhikaṅkhasi’’.
I have cool water, brought from a mountain cave; from that, drink, O great king, if you so desire.
Con có nước uống mát lạnh, được lấy từ hang núi; Tâu Đại Vương, xin ngài hãy uống, nếu ngài có mong muốn.
405.
405.
405.
‘‘Sammuyhāmi pamuyhāmi, sabbā muyhanti me disā;
Petaṃ taṃ sāmamaddakkhiṃ, ko nu tvaṃ sāma jīvasi’’.
I am bewildered, I am confused, all directions are obscured to me. I saw you dead, Sāma—how is it that you now live?
Ta đang mê muội, ta đang hoang mang, tất cả các phương hướng đối với ta đều mờ mịt; Ta đã thấy con, Sāma, như người đã chết; Sāma, con là ai mà lại đang sống thế này?
406.
406.
406.
‘‘Api jīvaṃ mahārāja, purisaṃ gāḷhavedanaṃ;
Upanītamanasaṅkappaṃ, jīvantaṃ maññate mataṃ.
O great king, a man, though living, who is in deep pain, with his mind's intentions overwhelmed, is considered dead while living.
Tâu Đại Vương, ngay cả một người đang sống, một người có cảm thọ đau đớn mãnh liệt; Với tâm ý đã gần kề (cái chết), dù đang sống cũng bị cho là đã chết.
407.
407.
407.
‘‘Api jīvaṃ mahārāja, purisaṃ gāḷhavedanaṃ;
Taṃ nirodhagataṃ santaṃ, jīvantaṃ maññate mataṃ.
O great king, a man, though living, who is in deep pain, having attained the peace of cessation, is considered dead while living.
Tâu Đại Vương, ngay cả một người đang sống, một người có cảm thọ đau đớn mãnh liệt; Người ấy đã đi vào trạng thái tịch diệt, dù đang sống cũng bị cho là đã chết.
408.
408.
408.
‘‘Yo mātaraṃ pitaraṃ vā, macco dhammena posati;
Devāpi naṃ tikicchanti, mātāpettibharaṃ naraṃ.
Whatever mortal righteously supports his mother or father, even the gods care for that man who supports his parents.
Người phàm nào nuôi dưỡng mẹ hoặc cha một cách đúng pháp; Chư Thiên cũng chăm sóc cho người ấy, người đã phụng dưỡng cha mẹ.
409.
409.
409.
‘‘Yo mātaraṃ pitaraṃ vā, macco dhammena posati;
Idheva naṃ pasaṃsanti, pecca sagge pamodati’’.
Whatever mortal righteously supports his mother or father, they praise him here in this world, and after death, he rejoices in heaven.
Người phàm nào nuôi dưỡng mẹ hoặc cha một cách đúng pháp; Ngay ở đời này, người ấy được tán dương, sau khi chết, được hoan hỷ ở cõi trời.
410.
410.
410.
‘‘Esa bhiyyo pamuyhāmi, sabbā muyhanti me disā;
Saraṇaṃ taṃ sāma gacchāmi †, tvañca me saraṇaṃ bhava’’.
Now I am even more bewildered, all directions are obscured to me. I go to you for refuge, Sāma; be a refuge for me.
Ta lại càng thêm mê muội, tất cả các phương hướng đối với ta đều mờ mịt; Sāma, ta xin quy y con, và con hãy là nơi nương tựa cho ta.
411.
411.
411.
‘‘Dhammaṃ cara mahārāja, mātāpitūsu khattiya;
Idha dhammaṃ caritvāna, rāja saggaṃ gamissasi.
Practice the Dhamma, O great king, towards your mother and father, O khattiya. Having practiced the Dhamma here, O king, you will go to heaven.
Tâu Đại Vương, hãy thực hành Chánh pháp; thưa bậc Sát-đế-lỵ, đối với cha và mẹ; Sau khi thực hành Chánh pháp ở đời này, tâu đức vua, ngài sẽ đi đến cõi trời.
412.
412.
412.
‘‘Dhammaṃ cara mahārāja, puttadāresu khattiya;
Idha dhammaṃ caritvāna, rāja saggaṃ gamissasi.
Practice the Dhamma, O great king, towards your children and wife, O khattiya. Having practiced the Dhamma here, O king, you will go to heaven.
Tâu Đại Vương, hãy thực hành Chánh pháp; thưa bậc Sát-đế-lỵ, đối với vợ và con; Sau khi thực hành Chánh pháp ở đời này, tâu đức vua, ngài sẽ đi đến cõi trời.
413.
413.
413.
‘‘Dhammaṃ cara mahārāja, mittāmaccesu khattiya;
Idha dhammaṃ caritvāna, rāja saggaṃ gamissasi.
