Bản dịch
JA 539 — Chuyện Đại vương Mah àjanaka (Tiền thân Mahà-Janaka)
2. Mahājanakajātaka
4442 . “Ngươi là ai mà có thể gắng sức ở giữa biển khơi, trong khi không nhìn thấy đất liền? Biết được điều lợi ích gì mà ngươi có thể nỗ lực hết mình như vậy?”
4443 . “Thưa Thiên nữ, sau khi suy xét về phận sự ở thế gian và (lợi ích) của sự nỗ lực, nhờ thế, ta có thể gắng sức ở giữa biển khơi, trong khi không nhìn thấy đất liền.”
4444. “Ở biển khơi sâu thẳm và mênh mông không nhìn thấy bến bờ nó, sự nỗ lực nam nhân của ngươi là vô ích. Ngươi sẽ chết trong khi vẫn chưa đạt đến đất liền.”
4445 . “Là người không có nợ nần đối với các thân quyến, đối với chư Thiên, và đối với phụ thân, vị ấy, trong khi làm các việc cần phải làm của một nam nhân, sau này sẽ không phải hối tiếc.”
4446 . “Việc làm nào không dẫn đến đích, không có kết quả, đem lại sự mệt nhọc, kết cuộc của nó là cái chết, trong trường hợp ấy, lợi ích gì với sự nỗ lực?”
4447 . “Thưa Thiên nữ, kẻ nào sau khi biết được một cách chắc chắn là (sự nỗ lực) không dẫn đến đích, rồi không bảo vệ mạng sống của bản thân, kẻ ấy có thể biết được (kết quả) nếu bỏ rơi (sự nỗ lực của mình).
4448. Thưa Thiên nữ, sau khi chú tâm đến kết quả, một số người ở thế gian này gắn bó vào các việc làm, (cho dù) các việc làm ấy thành tựu hay không thành tựu.
4449. Thưa Thiên nữ, chẳng lẽ bà không nhìn thấy kết quả của hành động đã được tự mình thấy rõ; những kẻ khác đã bị chìm xuống, còn ta vượt qua, và ta nhìn thấy nàng ở bên cạnh.
4450 . Ta đây sẽ nỗ lực hết khả năng, hết sức lực, trong khi di chuyển đến bờ kia của biển cả, ta sẽ làm việc cần phải làm của nam nhân.”
4451 . “Khi đã vượt qua dòng nước lũ như vậy ở đại dương bao la, ngươi được đầy đủ sự nỗ lực trong nhiệm vụ. Nhờ vào hành động, ngươi không bị chìm xuống. Ngươi đây hãy đi đến ngay nơi ấy, nơi mà tâm ý ngươi ưa thích.”
4452 . “Kho tàng ở chỗ mọc lên của mặt trời, rồi kho tàng ở chỗ lặn xuống, kho tàng ở bên trong, kho tàng ở bên ngoài, kho tàng không ở bên trong không ở bên ngoài.
4453. Kho tàng lớn ở chỗ bước lên, rồi kho tàng ở chỗ bước xuống, và bốn chân giường lớn bằng gỗ cây sālā , kho tàng ở xung quanh long sàng khoảng cách dài bằng cái ách (của cỗ xe).
4454. Kho tàng lớn ở vị trí chóp đỉnh của hai cái ngà voi và ở vị trí chóp đuôi của con vương tượng, ở hồ nước, kho tàng lớn ở các ngọn cây, tất cả là mười sáu kho tàng lớn, cây cung được kéo căng bởi sức mạnh của một ngàn người, phía trên của ngự sàng (hình vuông), và với sự bằng lòng của công chúa Sīvali.”
4455 . “Con người cần phải hy vọng, bậc sáng suốt không nên chán nản. Ta thật sự nhìn thấy được bản thân; ta đã ước muốn như thế nào thì đã thành tựu như thế ấy.
4456 . Con người cần phải hy vọng, bậc sáng suốt không nên chán nản. Ta thật sự nhìn thấy bản thân đã được đưa lên mặt đất từ nước (của biển cả).
4457 . Con người cần phải nỗ lực, bậc sáng suốt không nên chán nản. Ta thật sự nhìn thấy được bản thân; ta đã ước muốn như thế nào thì đã thành tựu như thế ấy.
4458 . Con người cần phải nỗ lực, bậc sáng suốt không nên chán nản. Ta thật sự nhìn thấy bản thân ta đã được kéo lên đất liền từ nước (của biển cả).
4459 . Con người có trí tuệ, dầu bị rơi vào khổ đau, cũng không nên cắt đứt niềm hy vọng về việc thành đạt hạnh phúc, bởi vì có nhiều ý tưởng không có lợi ích và có lợi ích. Những người không suy tư đi đến cái chết.
4460 . Việc không nghĩ đến lại xảy ra, việc được nghĩ đến lại tiêu hoại. Bởi vì không phải do ý tưởng mà người nữ hay người nam có được của cải.”
4461. “Này ông, quả thật đức vua, vị sở hữu mọi lãnh địa, bậc chúa tể một phương không giống như xưa! Hôm nay, ngài không chú ý đến các điệu vũ, tâm không đặt ở các bài ca.
4462 . Ngài không ngắm nhìn các con thú, các vườn hoa, thậm chí các con chim thiên nga. Ngài ngồi im lặng, tựa như kẻ câm, không chỉ dạy điều lợi ích.”
4463 . “Các bậc mong muốn sự an lạc (Niết Bàn), có bản tánh kín đáo, xa lánh việc giết chóc và trói buộc, trẻ tuổi và lớn tuổi, hôm nay, trú ngụ ở khu vườn của những người nào?
4464. Các bậc sáng trí đã vượt qua sự ham muốn. Xin kính lễ đến các bậc đại ẩn sĩ ấy, là những vị không cuồng nhiệt cư trú ở thế gian cuồng nhiệt.
4465. Sau khi cắt đứt mạng lưới (tham ái) chắc chắn ấy của Tử Thần vô cùng xảo trá, các vị ấy ra đi với trạng thái (ô nhiễm) ngủ ngầm đã được cắt đứt. Ai có thể đưa trẫm đến cảnh giới của các vị ấy?
4466 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ kinh thành Mithilā phồn thịnh, rộng lớn, rực rỡ khắp mọi nơi, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4467 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ kinh thành Mithilā phồn thịnh, được phân chia thành từng phần, đã được đo đạc, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4468 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ kinh thành Mithilā phồn thịnh, có nhiều tường thành và cổng chào, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4469 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ kinh thành Mithilā phồn thịnh, có tháp canh và đồn lũy ở cổng ra vào, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4470 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ kinh thành Mithilā phồn thịnh, có đại lộ khéo được phân chia, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4471 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ kinh thành Mithilā phồn thịnh, có phố cửa hàng khéo được phân chia, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4472 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ kinh thành Mithilā phồn thịnh, có trâu, bò, ngựa, xe chen chúc, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4473 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ kinh thành Mithilā phồn thịnh, có nhiều hoa ở khu vườn và rừng cây, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4474 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ kinh thành Mithilā phồn thịnh, có nhiều hoa ở vườn thượng uyển và rừng cây, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4475 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ kinh thành Mithilā phồn thịnh, có nhiều hoa ở tòa lâu đài và rừng cây, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4476 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ kinh thành Mithilā phồn thịnh, có ba lớp tường thành, có thân quyến của hoàng gia, được tạo lập bởi vị vua Somanassa danh tiếng của xứ Videha, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4477 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ xứ sở Videha phồn thịnh, đã được tích lũy của cải, được vương pháp hộ trì, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4478 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ xứ sở Videha phồn thịnh, không thể bị xâm chiếm, được hộ trì bởi vương pháp, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4479 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ hoàng cung đáng yêu, được phân chia thành từng phần, đã được đo đạc, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4480 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ hoàng cung đáng yêu, được tô trét bằng đất sét trắng, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4481 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ hoàng cung đáng yêu, có mùi thơm tinh khiết quyến rũ, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4482 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ các tòa nhà có mái nhọn, được phân chia thành từng phần, đã được đo đạc, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4483 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ các tòa nhà có mái nhọn, được tô trét bằng đất sét trắng, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4484 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ các tòa nhà có mái nhọn, có mùi thơm tinh khiết quyến rũ, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4485 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ các tòa nhà có mái nhọn đã được thoa, đã được rưới trầm hương đỏ, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4486 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ các ngự sàng làm bằng vàng, có trải thảm nhiều màu làm bằng len lông dài, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4487 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ các ngự sàng làm bằng ngọc ma-ni, có trải thảm nhiều màu làm bằng len lông dài, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4488 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ các thứ y phục bằng bông gòn, tơ lụa, sợi lanh, vải xứ Koṭumbara, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4489 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ các hồ nước đáng yêu, với những con hồng hạc kêu ríu rít, được bao phủ bởi những loài thủy thảo và bởi những hoa sen hồng sen xanh, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4490, 4491 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ các bầy voi đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, và những con voi có dây đai bằng vàng, có trang phục là yên cương bằng vàng, được cỡi lên bởi các viên quản tượng có cây thương móc câu ở bàn tay, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4492, 4493 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ các bầy ngựa đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, và những con ngựa Sindhu thuần chủng về dòng dõi, có sức chuyển vận mau lẹ, được cỡi lên bởi các kỵ mã có mang gươm và cung, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4494, 4495 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ các đoàn xe đã được trang bị, có lá cờ đã được giương lên, được trải các tấm thảm da báo, da cọp, đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, được cỡi lên bởi các xa phu mặc áo giáp, có cây cung ở tay, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4496, 4497 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ các cỗ xe làm bằng vàng, đã được trang bị, có lá cờ đã được giương lên, được trải các tấm thảm da báo, da cọp, đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, được cỡi lên bởi các xa phu mặc áo giáp, có cây cung ở tay, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4498, 4499 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ các cỗ xe làm bằng bạc, đã được trang bị, có lá cờ đã được giương lên, được trải các tấm thảm da báo, da cọp, đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, được cỡi lên bởi các xa phu mặc áo giáp, có cây cung ở tay, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4500, 4501 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ các cỗ xe ngựa kéo, đã được trang bị, có lá cờ đã được giương lên, được trải các tấm thảm da báo, da cọp, đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, được cỡi lên bởi các xa phu mặc áo giáp, có cây cung ở tay, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4502, 4503 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ các cỗ xe lạc đà kéo, đã được trang bị, có lá cờ đã được giương lên, được trải các tấm thảm da báo, da cọp, đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, được cỡi lên bởi các xa phu mặc áo giáp, có cây cung ở tay, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4504, 4505 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ các cỗ xe bò kéo, đã được trang bị, có lá cờ đã được giương lên, được trải các tấm thảm da báo, da cọp, đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, được cỡi lên bởi các xa phu mặc áo giáp, có cây cung ở tay, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
21. Kinh thành danh vọng khắp xa gần, Rộn rịp bao binh sĩ, tướng quân,
4506, 4507 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ các cỗ xe dê kéo, đã được trang bị, có lá cờ đã được giương lên, được trải các tấm thảm da báo, da cọp, đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, được cỡi lên bởi các xa phu mặc áo giáp, có cây cung ở tay, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4508, 4509 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ các cỗ xe cừu kéo, đã được trang bị, có lá cờ đã được giương lên, được trải các tấm thảm da báo, da cọp, đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, được cỡi lên bởi các xa phu mặc áo giáp, có cây cung ở tay, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4510, 4511 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ các cỗ xe nai kéo, đã được trang bị, có lá cờ đã được giương lên, được trải các tấm thảm da báo, da cọp, đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, được cỡi lên bởi các xa phu mặc áo giáp, có cây cung ở tay, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4512 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ các viên quản tượng đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, là các dũng sĩ mặc áo giáp màu xanh sẫm, có cây thương móc câu ở bàn tay, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4513 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ các kỵ mã đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, là các dũng sĩ mặc áo giáp màu xanh sẫm, có mang gươm và cung, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4514 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ các xa phu đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, là các dũng sĩ mặc áo giáp màu xanh sẫm, có cây cung ở tay, có bó tên, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4515 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ các cung thủ đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, là các dũng sĩ mặc áo giáp màu xanh sẫm, có cây cung ở tay, có bó tên, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4516 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ các hoàng tử đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, là các dũng sĩ mặc áo giáp nhiều màu sắc, mang vòng hoa đội đầu bằng vàng, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4517 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ các nhóm Bà-la-môn tận tụy với phận sự, đã được trang điểm, có thân thể được thoa trầm hương vàng, mặc vải Kāsi hạng nhất, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4518 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ các nhóm quan đại thần đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, là các dũng sĩ mặc áo giáp màu vàng, có tràng hoa gaccha ở phía trước, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4519 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ bảy trăm người vợ đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4520 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ bảy trăm người vợ vô cùng giỏi giang, có vòng eo thon, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4521 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ bảy trăm người vợ có sự vâng lời, có lời nói đáng yêu, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4522 . Khi nào trẫm sẽ dứt bỏ cái bát nặng một trăm phala , làm bằng vàng, có một trăm đường nét khắc, rồi đi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4523, 4524 . Khi nào các bầy voi đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, và những con voi có dây đai bằng vàng, có trang phục là yên cương bằng vàng, được cỡi lên bởi các viên quản tượng có cây thương móc câu ở bàn tay, sẽ không còn đi theo trẫm khi trẫm ra đi? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4525, 4526 . Khi nào các bầy ngựa đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, và những con ngựa Sindhu thuần chủng về dòng dõi, có sức chuyển vận mau lẹ, được cỡi lên bởi các kỵ mã có mang gươm và cung, sẽ không còn đi theo trẫm khi trẫm ra đi? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4527, 4528 . Khi nào các đoàn xe đã được trang bị, có lá cờ đã được giương lên, được trải các tấm thảm da báo, da cọp, đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, được cỡi lên bởi các xa phu mặc áo giáp, có cây cung ở tay, sẽ không còn đi theo trẫm khi trẫm ra đi? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4529, 4530 . Khi nào các cỗ xe làm bằng vàng, đã được trang bị, có lá cờ đã được giương lên, được trải các tấm thảm da báo, da cọp, đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, được cỡi lên bởi các xa phu mặc áo giáp, có cây cung ở tay, sẽ không còn đi theo trẫm khi trẫm ra đi? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4531, 4532 . Khi nào các cỗ xe làm bằng bạc, đã được trang bị, có lá cờ đã được giương lên, được trải các tấm thảm da báo, da cọp, đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, được cỡi lên bởi các xa phu mặc áo giáp, có cây cung ở tay, sẽ không còn đi theo trẫm khi trẫm ra đi? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4533, 4534 . Khi nào các cỗ xe ngựa kéo, đã được trang bị, có lá cờ đã được giương lên, được trải các tấm thảm da báo, da cọp, đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, được cỡi lên bởi các xa phu mặc áo giáp, có cây cung ở tay, sẽ không còn đi theo trẫm khi trẫm ra đi? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4535, 4536 . Khi nào các cỗ xe lạc đà kéo, đã được trang bị, có lá cờ đã được giương lên, được trải các tấm thảm da báo, da cọp, đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, được cỡi lên bởi các xa phu mặc áo giáp, có cây cung ở tay, sẽ không còn đi theo trẫm khi trẫm ra đi? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4537, 4538 . Khi nào các cỗ xe bò kéo, đã được trang bị, có lá cờ đã được giương lên, được trải các tấm thảm da báo, da cọp, đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, được cỡi lên bởi các xa phu mặc áo giáp, có cây cung ở tay, sẽ không còn đi theo trẫm khi trẫm ra đi? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4539, 4540 . Khi nào các cỗ xe dê kéo, đã được trang bị, có lá cờ đã được giương lên, được trải các tấm thảm da báo, da cọp, đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, được cỡi lên bởi các xa phu mặc áo giáp, có cây cung ở tay, sẽ không còn đi theo trẫm khi trẫm ra đi? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4541, 4542 . Khi nào các cỗ xe cừu kéo, đã được trang bị, có lá cờ đã được giương lên, được trải các tấm thảm da báo, da cọp, đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, được cỡi lên bởi các xa phu mặc áo giáp, có cây cung ở tay, sẽ không còn đi theo trẫm khi trẫm ra đi? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4543, 4544 . Khi nào các cỗ xe nai kéo, đã được trang bị, có lá cờ đã được giương lên, được trải các tấm thảm da báo, da cọp, đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, được cỡi lên bởi các xa phu mặc áo giáp, có cây cung ở tay, sẽ không còn đi theo trẫm khi trẫm ra đi? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4545 . Khi nào các viên quản tượng đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, là các dũng sĩ mặc áo giáp màu xanh sẫm, có cây thương móc câu ở bàn tay, sẽ không còn đi theo trẫm khi trẫm ra đi? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4546 . Khi nào các kỵ mã đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, là các dũng sĩ mặc áo giáp màu xanh sẫm, có mang gươm và cung, sẽ không còn đi theo trẫm khi trẫm ra đi? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4547 . Khi nào các xa phu đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, là các dũng sĩ mặc áo giáp màu xanh sẫm, có cây cung ở tay, có bó tên, sẽ không còn đi theo trẫm khi trẫm ra đi? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4548 . Khi nào các cung thủ đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, là các dũng sĩ mặc áo giáp màu xanh sẫm, có cây cung ở tay, có bó tên, sẽ không còn đi theo trẫm khi trẫm ra đi? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4549 . Khi nào các hoàng tử đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, là các dũng sĩ mặc áo giáp nhiều màu sắc, mang vòng hoa đội đầu bằng vàng, sẽ không còn đi theo trẫm khi trẫm ra đi? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4550 . Khi nào các nhóm Bà-la-môn tận tụy với phận sự, đã được trang điểm, có thân thể được thoa trầm hương vàng, mặc vải Kāsi hạng nhất, sẽ không còn đi theo trẫm khi trẫm ra đi? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4551 . Khi nào các nhóm quan đại thần đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, là các dũng sĩ mặc áo giáp màu vàng, có tràng hoa gaccha ở phía trước, sẽ không còn đi theo trẫm khi trẫm ra đi? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4552 . Khi nào bảy trăm người vợ, đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, sẽ không còn đi theo trẫm khi trẫm ra đi? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4553 . Khi nào bảy trăm người vợ vô cùng giỏi giang, có vòng eo thon, sẽ không còn đi theo trẫm khi trẫm ra đi? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4554 . Khi nào bảy trăm người vợ có sự vâng lời, có lời nói đáng yêu, sẽ không còn đi theo trẫm khi trẫm ra đi? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4555 . Khi nào trẫm sẽ cầm lấy bình bát, đầu cạo trọc, trùm y hai lớp, đi khất thực? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4556 . Khi nào trẫm sẽ mang y hai lớp gồm những mảnh vải dơ đã được quăng bỏ ở đại lộ? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4557 . Khi nào trẫm sẽ mặc y phục ẩm ướt đi khất thực vào lúc cơn mưa trút xuống bảy ngày? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4558 . Khi nào trẫm sẽ sống không có mong cầu ở mọi nơi, từ cội cây này đến cội cây khác, từ khu rừng này đến khu rừng khác? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4559 . Khi nào trẫm sẽ sống (đơn độc) không có người thứ hai ở các khe núi hiểm trở với nỗi sợ hãi và khiếp đảm đã được dứt bỏ? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4560 . Khi nào trẫm sẽ làm cho tâm được ngay thẳng, tựa như người khảy cây đàn vīṇā bảy dây quyến rũ? Khi nào điều ấy sẽ thật sự xảy ra?
4561 . Khi nào trẫm sẽ cắt đứt những trói buộc của các dục thuộc cõi Trời và thuộc loài người, tựa như người thợ mộc cắt vòng quanh chiếc giày?”
4562 . Và bảy trăm người vợ ấy, được tô điểm với mọi thứ trang sức, đã đưa hai cánh tay lên kêu khóc rằng: ‘Vì sao bệ hạ sẽ bỏ rơi bọn thiếp?’
4563 . Và bảy trăm người vợ ấy, vô cùng giỏi giang, có vòng eo thon, đã đưa hai cánh tay lên kêu khóc rằng: ‘Vì sao bệ hạ sẽ bỏ rơi bọn thiếp?’
4564 . Và bảy trăm người vợ ấy, có sự vâng lời, có lời nói đáng yêu, đã đưa hai cánh tay lên kêu khóc rằng: ‘Vì sao bệ hạ sẽ bỏ rơi bọn thiếp?’
4565 . Và sau khi từ bỏ bảy trăm người vợ đã được tô điểm với mọi thứ trang sức ấy, đức vua, xem trọng việc xuất gia, đã lẩn tránh.
4566 . Và sau khi từ bỏ bảy trăm người vợ vô cùng giỏi giang, có vòng eo thon ấy, đức vua, xem trọng việc xuất gia, đã lẩn tránh.
4567 . Và sau khi từ bỏ bảy trăm người vợ có sự vâng lời, có lời nói đáng yêu ấy, đức vua, xem trọng việc xuất gia, đã lẩn tránh.
4568 . Sau khi từ bỏ cái bát nặng một trăm phala , làm bằng vàng, có một trăm đường nét khắc, đức vua đã cầm lấy bình bát đất; việc ấy là lần phong vương thứ nhì.
4569. Các nhà kho bị đốt cháy lần lượt từng ngôi một bởi ngọn lửa lớn ghê rợn. Nhiều bạc, vàng, ngọc trai, ngọc bích (bị thiêu hủy).
4570. Nhiều ngọc ma-ni, xà cừ và ngọc trai, vải vóc, trầm hương vàng, da linh dương, vật dụng bằng ngà voi, vật bằng đồng, vật bằng sắt đen (bị thiêu hủy). Tâu bệ hạ, bệ hạ hãy đi đến, bệ hạ hãy quay trở lại. Chớ để tài sản ấy của bệ hạ bị tiêu tan.”
4571. Chúng ta quả thật sống vô cùng an lạc, khi không có vật gì thuộc về chúng ta. Trong khi kinh thành Mithilā bị thiêu đốt, không có vật gì của trẫm đã bị thiêu đốt.”
4572 . “Các bọn cướp rừng đã nổi dậy phá hủy đất nước của bệ hạ. Tâu bệ hạ, bệ hạ hãy đi đến, bệ hạ hãy quay trở lại. Chớ để đất nước này bị tiêu tan.”
4573. “Chúng ta quả thật sống vô cùng an lạc, khi không có vật gì thuộc về chúng ta. Trong khi đất nước bị cướp bóc, không có vật gì của trẫm đã bị hủy hoại.”
4574. Chúng ta quả thật sống vô cùng an lạc, khi không có vật gì thuộc về chúng ta. Chúng ta sẽ là những người có sự nuôi dưỡng bằng pháp hỷ, giống như chư Thiên ở cõi Quang Âm.”
4575. “Âm thanh ồn ào ấy là gì vậy? Những kẻ đùa giỡn ở trong làng là những ai vậy? Chúng tôi hỏi vị Sa- môn, đám người này ở đâu đi đến?”
4576. “Trong khi ta buông bỏ và ra đi, đám người này đi theo ta đến nơi này. Trong khi vượt qua ranh giới nhằm đạt đến trí tuệ của bậc hiền trí, ta có sự xáo trộn bởi các niềm hoan hỷ trong khi ra đi, tại sao ngài biết rồi mà vẫn còn hỏi?”
4577 . “Ông chớ nghĩ rằng ông đã có thể vượt qua trong khi duy trì thân xác này (với đầu được cạo và đắp y ca-sa). Chỉ với việc làm này thì chưa thể vượt qua được; quả thật còn có nhiều kẻ thù.”
4578 . “Ta không mong cầu các dục đã được biết (ở thế giới loài người) hay còn chưa được biết (ở cõi trời), trong khi ta đang an trú như vậy, thì ai sẽ là kẻ thù của ta?”
4579. “Sự ngái ngủ, sự biếng nhác, sự uể oải, sự bất mãn, trạng thái ngây ngất sau bữa ăn, chúng cư ngụ, tồn tại ở cơ thể; quả thật còn có nhiều kẻ thù.”
4580. “Thưa vị Bà-la-môn, thật tốt đẹp thay việc ngài chỉ dạy cho ta. Ta xin hỏi vị Bà-la-môn, thưa tôn ông, ngài là ai vậy?”
4581 . “Tên của ta là ‘Nārada.’ Mọi người biết về ta là ‘Kassapa.’ Ta đã đi đến bên cạnh ông. Lành thay việc gặp gỡ với những người tốt.
4582 . Mọi sự hoan hỷ hãy có cho ông. Ông hãy thực hành bốn pháp từ, bi, hỷ, xả. Hãy bổ túc pháp còn thiếu hụt bằng sự nhẫn nại và sự an tịnh.
4583 . Ông hãy dứt bỏ sự tự ti, hãy dứt bỏ sự cao ngạo. Ông hãy tôn vinh thiện nghiệp, các minh (ngũ thông với bát thiền), pháp Sa- môn, và ông hãy ra đi du hành.”
4584. “Này Janaka, sau khi từ bỏ nhiều voi, ngựa, và các cư dân ở thành thị với nông thôn, ông đã xuất gia, và đã đạt đến sự vui thích với bình bát đất.
4585 . Này Janaka, phải chăng các người dân, các bạn bè, các quan đại thần, và các thân quyến đã làm điều sai trái đối với ông? Và tại sao bình bát đất ấy đã khiến ông ưa thích?”
4586. “Thưa vị Migājina, ta không bao giờ lấn át bất cứ thân quyến nào một cách sai trái vào bất cứ lúc nào, và các thân quyến cũng không làm như vậy đối với ta.
4587 . Sau khi nhìn thấy kẻ đang luân hồi ở thế gian bị ngấu nghiến, bị làm cho uế nhiễm, và phàm nhân bị dính mắc ở nơi này bị giết chết, bị giam cầm, sau khi lấy việc ấy làm ví dụ (cho bản thân), ta trở thành người hành khất, thưa vị Migājina.”
4588 . “Vậy ai là bậc hữu phần, là đạo sư của ông? Lời nói tinh túy ấy là của ai? Bởi vì không có việc diện kiến bậc khổ hạnh có thắng trí hoặc vị Phật Độc Giác đã cạn kiệt lậu hoặc, không thể đạt được như vậy. Thưa đấng thủ lãnh xa binh, người đời đã nói về vị Sa-môn có sự vượt qua khổ đau đang hiện hữu.”