Practice the Dhamma, O great king, towards friends and ministers, O khattiya. Having practiced the Dhamma here, O king, you will go to heaven.
Tâu Đại Vương, hãy thực hành Chánh pháp; thưa bậc Sát-đế-lỵ, đối với bạn bè và quần thần; Sau khi thực hành Chánh pháp ở đời này, tâu đức vua, ngài sẽ đi đến cõi trời.
414.
414.
414.
‘‘Dhammaṃ cara mahārāja, vāhanesu balesu ca;
Idha dhammaṃ caritvāna, rāja saggaṃ gamissasi.
Practice the Dhamma, O great king, towards your mounts and armies. Having practiced the Dhamma here, O king, you will go to heaven.
Tâu Đại Vương, hãy thực hành Chánh pháp; đối với các phương tiện và quân lính; Sau khi thực hành Chánh pháp ở đời này, tâu đức vua, ngài sẽ đi đến cõi trời.
415.
415.
415.
‘‘Dhammaṃ cara mahārāja, gāmesu nigamesu ca;
Idha dhammaṃ caritvāna, rāja saggaṃ gamissasi.
Practice the Dhamma, O great king, in villages and towns. Having practiced the Dhamma here, O king, you will go to heaven.
Tâu Đại Vương, hãy thực hành Chánh pháp; đối với các làng mạc và thị trấn; Sau khi thực hành Chánh pháp ở đời này, tâu đức vua, ngài sẽ đi đến cõi trời.
416.
416.
416.
‘‘Dhammaṃ cara mahārāja, raṭṭhesu janapadesu ca;
Idha dhammaṃ caritvāna, rāja saggaṃ gamissasi.
Practice the Dhamma, O great king, in kingdoms and provinces. Having practiced the Dhamma here, O king, you will go to heaven.
Tâu Đại Vương, hãy thực hành Chánh pháp; đối với các vương quốc và các xứ; Sau khi thực hành Chánh pháp ở đời này, tâu đức vua, ngài sẽ đi đến cõi trời.
417.
417.
417.
‘‘Dhammaṃ cara mahārāja, samaṇabrāhmaṇesu ca;
Idha dhammaṃ caritvāna, rāja saggaṃ gamissasi.
Practice the Dhamma, O great king, towards ascetics and brahmins. Having practiced the Dhamma here, O king, you will go to heaven.
Tâu Đại Vương, hãy thực hành Chánh pháp; đối với các vị Sa-môn và Bà-la-môn; Sau khi thực hành Chánh pháp ở đời này, tâu đức vua, ngài sẽ đi đến cõi trời.
418.
418.
418.
‘‘Dhammaṃ cara mahārāja, migapakkhīsu khattiya;
Idha dhammaṃ caritvāna, rāja saggaṃ gamissasi.
Practice the Dhamma, O great king, towards beasts and birds, O khattiya. Having practiced the Dhamma here, O king, you will go to heaven.
Tâu Đại Vương, hãy thực hành Chánh pháp; thưa bậc Sát-đế-lỵ, đối với các loài thú và chim; Sau khi thực hành Chánh pháp ở đời này, tâu đức vua, ngài sẽ đi đến cõi trời.
419.
419.
419.
‘‘Dhammaṃ cara mahārāja, dhammo ciṇṇo sukhāvaho;
Idha dhammaṃ caritvāna, rāja saggaṃ gamissasi.
Practice the Dhamma, O great king, for the practiced Dhamma brings happiness. Having practiced the Dhamma here, O king, you will go to heaven.
Tâu Đại Vương, hãy thực hành Chánh pháp, Chánh pháp được thực hành sẽ mang lại hạnh phúc; Sau khi thực hành Chánh pháp ở đời này, tâu đức vua, ngài sẽ đi đến cõi trời.
420.
420.
420.
‘‘Dhammaṃ cara mahārāja, saindā devā sabrahmakā;
Suciṇṇena divaṃ pattā, mā dhammaṃ rāja pāmado’’ti.
Practice the Dhamma, O great king. The gods with Indra and Brahmā reached heaven through good conduct. O king, do not be negligent of the Dhamma.
Tâu Đại Vương, hãy thực hành Chánh pháp, chư Thiên cùng với Đế Thích, cùng với Phạm Thiên; Nhờ thực hành tốt đẹp đã đạt đến cõi trời, tâu đức vua, xin chớ lơ là Chánh pháp.
Suvaṇṇasāmajātakaṃ † tatiyaṃ.
The Suvaṇṇasāma Jātaka, the third.
Bổn sanh Suvaṇṇasāma, câu chuyện thứ ba.