4589 . “Thưa vị Migājina, mặc dầu ta tôn vinh Sa-môn và luôn cả Bà-la-môn nữa, nhưng ta chưa bao giờ tiếp cận bất cứ vị nào, vào bất cứ lúc nào.
4590 . Trong lúc đang chói sáng với quyền uy, trong lúc đang đi với quyền lực vĩ đại, vào lúc các bài ca đang được hát, các âm điệu ngọt ngào đang được trình tấu, (ở vườn thượng uyển) được vang dội với các sự đập vỗ của các nhạc cụ, được kết hợp với tiếng chập chõa và tiếng vỗ tay,–
4591 . –thưa vị Migājina, ta đây đã nhìn thấy cây xoài, có trái, mọc ở bên ngoài bức tường, đang bị đâm chọc bởi những con người, bởi những loài sinh vật mong muốn trái cây.
4592 . Ta đây, quả thật đã rời khỏi con vương tượng và leo xuống. Thưa vị Migājina, ta đã đi đến gần gốc của cây xoài có trái và của một cây xoài không có trái.
4593 . Sau khi nhìn thấy cây xoài có trái bị hủy hoại, bị hư hỏng, bị làm cho không còn mầm sống, còn cây xoài kia vẫn xanh tươi, làm thích ý.
4594 . Chắc chắn chúng ta cũng tương tự y như vậy, khi vương quyền là có nhiều chông gai. Những kẻ thù sẽ giết hại chúng ta, giống như cây xoài có trái bị hủy hoại.
4595 . Con báo bị giết chết vì lớp da, con voi bị giết chết bởi những cái ngà, những người có tài sản bị giết chết vì tài sản, ai sẽ giết chết người không có nhà, không có sự thân thiết? Cây xoài có trái và cây không có trái ấy, cả hai đều là bậc đạo sư của ta.”
4596. “Các viên quản tượng, các ngự lâm quân, các xa binh, và các bộ binh, tất cả mọi người đều hốt hoảng: ‘Đức vua đã xuất gia rồi!’
4597 . Sau khi trấn an dân chúng, sau khi thiết lập sự phòng vệ, sau khi đặt con trai vào ngôi vua, rồi sau đó, bệ hạ sẽ xuất gia.”
4598 . “Trẫm đã rời bỏ các người dân, các bạn bè, các quan đại thần, và các thân quyến. Có những người con trai của đất nước Videha, có Dīghāvu là bậc làm hưng thịnh đất nước. Này nữ chúa của muôn dân, các vị ấy sẽ trị vì đất nước ở kinh thành Mithilā.
4599. Nàng hãy đến. Lời dạy nào được trẫm ưa thích thì trẫm học tập theo điều ấy. Trong khi bảo làm lễ phong vương cho con trai, nàng sẽ tạo ra nhiều uế hạnh xấu xa bằng thân, bằng lời nói, bằng ý; vì việc ấy, nàng sẽ đi đến cảnh giới khổ đau.
4600 . ‘Ngươi hãy nuôi sống bằng vật bố thí bởi người khác, được hoàn thành bởi người khác, bằng đồ ăn khất thực, việc ấy là pháp của các bậc sáng trí.’”
4601. “Người nào không ăn vào thời điểm bữa ăn thứ tư thậm chí có thể chết vì đói, tựa như cái chết bất đắc kỳ tử, nhưng chẳng thà là như vậy, bậc thiện nhân, có dáng vóc con nhà danh giá, không nên đụng đến miếng ăn bị lấm bụi đất, không cao thượng. Điều này đây là không tốt lành! Điều này đây là không tốt đẹp! Là việc bệ hạ có thể thọ dụng miếng ăn của con chó đã bị đánh rơi.”
4602. “Này hoàng hậu Sīvalī, vật bị quăng bỏ của gia chủ hoặc của con chó đối với trẫm không phải là vật không ăn được. Ở đây, bất cứ vật thực nào được thọ nhận đúng pháp, tất cả vật ấy là ăn được, không có tội lỗi, như vậy là điều đã được nói đến.”
4603 . “Này bé gái còn đeo bám mẹ, luôn luôn được sửa soạn tươm tất, tại sao một cánh tay của cháu lại kêu, còn một cánh tay của cháu lại không kêu?”
4604. “Thưa ông Sa-môn, ở bàn tay này của con có hai cái vòng được đeo vào. Âm thanh được sanh lên là do sự va chạm. Kết quả ấy chính là do cái thứ hai.
4605. Thưa ông Sa-môn, còn ở bàn tay này của con có một cái vòng được đeo vào. Không có cái thứ hai, cái vòng ấy không tạo ra âm thanh; nó đứng yên tựa như bản thể của bậc hiền trí.
4606 . Người thứ hai tạo ra sự tranh cãi, một người thì sẽ tranh cãi với ai? Nếu ngài đây có sự mong muốn cõi Trời, thì ngài hãy ưa thích trạng thái một mình.
4607 . Này hoàng hậu Sīvalī, nàng hãy lắng nghe các kệ ngôn đã được giảng giải bởi đứa bé gái. Các vị sứ giả đã chê trách ta. Kết quả ấy chính là do người thứ hai.
4608. Này hoàng hậu, con đường có hai ngã rẽ này được các khách bộ hành qua lại. Trong hai ngã rẽ ấy, nàng hãy chọn một ngã rẽ, còn ta sẽ chọn ngã rẽ kia.
4609. Nàng không được gọi ta là ‘chồng của thiếp,’ ta cũng không gọi nàng là ‘vợ’ nữa.” Trong khi đang nói về chính câu chuyện này, hai người đã đi đến thành phố Thūṇa.
4610. Ở xưởng làm của người thợ làm tên, khi thời điểm bữa ăn đã đến, và ở tại nơi đó, người thợ làm tên ấy (trong khi uốn thẳng thân của một cây tên) đã nheo một con mắt lại và nhìn chỗ bị cong bằng một con mắt.
4611 . “Này người thợ làm tên, ngươi hãy lắng nghe ta. Có phải sau khi nheo một con mắt lại, và nhìn chỗ bị cong bằng một con mắt như vậy thì ngươi nhìn rõ hơn?”
4612 . “Thưa vị Sa-môn, bằng hai con mắt dường như nhìn được rộng hơn, thì không nhìn thấy tính chất khác biệt và không đạt được việc làm cho cây tên được ngay thẳng.
4613. Đối với người đã nheo một con mắt lại và nhìn chỗ bị cong bằng một con mắt, thì nhìn thấy tính chất khác biệt và đạt được việc làm cho cây tên được ngay thẳng.
4614 . Người thứ hai tạo ra sự tranh cãi, một người thì sẽ tranh cãi với ai? Nếu ngài đây có sự mong muốn cõi Trời, thì ngài hãy ưa thích trạng thái một mình.”
4615 . “Này hoàng hậu Sīvalī, nàng hãy lắng nghe các kệ ngôn đã được giảng giải bởi người thợ làm tên. Các vị sứ giả đã chê trách ta. Kết quả ấy chính là do người thứ hai.
4616. Này hoàng hậu, con đường có hai ngã rẽ này được các khách bộ hành qua lại. Trong hai ngã rẽ ấy, nàng hãy chọn một ngã rẽ, còn ta sẽ chọn ngã rẽ này.
4617 . Nàng không được gọi ta là ‘chồng của thiếp,’ ta cũng không gọi nàng là ‘vợ’ nữa. Tựa như cọng cỏ muñja là được để riêng ra, này hoàng hậu Sīvalī, nàng hãy sống một mình.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
539. Mahājanakajātakaṃ (2)
539. The Mahājanaka Jātaka (2)
539. Bổn sanh Mahājanaka (2)
123.
123.
123.
‘‘Koyaṃ majjhe samuddasmiṃ, apassaṃ tīramāyuhe;
Kaṃ † tvaṃ atthavasaṃ ñatvā, evaṃ vāyamase bhusaṃ’’.
“Who is this in the midst of the ocean, who strives though seeing no shore? Knowing what purpose, do you exert yourself so intensely?”
Ai đây, giữa biển khơi, không thấy bờ bến mà vẫn nỗ lực? Ngươi biết được lợi ích gì mà lại cố gắng đến thế?
124.
124.
124.
‘‘Nisamma vattaṃ lokassa, vāyāmassa ca devate;
Tasmā majjhe samuddasmiṃ, apassaṃ tīramāyuhe’’.
“Having considered the way of the world and the fruit of exertion, O deity, therefore I strive in the midst of the ocean, though I do not see the shore.”
Hỡi thiên nữ, sau khi suy xét thông lệ của thế gian và của sự tinh tấn, do đó, dù không thấy bờ, tôi vẫn nỗ lực giữa biển khơi.
125.
125.
125.
‘‘Gambhīre appameyyasmiṃ, tīraṃ yassa na dissati;
Mogho te purisavāyāmo, appatvāva marissasi’’.
“In the deep, immeasurable ocean, whose shore is not seen, your human striving is in vain; you will die without reaching it.”
Trong biển sâu thẳm không lường, nơi không thấy được bờ, sự nỗ lực của ngươi là vô ích, ngươi sẽ chết trước khi đến nơi.
126.
126.
126.
‘‘Anaṇo ñātinaṃ hoti, devānaṃ pitunañca † so;
Karaṃ purisakiccāni, na ca pacchānutappati’’.
“He who performs a man's duties becomes free from debt to his kinsmen, to the gods, and to his ancestors; and he does not regret it afterwards.”
Người làm những phận sự của bậc nam tử sẽ không mắc nợ bà con, chư thiên và tổ tiên, và sẽ không hối hận về sau.
127.
127.
127.
‘‘Apāraṇeyyaṃ yaṃ kammaṃ, aphalaṃ kilamathuddayaṃ;
Tattha ko vāyamenattho, maccu yassābhinippataṃ’’ †.
“For a task that cannot be accomplished, that is fruitless and brings only weariness, what is the point of striving, for one upon whom death is impending?”
Việc làm nào không thể thành tựu, không kết quả, chỉ mang lại mệt mỏi, thì có ích gì khi nỗ lực ở đó, khi cái chết chắc chắn sẽ ập đến?
128.
128.
128.
‘‘Apāraṇeyyamaccantaṃ, yo viditvāna devate;
Na rakkhe attano pāṇaṃ, jaññā so yadi hāpaye.
“O deity, one who, knowing something to be utterly impossible, would not protect his own life, should know that he is ensuring his own failure.”
Hỡi thiên nữ, người nào biết rằng (việc gì đó) là hoàn toàn không thể, nếu người ấy từ bỏ, người ấy nên biết rằng mình đã không bảo vệ mạng sống của mình.
129.
129.
129.
‘‘Adhippāyaphalaṃ eke, asmiṃ lokasmi devate;
Payojayanti kammāni, tāni ijjhanti vā na vā.
“O deity, some in this world undertake actions, their intention being the fruit; these may succeed or they may not.”
Hỡi thiên nữ, trong thế gian này, một số người thực hiện các hành động với mong muốn kết quả theo ý định, nhưng chúng có thể thành công hoặc không.
130.
130.
130.
‘‘Sandiṭṭhikaṃ kammaphalaṃ, nanu passasi devate;
Sannā aññe tarāmahaṃ, tañca passāmi santike.
“O deity, do you not see the visible fruit of action? Others have sunk, but I strive to cross; and I see that fruit near at hand.”
Hỡi vị trời, chẳng phải ngài thấy quả của nghiệp là hiện tiền sao? Trong khi những người khác chìm đắm, ta đang cố gắng vượt qua, và ta thấy điều ấy ở gần.
131.
131.
131.
‘‘So ahaṃ vāyamissāmi, yathāsatti yathābalaṃ;
“Therefore I will strive according to my capacity and my strength;
Do vậy, ta sẽ cố gắng, tùy theo khả năng, tùy theo sức lực;
Gacchaṃ pāraṃ samuddassa, kassaṃ † purisakāriyaṃ’’.
going to the far shore of the ocean, I will perform a man’s duty.”
Đi đến bờ bên kia của biển cả, ta sẽ làm phận sự của người nam tử.
132.
132.
132.
‘‘Yo tvaṃ evaṃ gate oghe, appameyye mahaṇṇave;
Dhammavāyāmasampanno, kammunā nāvasīdasi;
So tvaṃ tattheva gacchāhi, yattha te nirato mano’’.
“You who, in such a flood, an immeasurable great ocean, endowed with righteous striving, do not sink because of your action; go, then, to that very place where your mind delights.”
Ngươi, người trong dòng lũ cuốn như thế, trong đại dương bao la không lường được, vẫn đầy đủ tinh tấn đúng Pháp, không chán nản trong hành động. Ngươi như thế, hãy đi đến chính nơi nào mà tâm ngươi vui thích.
133.
133.
133.
‘‘Āsīsetheva † puriso, na nibbindeyya paṇḍito;
Passāmi vohaṃ attānaṃ, yathā icchiṃ tathā ahu.
“A person should indeed aspire; a wise person should not despair. I see myself: as I wished, so it has come to be.”
Người nam tử chỉ nên hy vọng, người có trí không nên chán nản. Ta thấy chính mình, như ta đã mong muốn, việc đã thành như vậy.
134.
134.
134.
‘‘Āsīsetheva puriso, na nibbindeyya paṇḍito;
Passāmi vohaṃ attānaṃ, udakā thalamubbhataṃ.
“A person should indeed aspire; a wise person should not despair. I see myself lifted from the water onto dry land.”
Người nam tử chỉ nên hy vọng, người có trí không nên chán nản. Ta thấy chính mình, được đưa lên đất liền từ dưới nước.
135.
135.
135.
‘‘Vāyametheva puriso, na nibbindeyya paṇḍito;
Passāmi vohaṃ attānaṃ, yathā icchiṃ tathā ahu.
“A person should indeed strive; a wise person should not despair. I see myself: as I wished, so it has come to be.”
Người nam tử chỉ nên cố gắng, người có trí không nên chán nản. Ta thấy chính mình, như ta đã mong muốn, việc đã thành như vậy.
136.
136.
136.
‘‘Vāyametheva puriso, na nibbindeyya paṇḍito;
Passāmi vohaṃ attānaṃ, udakā thalamubbhataṃ.
“A person should indeed strive; a wise person should not despair. I see myself lifted from the water onto dry land.”
Người nam tử chỉ nên cố gắng, người có trí không nên chán nản. Ta thấy chính mình, được đưa lên đất liền từ dưới nước.
137.
137.
137.
‘‘Dukkhūpanītopi naro sapañño, āsaṃ na chindeyya sukhāgamāya;
Bahū hi phassā ahitā hitā ca, avitakkitā maccumupabbajanti †.
“Even a wise person, when afflicted by suffering, should not cut off hope for the coming of happiness; for many experiences, both harmful and beneficial, come to mortals unthought of.”
Người có trí, dù gặp phải khổ đau, không nên cắt đứt hy vọng về hạnh phúc sẽ đến. Vì có nhiều sự tiếp xúc, cả lợi và bất lợi, không lường trước được, vẫn xảy đến cho con người.
138.
138.
138.
‘‘Acintitampi bhavati, cintitampi vinassati;
Na hi cintāmayā bhogā, itthiyā purisassa vā’’.
“Even the unthought-of comes to be, and the thought-of perishes; for possessions are not made of thought, for a woman or a man.”
Điều không nghĩ đến cũng xảy ra, điều nghĩ đến cũng bị tiêu tan. Vì tài sản của người nữ hay của người nam không phải do suy nghĩ mà có.
139.
139.
139.
‘‘Aporāṇaṃ † vata bho rājā, sabbabhummo disampati;
Nājja nacce † nisāmeti, na gīte kurute mano.
“Truly, the king, the lord of all the earth, ruler of the land, is not as he was before; today he does not listen to dancing, nor does he set his mind on song.”
Thật là điều chưa từng có! Vị vua, bậc chúa tể toàn cõi, vị chủ của các phương, hôm nay không nghe vũ nhạc, cũng không để tâm đến ca hát.
140.
140.
140.
‘‘Na mige † napi uyyāne, napi haṃse udikkhati;
Mūgova tuṇhimāsīno, na atthamanusāsati’’.
“He does not look at deer, nor at gardens, nor at swans; like a mute he sits in silence, he does not give instruction on what is beneficial.”
Ngài không nhìn đến thú vật hay vườn ngự uyển, cũng không ngắm nhìn bầy thiên nga. Ngài ngồi im lặng như người câm, không dạy bảo về việc ích lợi.
141.
141.
141.
‘‘Sukhakāmā rahosīlā, vadhabandhā upāratā †;
Kassa † nu ajja ārāme, daharā vuddhā ca acchare.
“Desiring happiness, delighting in solitude, abstaining from killing and bondage; in whose park today do the young and old dwell?”
Những vị mong cầu hạnh phúc, sống hạnh ở nơi vắng lặng, từ bỏ việc giết chóc trói buộc. Những vị trẻ và già đang ở trong vườn hôm nay, là (đệ tử) của ai vậy?
142.
142.
142.
‘‘Atikkantavanathā dhīrā, namo tesaṃ mahesinaṃ;
Ye ussukamhi lokamhi, viharanti manussukā.
“The wise have overcome craving, homage to those great seers; who in this world of striving dwell without striving.”
Các bậc hiền trí đã vượt qua ái dục, xin đảnh lễ các bậc đại ẩn sĩ ấy. Những vị ấy sống không còn tham ái, ở trong thế gian đầy tham ái.
143.
143.
143.
‘‘Te chetvā maccuno jālaṃ, tataṃ † māyāvino daḷaṃ;
Chinnālayattā † gacchanti, ko tesaṃ gatimāpaye’’ †.
“Having cut the net of Death, the strong, spread-out snare of the Deceiver, they go forth, their attachments severed. Who can trace their path?”
Các vị ấy, sau khi cắt đứt tấm lưới bền chắc của tử thần xảo quyệt đã giăng ra, ra đi vì đã đoạn trừ ái luyến. Ai có thể biết được cảnh giới của các vị ấy?
144.
144.
144.
‘‘Kadāhaṃ mithilaṃ † phītaṃ, vibhattaṃ bhāgaso mitaṃ;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu † bhavissati.
“When shall I, having abandoned flourishing Mithilā, divided and measured into portions, go forth into homelessness? When, oh when, will that be?”
Khi nào ta sẽ từ bỏ thành Mithilā thịnh vượng, được phân chia thành từng phần, được đo đạc, để rồi xuất gia? Điều ấy, khi nào sẽ xảy ra?
145.
145.
145.
‘‘Kadāhaṃ mithilaṃ phītaṃ, visālaṃ sabbatopabhaṃ;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
“When shall I, having abandoned flourishing Mithilā, vast and resplendent on every side, go forth into homelessness? When, oh when, will that be?”
Khi nào ta sẽ từ bỏ thành Mithilā thịnh vượng, rộng lớn, rực rỡ khắp mọi nơi, để rồi xuất gia? Điều ấy, khi nào sẽ xảy ra?
146.
146.
146.
‘‘Kadāhaṃ mithilaṃ phītaṃ, bahupākāratoraṇaṃ;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
“When shall I, having abandoned flourishing Mithilā, with its many ramparts and archways, go forth into homelessness? When, oh when, will that be?”
Khi nào ta sẽ từ bỏ thành Mithilā thịnh vượng, có nhiều thành lũy và cổng chào, để rồi xuất gia? Điều ấy, khi nào sẽ xảy ra?
147.
147.
147.
‘‘Kadāhaṃ mithilaṃ phītaṃ, daḷhamaṭṭālakoṭṭhakaṃ;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
“When shall I, having abandoned flourishing Mithilā, with its strong watchtowers and gatehouses, go forth into homelessness? When, oh when, will that be?”
Khi nào ta sẽ từ bỏ thành Mithilā thịnh vượng, có những tháp canh và pháo đài vững chắc, để rồi xuất gia? Điều ấy, khi nào sẽ xảy ra?
148.
148.
148.
‘‘Kadāhaṃ mithilaṃ phītaṃ, suvibhattaṃ mahāpathaṃ;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
“When shall I, having abandoned flourishing Mithilā, with its well-divided great roads, go forth into homelessness? When, oh when, will that be?”
Khi nào ta sẽ từ bỏ thành Mithilā thịnh vượng, có những con đường lớn được phân chia tốt đẹp, để rồi xuất gia? Điều ấy, khi nào sẽ xảy ra?
149.
149.
149.
‘‘Kadāhaṃ mithilaṃ phītaṃ, suvibhattantarāpaṇaṃ;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
“When shall I, having abandoned flourishing Mithilā, with its well-divided inner markets, go forth into homelessness? When, oh when, will that be?”
Khi nào ta sẽ từ bỏ thành Mithilā thịnh vượng, có những khu chợ được phân chia tốt đẹp, để rồi xuất gia? Điều ấy, khi nào sẽ xảy ra?
150.
150.
150.
‘‘Kadāhaṃ mithilaṃ phītaṃ, gavassarathapīḷitaṃ;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
“When shall I, having abandoned flourishing Mithilā, thronged with cattle, horses, and chariots, go forth into homelessness? When, oh when, will that be?”
Khi nào ta sẽ từ bỏ thành Mithilā thịnh vượng, đông đúc với bò, ngựa, và xe cộ, để rồi xuất gia? Điều ấy, khi nào sẽ xảy ra?
151.
151.
151.
‘‘Kadāhaṃ mithilaṃ phītaṃ, ārāmavanamāliniṃ;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
“When shall I, having abandoned flourishing Mithilā, adorned with parks and groves, go forth into homelessness? When, oh when, will that be?”
Khi nào ta sẽ từ bỏ thành Mithilā thịnh vượng, được trang hoàng với những khu vườn và lùm cây, để rồi xuất gia? Điều ấy, khi nào sẽ xảy ra?
152.
152.
152.
‘‘Kadāhaṃ mithilaṃ phītaṃ, uyyānavanamāliniṃ;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
“When shall I, having abandoned flourishing Mithilā, adorned with pleasure gardens and groves, go forth into homelessness? When, oh when, will that be?”
Khi nào ta sẽ từ bỏ thành Mithilā thịnh vượng, được trang hoàng với những công viên và lùm cây, để rồi xuất gia? Điều ấy, khi nào sẽ xảy ra?
153.
153.
153.
‘‘Kadāhaṃ mithilaṃ phītaṃ, pāsādavanamāliniṃ;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
“When shall I abandon flourishing Mithila, adorned with palaces and groves, and go forth? When, oh when, will that be?”
Khi nào ta sẽ từ bỏ thành Mithilā thịnh vượng, được trang hoàng với những lâu đài và lùm cây, để rồi xuất gia? Điều ấy, khi nào sẽ xảy ra?
154.
154.
154.
‘‘Kadāhaṃ mithilaṃ phītaṃ, tipuraṃ rājabandhuniṃ;
Māpitaṃ somanassena, vedehena yasassinā;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
“When shall I abandon flourishing Mithila, the triple-gated city, kinswoman to kings, built by the joyful and glorious Videha, and go forth? When, oh when, will that be?”
Khi nào ta sẽ từ bỏ thành Mithilā thịnh vượng, có ba thành quách, nơi ở của hoàng tộc, được tạo dựng với tâm hoan hỷ bởi vị vua lừng danh của xứ Videha, để rồi xuất gia? Điều ấy, khi nào sẽ xảy ra?
155.
155.
155.
‘‘Kadāhaṃ vedehe phīte, nicite dhammarakkhite;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
“When shall I abandon the flourishing Videhas, teeming and guarded by Dhamma, and go forth? When, oh when, will that be?”
Khi nào ta sẽ từ bỏ vương quốc Videha thịnh vượng, dồi dào của cải, được Chánh pháp bảo hộ, để rồi xuất gia? Điều ấy, khi nào sẽ xảy ra?
156.
156.
156.
‘‘Kadāhaṃ vedehe phīte, ajeyye dhammarakkhite;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
“When shall I abandon the flourishing Videhas, invincible and guarded by Dhamma, and go forth? When, oh when, will that be?”
Khi nào ta sẽ từ bỏ vương quốc Videha thịnh vượng, không thể bị chinh phục, được Chánh pháp bảo hộ, để rồi xuất gia? Điều ấy, khi nào sẽ xảy ra?
157.
157.
157.
‘‘Kadāhaṃ antepuraṃ † rammaṃ, vibhattaṃ bhāgaso mitaṃ;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
“When shall I abandon the delightful inner palace, divided into measured portions, and go forth? When, oh when, will that be?”
Khi nào ta sẽ từ bỏ nội cung khả ái, được phân chia thành từng phần, được đo đạc, để rồi xuất gia? Điều ấy, khi nào sẽ xảy ra?
158.
158.
158.
‘‘Kadāhaṃ antepuraṃ rammaṃ, sudhāmattikalepanaṃ;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
“When shall I abandon the delightful inner palace, plastered with fine lime and clay, and go forth? When, oh when, will that be?”
Khi nào ta sẽ từ bỏ nội cung khả ái, được trát bằng vữa và đất sét, để rồi xuất gia? Điều ấy, khi nào sẽ xảy ra?
159.
159.
159.
‘‘Kadāhaṃ antepuraṃ rammaṃ, sucigandhaṃ manoramaṃ;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
“When shall I abandon the delightful inner palace, fragrant and charming, and go forth? When, oh when, will that be?”
“Khi nào ta từ bỏ hậu cung, nơi vui thú, thơm ngát, đẹp lòng, để rồi sẽ xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra.”
160.
160.
160.
‘‘Kadāhaṃ kūṭāgāre ca, vibhatte bhāgaso mite;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
“When shall I abandon the peaked mansions, divided into measured portions, and go forth? When, oh when, will that be?”
“Khi nào ta từ bỏ các ngôi nhà có nóc nhọn, được phân chia cân đối theo từng phần, để rồi sẽ xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra.”
161.
161.
161.
‘‘Kadāhaṃ kūṭāgāre ca, sudhāmattikalepane;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
“When shall I abandon the peaked mansions, plastered with fine lime and clay, and go forth? When, oh when, will that be?”
“Khi nào ta từ bỏ các ngôi nhà có nóc nhọn, được trát bằng vôi và đất sét, để rồi sẽ xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra.”
162.
162.
162.
‘‘Kadāhaṃ kūṭāgāre ca, sucigandhe manorame;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
“When shall I abandon the peaked mansions, fragrant and delightful, and go forth? When, oh when, will that be?”
“Khi nào ta từ bỏ các ngôi nhà có nóc nhọn, thơm ngát, đẹp lòng, để rồi sẽ xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra.”
163.
163.
163.
‘‘Kadāhaṃ kūṭāgāre ca, litte candanaphosite;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
“When shall I abandon the peaked mansions, smeared and sprinkled with sandalwood, and go forth? When, oh when, will that be?”
“Khi nào ta từ bỏ các ngôi nhà có nóc nhọn, được thoa và rắc hương chiên-đàn, để rồi sẽ xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra.”
164.
164.
164.
‘‘Kadāhaṃ soṇṇapallaṅke †, gonake cittasanthate;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
“When shall I abandon the golden couches, the fleecy coverlets, and the colorful spreads, and go forth? When, oh when, will that be?”
“Khi nào ta từ bỏ các ngai vàng bằng vàng, có các tấm thảm lông dài sặc sỡ, để rồi sẽ xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra.”
165.
165.
165.
† ‘‘Kadāhaṃ maṇipallaṅke, gonake cittasanthate;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati †.
“When shall I abandon the jeweled couches, the fleecy coverlets, and the colorful spreads, and go forth? When, oh when, will that be?”
“Khi nào ta từ bỏ các ngai vàng bằng ngọc, có các tấm thảm lông dài sặc sỡ, để rồi sẽ xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra.”
166.
166.
166.
‘‘Kadāhaṃ kappāsakoseyyaṃ, khomakoṭumbarāni ca;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
“When shall I abandon cotton and silk, linen and cloth from fig trees, and go forth? When, oh when, will that be?”
“Khi nào ta từ bỏ các loại vải bông và lụa, cùng các loại vải gai và vải vỏ cây, để rồi sẽ xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra.”
167.
167.
167.
‘‘Kadāhaṃ pokkharaṇī rammā, cakkavākapakūjitā †;
Mandālakehi sañchannā, padumuppalakehi ca;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
“When shall I abandon the delightful lotus ponds, resounding with the calls of ruddy geese, covered with mandārava flowers, lotuses, and water lilies, and go forth? When, oh when, will that be?”
“Khi nào ta từ bỏ các hồ sen vui thú, vang tiếng chim cakkavāka, được bao phủ bởi các loài hoa mandālaka, hoa sen, và hoa súng, để rồi sẽ xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra.”
168.
168.
168.
‘‘Kadāhaṃ hatthigumbe ca, sabbālaṅkārabhūsite;
Suvaṇṇakacche mātaṅge, hemakappanavāsase.
“When shall I abandon the elephant herds, adorned with all ornaments, the golden-girt elephants, clad in golden trappings,
“Khi nào ta từ bỏ các đàn voi, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức, những con voi có đai bụng bằng vàng, có yên cương và vải phủ bằng vàng.”
169.
169.
169.
‘‘Ārūḷhe gāmaṇīyehi, tomaraṅkusapāṇibhi;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
mounted by leaders with spears and goads in hand, and go forth? When, oh when, will that be?”
“được các vị lãnh đạo cưỡi, tay cầm lao và móc sắt, để rồi sẽ xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra.”
170.
170.
170.
‘‘Kadāhaṃ assagumbe ca, sabbālaṅkārabhūsite;
Ājānīyeva jātiyā, sindhave sīghavāhane.
“When shall I abandon the horse herds, adorned with all ornaments, thoroughbreds by birth, swift Sindhava steeds,
“Khi nào ta từ bỏ các đàn ngựa, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức, những con ngựa thuần chủng, giống Sindh, chạy nhanh,”
171.
171.
171.
‘‘Ārūḷhe gāmaṇīyehi, illiyācāpadhāribhi;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
mounted by leaders bearing swords and bows, and go forth? When, oh when, will that be?”
“được các vị lãnh đạo cưỡi, tay mang gươm và cung, để rồi sẽ xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra.”
172.
172.
172.
‘‘Kadāhaṃ rathaseniyo, sannaddhe ussitaddhaje;
Dīpe athopi veyyagghe, sabbālaṅkārabhūsite.
“When shall I abandon the chariot divisions, harnessed, with banners raised high, decked with leopard and tiger skins, adorned with all ornaments,
“Khi nào ta từ bỏ các đoàn chiến xa, được trang bị, cờ xí dựng cao, bọc da báo và da cọp, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức,”
173.
173.
173.
‘‘Ārūḷhe gāmaṇīyehi, cāpahatthehi vammibhi;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
mounted by leaders with bows in hand and clad in armor, and go forth? When, oh when, will that be?”
“được các vị lãnh đạo cưỡi, tay cầm cung, mình mặc áo giáp, để rồi sẽ xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra.”
174.
174.
174.
‘‘Kadāhaṃ sovaṇṇarathe, sannaddhe ussitaddhaje;
Dīpe athopi veyyagghe, sabbālaṅkārabhūsite.
“When shall I abandon the golden chariots, harnessed, with banners raised high, decked with leopard and tiger skins, adorned with all ornaments,
“Khi nào ta từ bỏ các chiến xa bằng vàng, được trang bị, cờ xí dựng cao, bọc da báo và da cọp, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức,”
175.
175.
175.
‘‘Ārūḷhe gāmaṇīyehi, cāpahatthehi vammibhi;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
mounted by leaders with bows in hand and clad in armor, and go forth? When, oh when, will that be?”
“được các vị lãnh đạo cưỡi, tay cầm cung, mình mặc áo giáp, để rồi sẽ xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra.”
176.
176.
176.
‘‘Kadāhaṃ sajjhurathe ca, sannaddhe ussitaddhaje;
Dīpe athopi veyyagghe, sabbālaṅkārabhūsite.
“When shall I abandon the silver chariots, harnessed, with banners raised high, decked with leopard and tiger skins, adorned with all ornaments,
“Khi nào ta từ bỏ các chiến xa bằng bạc, được trang bị, cờ xí dựng cao, bọc da báo và da cọp, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức,”
177.
177.
177.
‘‘Ārūḷhe gāmaṇīyehi, cāpahatthehi vammibhi;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
mounted by leaders with bows in hand and clad in armor, and go forth? When, oh when, will that be?”
“được các vị lãnh đạo cưỡi, tay cầm cung, mình mặc áo giáp, để rồi sẽ xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra.”
178.
178.
178.
‘‘Kadāhaṃ assarathe ca, sannaddhe ussitaddhaje;
Dīpe athopi veyyagghe, sabbālaṅkārabhūsite.
“When shall I abandon the horse chariots, harnessed, with banners raised high, decked with leopard and tiger skins, adorned with all ornaments,
“Khi nào ta từ bỏ các chiến xa do ngựa kéo, được trang bị, cờ xí dựng cao, bọc da báo và da cọp, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức,”
179.
179.
179.
‘‘Ārūḷhe gāmaṇīyehi, cāpahatthehi vammibhi;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
mounted by leaders with bows in hand and clad in armor, and go forth? When, oh when, will that be?”
“được các vị lãnh đạo cưỡi, tay cầm cung, mình mặc áo giáp, để rồi sẽ xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra.”
180.
180.
180.
‘‘Kadāhaṃ oṭṭharathe ca, sannaddhe ussitaddhaje;
Dīpe athopi veyyagghe, sabbālaṅkārabhūsite.
“When shall I abandon the camel chariots, harnessed, with banners raised high, decked with leopard and tiger skins, adorned with all ornaments,
“Khi nào ta từ bỏ các chiến xa do lạc đà kéo, được trang bị, cờ xí dựng cao, bọc da báo và da cọp, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức,”
181.
181.
181.
‘‘Ārūḷhe gāmaṇīyehi, cāpahatthehi vammibhi;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
mounted by leaders with bows in hand and clad in armor, and go forth? When, oh when, will that be?”
“được các vị lãnh đạo cưỡi, tay cầm cung, mình mặc áo giáp, để rồi sẽ xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra.”
182.
182.
182.
‘‘Kadāhaṃ goṇarathe ca, sannaddhe ussitaddhaje;
Dīpe athopi veyyagghe, sabbālaṅkārabhūsite.
“When shall I abandon the ox chariots, harnessed, with banners raised high, decked with leopard and tiger skins, adorned with all ornaments,
“Khi nào ta từ bỏ các chiến xa do bò kéo, được trang bị, cờ xí dựng cao, bọc da báo và da cọp, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức,”
183.
183.
183.
‘‘Ārūḷhe gāmaṇīyehi, cāpahatthehi vammibhi;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
mounted by leaders with bows in hand and clad in armor, and go forth? When, oh when, will that be?”
“được các vị lãnh đạo cưỡi, tay cầm cung, mình mặc áo giáp, để rồi sẽ xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra.”
184.
184.
184.
‘‘Kadāhaṃ ajarathe ca, sannaddhe ussitaddhaje;
Dīpe athopi veyyagghe, sabbālaṅkārabhūsite.
“When shall I abandon the goat chariots, harnessed, with banners raised high, decked with leopard and tiger skins, adorned with all ornaments,
“Khi nào ta từ bỏ các chiến xa do dê kéo, được trang bị, cờ xí dựng cao, bọc da báo và da cọp, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức,”
185.
185.
185.
‘‘Ārūḷhe gāmaṇīyehi, cāpahatthehi vammibhi;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
mounted by leaders with bows in hand and clad in armor, and go forth? When, oh when, will that be?”
“được các vị lãnh đạo cưỡi, tay cầm cung, mình mặc áo giáp, để rồi sẽ xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra.”
186.
186.
186.
‘‘Kadāhaṃ meṇḍarathe ca, sannaddhe ussitaddhaje;
Dīpe athopi veyyagghe, sabbālaṅkārabhūsite.
“When shall I abandon the ram chariots, harnessed, with banners raised high, decked with leopard and tiger skins, adorned with all ornaments,
“Khi nào ta từ bỏ các chiến xa do cừu đực kéo, được trang bị, cờ xí dựng cao, bọc da báo và da cọp, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức,”
187.
187.
187.
‘‘Ārūḷhe gāmaṇīyehi, cāpahatthehi vammibhi;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
mounted by leaders with bows in hand and clad in armor, and go forth? When, oh when, will that be?”
“được các vị lãnh đạo cưỡi, tay cầm cung, mình mặc áo giáp, để rồi sẽ xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra.”
188.
188.
188.
‘‘Kadāhaṃ migarathe ca, sannaddhe ussitaddhaje;
Dīpe athopi veyyagghe, sabbālaṅkārabhūsite.
“When shall I abandon the deer chariots, harnessed, with banners raised high, decked with leopard and tiger skins, adorned with all ornaments,
“Khi nào ta từ bỏ các chiến xa do nai kéo, được trang bị, cờ xí dựng cao, bọc da báo và da cọp, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức.”
189.
189.
189.
‘‘Ārūḷhe gāmaṇīyehi, cāpahatthehi vammibhi;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
mounted by leaders with bows in hand and clad in armor, and go forth? When, oh when, will that be?”
Khi nào ta sẽ từ bỏ các vị tướng lãnh, tay cầm cung, mình mặc giáp, đã lên (chiến xa), để rồi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra?
190.
190.
190.
‘‘Kadāhaṃ hatthārohe ca, sabbālaṅkārabhūsite;
Nīlavammadhare sūre, tomaraṅkusapāṇine †;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
“When shall I abandon the elephant riders, adorned with all ornaments, brave, clad in blue armor, with spears and goads in hand, and go forth? When, oh when, will that be?”
Khi nào ta sẽ từ bỏ những người quản tượng, được trang sức với mọi đồ trang hoàng, những người anh hùng mặc giáp xanh, tay cầm lao và móc sắt; để rồi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra?
191.
191.
191.
‘‘Kadāhaṃ assārohe ca, sabbālaṅkārabhūsite;
Nīlavammadhare sūre, illiyācāpadhārine †;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
“When shall I abandon the horse riders, adorned with all ornaments, brave, clad in blue armor, bearing swords and bows, and go forth? When, oh when, will that be?”
Khi nào ta sẽ từ bỏ những người kỵ sĩ, được trang sức với mọi đồ trang hoàng, những người anh hùng mặc giáp xanh, tay cầm đoản kiếm và cung; để rồi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra?
192.
192.
192.
‘‘Kadāhaṃ rathārohe ca, sabbālaṅkārabhūsite;
Nīlavammadhare sūre, cāpahatthe kalāpine †;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
“When shall I abandon the chariot riders, adorned with all ornaments, brave, clad in blue armor, with bow in hand and quiver, and go forth? When, oh when, will that be?”
Khi nào ta sẽ từ bỏ những người chiến sĩ trên xe, được trang sức với mọi đồ trang hoàng, những người anh hùng mặc giáp xanh, tay cầm cung, mang ống tên; để rồi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra?
193.
193.
193.
† ‘‘Kadāhaṃ dhanuggahe ca, sabbālaṅkārabhūsite;
Nīlavammadhare sūre, cāpahatthe kalāpine;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati †.
When will I abandon the archers, adorned with all ornaments, brave, wearing blue armor, with bows in hand and quivers, and go forth into homelessness? When will that be?
Khi nào ta sẽ từ bỏ những người cung thủ, được trang sức với mọi đồ trang hoàng, những người anh hùng mặc giáp xanh, tay cầm cung, mang ống tên; để rồi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra?
194.
194.
194.
‘‘Kadāhaṃ rājaputte ca, sabbālaṅkārabhūsite;
Citravammadhare sūre, kañcanāveḷadhārine;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
When will I abandon the princes, adorned with all ornaments, brave, wearing variegated armor, wearing golden bracelets, and go forth into homelessness? When will that be?
Khi nào ta sẽ từ bỏ các vị vương tử, được trang sức với mọi đồ trang hoàng, những người anh hùng mặc giáp sặc sỡ, mang trang sức đầu bằng vàng; để rồi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra?
195.
195.
195.
‘‘Kadāhaṃ ariyagaṇe ca, vatavante † alaṅkate;
Haricandanalittaṅge, kāsikuttamadhārine;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
When will I abandon the noble retinues, endowed with vows, adorned, their limbs smeared with yellow sandalwood, wearing the finest Kasi cloth, and go forth into homelessness? When will that be?
Khi nào ta sẽ từ bỏ đoàn tùy tùng cao quý, những người đức hạnh và được trang điểm, thân thoa gỗ chiên đàn vàng, mình mặc y phục Kāsi thượng hạng; để rồi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra?
196.
196.
196.
† ‘‘Kadāhaṃ amaccagaṇe ca, sabbālaṅkārabhūsite;
Pītavammadhare sūre, purato gacchamāline †;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati †.
When will I abandon the host of ministers, adorned with all ornaments, brave, wearing yellow armor, garlanded and walking in front, and go forth into homelessness? When will that be?
Khi nào ta sẽ từ bỏ các vị cận thần, được trang sức với mọi đồ trang hoàng, những người anh hùng mặc giáp vàng, đi phía trước và mang vòng hoa; để rồi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra?
197.
197.
197.
‘‘Kadāhaṃ † sattasatā bhariyā, sabbālaṅkārabhūsitā;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
When will I abandon seven hundred wives, adorned with all ornaments, and go forth into homelessness? When will that be?
Khi nào ta sẽ từ bỏ bảy trăm người vợ, được trang sức với mọi đồ trang hoàng; để rồi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra?
198.
198.
198.
‘‘Kadāhaṃ † sattasatā bhariyā, susaññā tanumajjhimā;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
When will I abandon seven hundred wives, of good conduct, slender-waisted, and go forth into homelessness? When will that be?
Khi nào ta sẽ từ bỏ bảy trăm người vợ, thân hình cân đối, eo lưng thon thả; để rồi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra?
199.
199.
199.
‘‘Kadāhaṃ † sattasatā bhariyā, assavā piyabhāṇinī;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
When will I abandon seven hundred wives, obedient, sweet-spoken, and go forth into homelessness? When will that be?
Khi nào ta sẽ từ bỏ bảy trăm người vợ, những người vâng lời, nói lời khả ái; để rồi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra?
200.
200.
200.
‘‘Kadāhaṃ † satapalaṃ kaṃsaṃ, sovaṇṇaṃ satarājikaṃ;
Pahāya pabbajissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
When will I abandon a bronze bowl of one hundred palas and a golden coin of a hundred rājikas, and go forth into homelessness? When will that be?
Khi nào ta sẽ từ bỏ chiếc bát bằng đồng trị giá trăm pala, và chiếc bát bằng vàng có trăm vạch; để rồi xuất gia? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra?
201.
201.
201.
‘‘Kadāssu maṃ hatthigumbā, sabbālaṅkārabhūsitā;
Suvaṇṇakacchā mātaṅgā, hemakappanavāsasā.
When will it be that the herds of elephants, adorned with all ornaments, with golden girths, mighty elephants, clad in golden caparisons,
Khi nào những đàn voi, được trang sức với mọi đồ trang hoàng, những con voi chiến có đai bụng bằng vàng, với đồ trang bị bằng vàng và vải mới,
202.
202.
202.
‘‘Ārūḷhā gāmaṇīyehi, tomaraṅkusapāṇibhi;
Yantaṃ maṃ nānuyissanti, taṃ kudāssu bhavissati.
mounted by chieftains with spears and goads in hand, will no longer follow me as I go? When will that be?
Được các tướng lãnh tay cầm lao và móc sắt cưỡi lên, sẽ không còn đi theo ta khi ta ra đi? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra?
203.
203.
203.
‘‘Kadāssu maṃ assagumbā, sabbālaṅkārabhūsitā;
Ājānīyāva jātiyā, sindhavā sīghavāhanā.
When will it be that the herds of horses, adorned with all ornaments, thoroughbreds by birth, from Sindh, swift-moving,
Khi nào những đàn ngựa, được trang sức với mọi đồ trang hoàng, thuộc giống nòi cao quý, ngựa xứ Sindh, chạy nhanh như gió,
204.
204.
204.
‘‘Ārūḷhā gāmaṇīyehi, illiyācāpadhāribhi;
Yantaṃ maṃ nānuyissanti, taṃ kudāssu bhavissati.
mounted by chieftains holding swords and bows, will no longer follow me as I go? When will that be?
Được các tướng lãnh tay cầm đoản kiếm và cung cưỡi lên, sẽ không còn đi theo ta khi ta ra đi? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra?
205.
205.
205.
‘‘Kadāssu maṃ rathasenī, sannaddhā ussitaddhajā;
Dīpā athopi veyyagghā, sabbālaṅkārabhūsitā.
When will it be that the chariot forces, equipped, with banners raised high, adorned with leopard and tiger skins, adorned with all ornaments,
Khi nào đạo quân chiến xa, được trang bị đầy đủ, cờ xí dựng cao, bọc da báo và cả da cọp, được trang sức với mọi đồ trang hoàng,
206.
206.
206.
‘‘Ārūḷhā gāmaṇīyehi, cāpahatthehi vammibhi;
Yantaṃ maṃ nānuyissanti, taṃ kudāssu bhavissati.
mounted by chieftains, with bows in hand, armored, will no longer follow me as I go? When will that be?
Được các tướng lãnh tay cầm cung, mình mặc giáp điều khiển, sẽ không còn đi theo ta khi ta ra đi? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra?
207.
207.
207.
‘‘Kadāssu maṃ soṇṇarathā †, sannaddhā ussitaddhajā;
Dīpā athopi veyyagghā, sabbālaṅkārabhūsitā.
When will it be that the golden chariots, equipped, with banners raised high, adorned with leopard and tiger skins, adorned with all ornaments,
Khi nào những chiến xa bằng vàng, được trang bị đầy đủ, cờ xí dựng cao, bọc da báo và cả da cọp, được trang sức với mọi đồ trang hoàng,
208.
208.
208.
‘‘Ārūḷhā gāmaṇīyehi, cāpahatthehi vammibhi;
Yantaṃ maṃ nānuyissanti, taṃ kudāssu bhavissati.
mounted by chieftains, with bows in hand, armored, will no longer follow me as I go? When will that be?
Được các tướng lãnh tay cầm cung, mình mặc giáp điều khiển, sẽ không còn đi theo ta khi ta ra đi? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra?
209.
209.
209.
‘‘Kadāssu maṃ sajjhurathā, sannaddhā ussitaddhajā;
Dīpā athopi veyyagghā, sabbālaṅkārabhūsitā.
When will it be that the silver chariots, equipped, with banners raised high, adorned with leopard and tiger skins, adorned with all ornaments,
Khi nào những chiến xa bằng bạc, được trang bị đầy đủ, cờ xí dựng cao, bọc da báo và cả da cọp, được trang sức với mọi đồ trang hoàng,
210.
210.
210.
‘‘Ārūḷhā gāmaṇīyehi, cāpahatthehi vammibhi;
Yantaṃ maṃ nānuyissanti, taṃ kudāssu bhavissati.
mounted by chieftains, with bows in hand, armored, will no longer follow me as I go? When will that be?
Được các tướng lãnh tay cầm cung, mình mặc giáp điều khiển, sẽ không còn đi theo ta khi ta ra đi? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra?
211.
211.
211.
‘‘Kadāssu maṃ assarathā, sannaddhā ussitaddhajā;
Dīpā athopi veyyagghā, sabbālaṅkārabhūsitā.
When will it be that the horse chariots, equipped, with banners raised high, adorned with leopard and tiger skins, adorned with all ornaments,
Khi nào những chiến xa do ngựa kéo, được trang bị đầy đủ, cờ xí dựng cao, bọc da báo và cả da cọp, được trang sức với mọi đồ trang hoàng,
212.
212.
212.
‘‘Ārūḷhā gāmaṇīyehi, cāpahatthehi vammibhi;
Yantaṃ maṃ nānuyissanti, taṃ kudāssu bhavissati.
mounted by chieftains, with bows in hand, armored, will no longer follow me as I go? When will that be?
Được các tướng lãnh tay cầm cung, mình mặc giáp điều khiển, sẽ không còn đi theo ta khi ta ra đi? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra?
213.
213.
213.
‘‘Kadāssu maṃ oṭṭharathā, sannaddhā ussitaddhajā;
Dīpā athopi veyyagghā, sabbālaṅkārabhūsitā.
When will it be that the camel chariots, equipped, with banners raised high, adorned with leopard and tiger skins, adorned with all ornaments,
Khi nào những chiến xa do lạc đà kéo, được trang bị đầy đủ, cờ xí dựng cao, bọc da báo và cả da cọp, được trang sức với mọi đồ trang hoàng,
214.
214.
214.
‘‘Ārūḷhā gāmaṇīyehi, cāpahatthehi vammibhi;
Yantaṃ maṃ nānuyissanti, taṃ kudāssu bhavissati.
mounted by chieftains, with bows in hand, armored, will no longer follow me as I go? When will that be?
Được các tướng lãnh tay cầm cung, mình mặc giáp điều khiển, sẽ không còn đi theo ta khi ta ra đi? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra?
215.
215.
215.
‘‘Kadāssu maṃ goṇarathā, sannaddhā ussitaddhajā;
Dīpā athopi veyyagghā, sabbālaṅkārabhūsitā.
When will it be that the ox chariots, equipped, with banners raised high, adorned with leopard and tiger skins, adorned with all ornaments,
Khi nào những chiến xa do bò kéo, được trang bị đầy đủ, cờ xí dựng cao, bọc da báo và cả da cọp, được trang sức với mọi đồ trang hoàng,
216.
216.
216.
‘‘Ārūḷhā gāmaṇīyehi, cāpahatthehi vammibhi;
Yantaṃ maṃ nānuyissanti, taṃ kudāssu bhavissati.
mounted by chieftains, with bows in hand, armored, will no longer follow me as I go? When will that be?
Được các tướng lãnh tay cầm cung, mình mặc giáp điều khiển, sẽ không còn đi theo ta khi ta ra đi? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra?
217.
217.
217.
‘‘Kadāssu maṃ ajarathā, sannaddhā ussitaddhajā;
Dīpā athopi veyyagghā, sabbālaṅkārabhūsitā.
When will it be that the goat chariots, equipped, with banners raised high, adorned with leopard and tiger skins, adorned with all ornaments,
Khi nào những chiến xa do dê kéo, được trang bị đầy đủ, cờ xí dựng cao, bọc da báo và cả da cọp, được trang sức với mọi đồ trang hoàng,
218.
218.
218.
‘‘Ārūḷhā gāmaṇīyehi, cāpahatthehi vammibhi;
Yantaṃ maṃ nānuyissanti, taṃ kudāssu bhavissati.
mounted by chieftains, with bows in hand, armored, will no longer follow me as I go? When will that be?
Được các tướng lãnh tay cầm cung, mình mặc giáp điều khiển, sẽ không còn đi theo ta khi ta ra đi? Khi nào điều ấy sẽ xảy ra?
219.
219.
219.
‘‘Kadāssu maṃ meṇḍarathā, sannaddhā ussitaddhajā;
Dīpā athopi veyyagghā, sabbālaṅkārabhūsitā.
When will it be that the ram chariots, equipped, with banners raised high, adorned with leopard and tiger skins, adorned with all ornaments,
“Khi nào những cỗ xe do cừu kéo, được trang bị, cờ xí dựng cao, bọc da báo và cả da cọp, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức.
220.
220.
220.
‘‘Ārūḷhā gāmaṇīyehi, cāpahatthehi vammibhi;
Yantaṃ maṃ nānuyissanti, taṃ kudāssu bhavissati.
mounted by chieftains, with bows in hand, armored, will no longer follow me as I go? When will that be?
“Được ngồi lên bởi những người lãnh đạo tay cầm cung, mặc áo giáp; sẽ đi theo ta đang đi, việc ấy khi nào sẽ xảy ra?
221.
221.
221.
‘‘Kadāssu maṃ migarathā, sannaddhā ussitaddhajā;
Dīpā athopi veyyagghā, sabbālaṅkārabhūsitā.
When will it be that the deer chariots, equipped, with banners raised high, adorned with leopard and tiger skins, adorned with all ornaments,
“Khi nào những cỗ xe do nai kéo, được trang bị, cờ xí dựng cao, bọc da báo và cả da cọp, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức.
222.
222.
222.
‘‘Ārūḷhā gāmaṇīyehi, cāpahatthehi vammibhi;
Yantaṃ maṃ nānuyissanti, taṃ kudāssu bhavissati.
mounted by chieftains, with bows in hand, armored, will no longer follow me as I go? When will that be?
“Được ngồi lên bởi những người lãnh đạo tay cầm cung, mặc áo giáp; sẽ đi theo ta đang đi, việc ấy khi nào sẽ xảy ra?
223.
223.
223.
‘‘Kadāssu maṃ hatthārohā, sabbālaṅkārabhūsitā;
Nīlavammadharā sūrā, tomaraṅkusapāṇino;
Yantaṃ maṃ nānuyissanti, taṃ kudāssu bhavissati.
When will it be that the elephant riders, adorned with all ornaments, brave, wearing blue armor, with spears and goads in hand, will no longer follow me as I go? When will that be?
“Khi nào những người cỡi voi, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức, những người dũng cảm mặc áo giáp xanh, tay cầm lao và móc sắt; sẽ đi theo ta đang đi, việc ấy khi nào sẽ xảy ra?
224.
224.
224.
‘‘Kadāssu maṃ assārohā, sabbālaṅkārabhūsitā;
Nīlavammadharā sūrā, illiyācāpadhārino;
Yantaṃ maṃ nānuyissanti, taṃ kudāssu bhavissati.
When will it be that the horse riders, adorned with all ornaments, brave, wearing blue armor, holding swords and bows, will no longer follow me as I go? When will that be?
“Khi nào những người cỡi ngựa, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức, những người dũng cảm mặc áo giáp xanh, mang gươm và cung; sẽ đi theo ta đang đi, việc ấy khi nào sẽ xảy ra?
225.
225.
225.
‘‘Kadāssu maṃ rathārohā, sabbālaṅkārabhūsitā;
Nīlavammadharā sūrā, cāpahatthā kalāpino;
Yantaṃ maṃ nānuyissanti, taṃ kudāssu bhavissati.
When will it be that the chariot riders, adorned with all ornaments, brave, wearing blue armor, with bows in hand and quivers, will no longer follow me as I go? When will that be?
“Khi nào những người cỡi xe, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức, những người dũng cảm mặc áo giáp xanh, tay cầm cung, mang ống tên; sẽ đi theo ta đang đi, việc ấy khi nào sẽ xảy ra?
226.
226.
226.
‘‘Kadāssu maṃ dhanuggahā, sabbālaṅkārabhūsitā;
Nīlavammadharā sūrā, cāpahatthā kalāpino;
Yantaṃ maṃ nānuyissanti, taṃ kudāssu bhavissati.
When will it be that the archers, adorned with all ornaments, brave, wearing blue armor, with bows in hand and quivers, will no longer follow me as I go? When will that be?
“Khi nào những người cầm cung, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức, những người dũng cảm mặc áo giáp xanh, tay cầm cung, mang ống tên; sẽ đi theo ta đang đi, việc ấy khi nào sẽ xảy ra?
227.
227.
227.
‘‘Kadāssu maṃ rājaputtā, sabbālaṅkārabhūsitā;
Citravammadharā sūrā, kañcanāveḷadhārino;
Yantaṃ maṃ nānuyissanti, taṃ kudāssu bhavissati.
When will it be that the princes, adorned with all ornaments, brave, wearing variegated armor, wearing golden bracelets, will no longer follow me as I go? When will that be?
“Khi nào các vương tử, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức, những người dũng cảm mặc áo giáp sặc sỡ, mang vòng hoa vàng; sẽ đi theo ta đang đi, việc ấy khi nào sẽ xảy ra?
228.
228.
228.
‘‘Kadāssu maṃ ariyagaṇā, vatavantā alaṅkatā;
Haricandanalittaṅgā, kāsikuttamadhārino;
Yantaṃ maṃ nānuyissanti, taṃ kudāssu bhavissati.
When will it be that the noble retinues, endowed with vows, adorned, their limbs smeared with yellow sandalwood, wearing the finest Kasi cloth, will no longer follow me as I go? When will that be?
“Khi nào đoàn tùy tùng cao quý, những người có giới hạnh, được trang điểm, thân mình thoa bột chiên đàn vàng, mặc y phục thượng hạng xứ Kasi; sẽ đi theo ta đang đi, việc ấy khi nào sẽ xảy ra?
229.
229.
229.
‘‘Kadāssu maṃ amaccagaṇā, sabbālaṅkārabhūsitā;
Pītavammadharā sūrā, purato gacchamālino †;
Yantaṃ maṃ nānuyissanti, taṃ kudāssu bhavissati.
When will it be that the host of ministers, adorned with all ornaments, brave, wearing yellow armor, garlanded and walking in front, will no longer follow me as I go? When will that be?
“Khi nào đoàn các vị bộ trưởng, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức, những người dũng cảm mặc áo giáp vàng, mang vòng hoa đi ở phía trước; sẽ đi theo ta đang đi, việc ấy khi nào sẽ xảy ra?
230.
230.
230.
‘‘Kadāssu maṃ sattasatā bhariyā, sabbālaṅkārabhūsitā;
Yantaṃ maṃ nānuyissanti, taṃ kudāssu bhavissati.
When will it be that my seven hundred wives, adorned with all ornaments, will no longer follow me as I go? When will that be?
“Khi nào bảy trăm người vợ, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức, sẽ đi theo ta đang đi, việc ấy khi nào sẽ xảy ra?
231.
231.
231.
‘‘Kadāssu maṃ sattasatā bhariyā, susaññā tanumajjhimā;
Yantaṃ maṃ nānuyissanti, taṃ kudāssu bhavissati.
When will it be that my seven hundred wives, of good conduct, slender-waisted, will no longer follow me as I go? When will that be?
“Khi nào bảy trăm người vợ, có thân hình cân đối, eo thon, sẽ đi theo ta đang đi, việc ấy khi nào sẽ xảy ra?
232.
232.
232.
‘‘Kadāssu maṃ sattasatā bhariyā, assavā piyabhāṇinī;
Yantaṃ maṃ nānuyissanti, taṃ kudāssu bhavissati.
When will it be that my seven hundred wives, obedient, sweet-spoken, will no longer follow me as I go? When will that be?
“Khi nào bảy trăm người vợ, biết vâng lời, nói lời ái ngữ, sẽ đi theo ta đang đi, việc ấy khi nào sẽ xảy ra?
233.
233.
233.
‘‘Kadāhaṃ pattaṃ gahetvāna, muṇḍo saṅghāṭipāruto;
Piṇḍikāya carissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
When shall I, taking a bowl, shaven-headed, wrapped in the outer robe, wander for alms? When will that be?
“Khi nào ta, đầu đã cạo trọc, đắp y tăng-già-lê, cầm lấy bình bát, sẽ đi khất thực, việc ấy khi nào sẽ xảy ra?
234.
234.
234.
‘‘Kadāhaṃ paṃsukūlānaṃ, ujjhitānaṃ † mahāpathe;
Saṅghāṭiṃ dhārayissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
When shall I wear an outer robe made of rags discarded on the highway? When will that be?
“Khi nào ta sẽ mặc y tăng-già-lê làm từ những tấm y phấn tảo bị vứt bỏ trên đường lớn, việc ấy khi nào sẽ xảy ra?
235.
235.
235.
‘‘Kadāhaṃ sattāhasammeghe †, ovaṭṭho allacīvaro;
Piṇḍikāya carissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
When shall I, drenched in a continuous seven-day rain, with wet robes, wander for alms? When will that be?
“Khi nào ta, trong cơn mưa dầm bảy ngày, bị ướt đẫm, y phục ướt sũng, sẽ đi khất thực, việc ấy khi nào sẽ xảy ra?
236.
236.
236.
‘‘Kadāhaṃ sabbattha gantvā †, rukkhā rukkhaṃ vanā vanaṃ;
Anapekkho gamissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
When shall I, having gone everywhere, from tree to tree, from forest to forest, go without longing? When will that be?
“Khi nào ta, đi khắp nơi, từ cây này đến cây khác, từ rừng này đến rừng khác, sẽ đi không luyến tiếc, việc ấy khi nào sẽ xảy ra?
237.
237.
237.
‘‘Kadāhaṃ giriduggesu, pahīnabhayabheravo;
Adutiyo gamissāmi †, taṃ kudāssu bhavissati.
When shall I, having abandoned fear and dread, go alone to mountain fastnesses? When will that be?
“Khi nào ta, trong các vùng núi hiểm trở, đã từ bỏ sợ hãi và kinh hoàng, sẽ đi một mình, việc ấy khi nào sẽ xảy ra?
238.
238.
238.
‘‘Kadāhaṃ vīṇaṃ varujjako †, sattatantiṃ manoramaṃ;
Cittaṃ ujuṃ karissāmi, taṃ kudāssu bhavissati.
When shall I, like one who tunes a seven-stringed, delightful lute, make my mind straight? When will that be?
“Khi nào ta sẽ làm cho tâm được ngay thẳng, như người thợ đàn chỉnh cây đàn tỳ-bà bảy dây đáng yêu, việc ấy khi nào sẽ xảy ra?
239.
239.
239.
‘‘Kadāhaṃ rathakārova, parikantaṃ upāhanaṃ;
Kāmasaññojane checchaṃ †, ye dibbe ye ca mānuse’’.
When shall I, like a wheelwright cutting leather for a shoe, cut through the fetters of sensual desire, both divine and human?
“Khi nào ta, giống như người thợ làm xe cắt xung quanh miếng da làm giày, sẽ cắt đứt các kiết sử của dục ái, những thứ thuộc cõi trời và những thứ thuộc cõi người”.
240.
240.
240.
‘‘Tā ca sattasatā bhariyā, sabbālaṅkārabhūsitā;
Bāhā paggayha pakkanduṃ, kasmā no vijahissasi.
And those seven hundred wives, adorned with all ornaments, raising their arms, cried out: 'Why will you abandon us?'
“Và bảy trăm người vợ ấy, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức, giơ tay lên và than khóc: ‘Tại sao ngài lại từ bỏ chúng con?’
241.
241.
241.
‘‘Tā ca sattasatā bhariyā, susaññā tanumajjhimā;
Bāhā paggayha pakkanduṃ, kasmā no vijahissasi.
And those seven hundred wives, well-proportioned, slender-waisted, raising their arms, cried out: 'Why will you abandon us?'
“Và bảy trăm người vợ ấy, có thân hình cân đối, eo thon, giơ tay lên và than khóc: ‘Tại sao ngài lại từ bỏ chúng con?’
242.
242.
242.
‘‘Tā ca sattasatā bhariyā, assavā piyabhāṇinī;
Bāhā paggayha pakkanduṃ, kasmā no vijahissasi.
And those seven hundred wives, obedient, sweet-spoken, raising their arms, cried out: 'Why will you abandon us?'
“Và bảy trăm người vợ ấy, biết vâng lời, nói lời ái ngữ, giơ tay lên và than khóc: ‘Tại sao ngài lại từ bỏ chúng con?’
243.
243.
243.
‘‘Tā ca sattasatā bhariyā, sabbālaṅkārabhūsitā;
Hitvā sampaddavī † rājā, pabbajjāya purakkhato.
Having abandoned those seven hundred wives, adorned with all ornaments, the king rushed forth, intent on the going forth.
“Và bảy trăm người vợ ấy, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức, nhà vua đã từ bỏ và ra đi, với ý định xuất gia.
244.
244.
244.
‘‘Tā ca sattasatā bhariyā, susaññā tanumajjhimā;
Hitvā sampaddavī rājā, pabbajjāya purakkhato.
Having abandoned those seven hundred wives, well-proportioned and slender-waisted, the king rushed forth, intent on the going forth.
“Và bảy trăm người vợ ấy, có thân hình cân đối, eo thon, nhà vua đã từ bỏ và ra đi, với ý định xuất gia.
245.
245.
245.
‘‘Tā ca sattasatā bhariyā, assavā piyabhāṇinī;
Hitvā sampaddavī rājā, pabbajjāya purakkhato’’.
Having abandoned those seven hundred wives, obedient and sweet-spoken, the king rushed forth, intent on the going forth.
“Và bảy trăm người vợ ấy, biết vâng lời, nói lời ái ngữ, nhà vua đã từ bỏ và ra đi, với ý định xuất gia”.
246.
246.
246.
‘‘Hitvā satapalaṃ kaṃsaṃ, sovaṇṇaṃ satarājikaṃ;
Aggahī mattikaṃ pattaṃ, taṃ dutiyābhisecanaṃ’’.
Having abandoned a bronze bowl worth a hundred palas and a golden one of great value, he took up a clay bowl; that was his second consecration.
“Đã từ bỏ cái bát bằng đồng trị giá một trăm pala, cái bát bằng vàng trị giá một trăm ngàn, vị ấy đã cầm lấy bình bát bằng đất; đó là lễ đăng quang lần thứ hai của vị ấy”.
247.
247.
247.
‘‘Bhesmā † aggisamā jālā, kosā ḍayhanti bhāgaso;
Rajataṃ jātarūpañca, muttā veḷuriyā bahū.
Fearsome, fire-like flames blaze, treasures are burnt piecemeal; silver and gold, and many pearls and beryl gems.
“Những ngọn lửa kinh hoàng, các kho tàng đang bị cháy từng phần; bạc và vàng ròng, nhiều ngọc trai và lưu ly.
248.
248.
248.
‘‘Maṇayo saṅkhamuttā ca, vatthikaṃ haricandanaṃ;
Ajinaṃ daṇḍabhaṇḍañca, lohaṃ kāḷāyasaṃ bahū;
Ehi rāja nivattassu, mā tetaṃ vinasā dhanaṃ’’ †.
Gems, conches, and pearls, fabrics, yellow sandalwood, hides, staffs, and wares, much bronze and iron—come, O king, turn back! Let not this wealth of yours be destroyed.
“Ngọc báu và ngọc xà cừ, vải vóc và chiên đàn vàng, da thú và đồ bằng ngà, nhiều đồng và sắt đen. Xin hãy đến, hỡi đức vua, hãy quay lại! Xin đừng để tài sản này của ngài bị hủy hoại”.
249.
249.
249.
‘‘Susukhaṃ vata jīvāma, yesaṃ no natthi kiñcanaṃ;
Mithilāya dayhamānāya, na me kiñci adayhatha’’.
Oh, how happily we live, we who have nothing. While Mithilā is burning, nothing of mine is burned.
Ôi, chúng ta sống thật an lạc, những người không có gì (sở hữu); Khi thành Mithilā bị cháy, không có gì của ta bị thiêu rụi.
250.
250.
250.
‘‘Aṭaviyo samuppannā, raṭṭhaṃ viddhaṃsayanti taṃ;
Ehi rāja nivattassu, mā raṭṭhaṃ vinasā idaṃ’’.
Rebels have arisen, they are destroying the kingdom; come, O king, turn back, let not this kingdom perish.
Các toán giặc cướp đã nổi lên, chúng đang tàn phá vương quốc ấy. Xin đức vua hãy quay về, đừng để vương quốc này bị diệt vong.
251.
251.
251.
‘‘Susukhaṃ vata jīvāma, yesaṃ no natthi kiñcanaṃ;
Raṭṭhe vilumpamānamhi, na † me kiñci ahīratha.
Oh, how happily we live, we who have nothing. While the kingdom is being plundered, nothing of mine is taken.
Ôi, chúng ta sống thật an lạc, những người không có gì (sở hữu); Khi vương quốc bị cướp phá, không có gì của ta bị lấy đi.
252.
252.
252.
‘‘Susukhaṃ vata jīvāma, yesaṃ no natthi kiñcanaṃ;
Pītibhakkhā bhavissāma, devā ābhassarā yathā’’.
Oh, how happily we live, we who have nothing. We shall feed on joy, like the Ābhassara gods.
Ôi, chúng ta sống thật an lạc, những người không có gì (sở hữu); Chúng ta sẽ nuôi sống bằng hỷ lạc, giống như chư Thiên ở cõi Quang Âm.
253.
253.
253.
‘‘Kimheso mahato ghoso, kā nu gāmeva kīḷiyā †;
Samaṇa teva † pucchāma, kattheso abhisaṭo jano’’.
What is this great noise? What village festival is this? We ask you, ascetic, where has this crowd gathered?
Tiếng ồn ào to lớn này là gì vậy, sao lại có trò vui như ở trong làng? Thưa Sa-môn, chúng tôi xin hỏi ngài, đám đông dân chúng này tụ tập ở đâu?
254.
254.
254.
‘‘Mamaṃ ohāya gacchantaṃ, ettheso abhisaṭo jano;
Sīmātikkamanaṃ yantaṃ, munimonassa pattiyā;
Missaṃ nandīhi gacchantaṃ, kiṃ jānamanupucchasi’’.
This crowd has gathered here for me as I go, having abandoned all, crossing the boundary to attain the sage's silence. Why do you ask as if you do not know, seeing them follow, attached to worldly pleasures?
Đám đông dân chúng này tụ tập ở đây (vì thấy) ta đang ra đi, sau khi đã từ bỏ; (thấy ta) đang đi để vượt qua ranh giới, để đạt được sự tịch lặng của bậc ẩn sĩ; (thấy ta) đang đi với niềm hoan hỷ. Tại sao ngài biết mà còn hỏi?
255.
255.
255.
‘‘Māssu tiṇṇo amaññittha †, sarīraṃ dhārayaṃ imaṃ;
Atīraṇeyya yamidaṃ †, bahū hi paripanthayo’’.
Do not think you have crossed over while still bearing this body; for this is difficult to cross, and many indeed are the obstacles.
Chớ nên nghĩ rằng mình đã vượt qua, khi còn đang mang thân này. Điều này vẫn chưa được vượt qua, vì còn có nhiều hiểm nguy.
256.
256.
256.
‘‘Ko nu me paripanthassa, mamaṃ evaṃvihārino;
Yo neva diṭṭhe nādiṭṭhe, kāmānamabhipatthaye’’.
What obstacle could there be for me, living thus, who longs for no sensual pleasures, neither in the seen nor in the unseen?
Ai có thể là hiểm nguy cho ta, cho ta là người sống như thế này? Người mà không hề mong cầu các dục lạc, dù là đã thấy hay chưa thấy.
257.
257.
257.
‘‘Niddā tandī vijambhitā, aratī bhattasammado;
Āvasanti sarīraṭṭhā, bahū hi paripanthayo’’.
Sleep, sloth, yawning, discontent, and drowsiness from food—these abide in the body; many indeed are the obstacles.
Buồn ngủ, lười biếng, vươn vai; sự bất mãn, và sự mê mệt sau khi ăn; (chúng) trú ngụ ở trong thân. Thật vậy, có nhiều hiểm nguy.
258.
258.
258.
‘‘Kalyāṇaṃ vata maṃ bhavaṃ, brāhmaṇa manusāsati †;
Brāhmaṇa teva † pucchāmi, ko nu tvamasi mārisa’’.
Indeed, good sir, O brahmin, you advise me well. O brahmin, I ask you, who are you, venerable sir?
Thật tốt thay, thưa ngài Bà-la-môn, ngài đã chỉ dạy cho tôi. Thưa ngài Bà-la-môn, tôi xin hỏi ngài, thưa hiền giả, ngài là ai vậy?
259.
259.
259.
‘‘Nārado iti me nāmaṃ †, kassapo iti maṃ vidū;
Bhoto sakāsamāgacchiṃ, sādhu sabbhi samāgamo.
My name is Nārada; they know me as Kassapa. I have come into your presence; good is the meeting with the virtuous.
Tên của tôi là Nārada, người ta biết tôi là Kassapa. Tôi đã đến gặp ngài, thật tốt thay sự gặp gỡ với bậc thiện nhân.
260.
260.
260.
‘‘Tassa te sabbo ānando, vihāro upavattatu;
Yaṃ ūnaṃ † taṃ paripūrehi, khantiyā upasamena ca.
May all joy and a peaceful abiding be yours. Whatever is lacking, fulfill it with patience and tranquility.
Mong rằng tất cả niềm hoan hỷ và lối sống ấy của ngài được tiếp tục. Điều gì còn thiếu sót, hãy làm cho viên mãn bằng sự nhẫn nại và sự an tịnh.
261.
261.
261.
‘‘Pasāraya sannatañca, unnatañca pasāraya †;
Kammaṃ vijjañca dhammañca, sakkatvāna paribbaja’’.
Extend what is contracted, and extend what is raised up; having honored action, knowledge, and the Dhamma, wander forth.
Hãy trải rộng (tâm từ) đến chúng sanh thấp kém, và hãy trải rộng đến chúng sanh cao thượng. Hãy tôn trọng nghiệp, minh và pháp, rồi hãy du hành.
262.
262.
262.
‘‘Bahū hatthī ca asse ca, nagare janapadāni ca;
Hitvā janaka pabbajito, kapāle † ratimajjhagā.
Many elephants and horses, and cities and kingdoms too—having abandoned them, Janaka, I went forth and found delight in the alms bowl.
Nhiều voi và ngựa, các thành phố và các xứ sở, vua Janaka đã từ bỏ (tất cả) và xuất gia, đã tìm thấy sự hoan hỷ trong bình bát.
263.
263.
263.
‘‘Kacci nu te jānapadā, mittāmaccā ca ñātakā;
Dubbhimakaṃsu janaka, kasmā te taṃ aruccatha’’.
Surely it is not that your countrymen, friends, ministers, and kinsmen have turned against you, O Janaka? Why then did that life displease you?
Thưa ngài Janaka, có phải dân chúng, bạn bè, quần thần và quyến thuộc đã làm điều sai trái với ngài chăng? Tại sao ngài không còn ưa thích điều ấy (đời sống thế tục)?
264.
264.
264.
‘‘Na migājina jātucche †, ahaṃ kañci kudācanaṃ;
Adhammena jine ñātiṃ, na cāpi ñātayo mamaṃ.
Never, O deer-skin wearer, would I at any time unrighteously conquer any kinsman, nor would my kinsmen conquer me.
Thưa ngài Migājina, không hề có chuyện đó. Tôi chưa bao giờ chinh phục quyến thuộc một cách phi pháp, và quyến thuộc cũng không (chinh phục) tôi.
265.
265.
265.
‘‘Disvāna lokavattantaṃ, khajjantaṃ kaddamīkataṃ;
Haññare bajjhare cettha, yattha sanno † puthujjano;
Having seen the way of the world, being consumed and mired in mud, where they are killed and bound, where the common person is sunk in attachment;
Sau khi đã thấy diễn biến của thế gian, bị ăn nuốt, bị biến thành vũng lầy; ở đây chúng sanh bị giết, bị trói buộc, nơi mà kẻ phàm phu bị chìm đắm;
Etāhaṃ upamaṃ katvā, bhikkhakosmi migājina’’.
Having drawn this analogy, O deer-skin wearer, I became a mendicant.
Sau khi thực hiện sự so sánh ấy, thưa ngài Migājina, tôi đã trở thành một vị Tỳ-khưu.
266.
266.
266.
‘‘Ko nu te bhagavā satthā, kassetaṃ vacanaṃ suci;
Na hi kappaṃ vā vijjaṃ vā, paccakkhāya rathesabha;
Who then is your Blessed One, your Teacher? Whose word is this, so pure? Surely, O bull among charioteers, you have not rejected some doctrine or knowledge,
Ai là Thế Tôn, là bậc Đạo Sư của ngài? Lời dạy trong sạch này là của ai? Thưa bậc lãnh đạo, vì rằng ngài đã không từ bỏ các quy tắc hay kiến thức (thế gian),
Samaṇaṃ āhu vattantaṃ, yathā dukkhassatikkamo’’.
for they call one a contemplative who speaks of how suffering is overcome.
người ta nói rằng một vị Sa-môn sống theo cách để có thể vượt qua đau khổ.
267.
267.
267.
‘‘Na migājina jātucche, ahaṃ kañci kudācanaṃ;
Samaṇaṃ brāhmaṇaṃ vāpi, sakkatvā anupāvisiṃ’’.
Never, O deer-skin wearer, did I at any time approach any contemplative or brahmin to pay homage.
Thưa ngài Migājina, không hề có chuyện đó, tôi chưa bao giờ, sau khi đã tôn kính, lại gần gũi một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào (để học hỏi).
268.
268.
268.
‘‘Mahatā cānubhāvena, gacchanto siriyā jalaṃ;
Gīyamānesu gītesu, vajjamānesu vaggusu.
With great majesty, going forth and blazing with glory, while songs were being sung and sweet instruments played,
Khi đang đi với uy lực lớn lao, tỏa sáng với vẻ huy hoàng; trong khi các bài hát đang được ca lên, trong khi các nhạc cụ hay đang được tấu lên.
269.
269.
269.
‘‘Tūriyatāḷasaṅghuṭṭhe †, sammatālasamāhite;
Sa migājina maddakkhiṃ, phaliṃ † ambaṃ tirocchadaṃ;
Haññamānaṃ † manussehi, phalakāmehi jantubhi.
Amidst the resounding of instruments and cymbals, in measured rhythm and harmony, I saw, O deer-skin wearer, a fruitful mango tree with dense foliage, being struck by men, by creatures desiring its fruit.
Giữa tiếng nhạc cụ và tiếng vỗ tay vang dội, được hòa hợp nhịp nhàng; khi ấy, thưa ngài Migājina, tôi đã thấy một cây xoài có trái ở sau bức tường; đang bị người ta, những chúng sanh ham muốn trái cây, đập phá.
270.
270.
270.
‘‘So khohaṃ taṃ siriṃ hitvā, orohitvā migājina;
Mūlaṃ ambassupāgacchiṃ, phalino nipphalassa ca.
So indeed, O deer-skin wearer, having abandoned that glory and descended, I approached the roots of the mango trees—the fruitful one and the fruitless one.
Thế rồi, thưa ngài Migājina, tôi đã từ bỏ sự huy hoàng ấy, đã xuống (khỏi voi), và đã đi đến gốc cây xoài, (cây) có trái và (cây) không có trái.
271.
271.
271.
‘‘Phaliṃ † ambaṃ hataṃ disvā, viddhaṃstaṃ vinaḷīkataṃ;
Athekaṃ † itaraṃ ambaṃ, nīlobhāsaṃ manoramaṃ.
Having seen the fruitful mango struck, destroyed, and ruined, then another mango, blue-hued and delightful.
Sau khi thấy cây xoài có trái bị đập phá, bị hủy hoại, bị bẻ gãy cành; và (thấy) cây xoài kia, cây còn lại, xanh tươi và đẹp đẽ.
272.
272.
272.
‘‘Evameva nūnamhepi †, issare bahukaṇṭake;
Amittā no vadhissanti, yathā ambo phalī hato.
Just so, indeed, shall we, being rulers with many troubles, be struck down by our enemies, just as the fruitful mango is struck.
Cũng như thế, chắc chắn chúng ta, những người cai trị có nhiều chông gai (phiền não), kẻ thù sẽ giết chúng ta, giống như cây xoài có trái đã bị đập phá.
273.
273.
273.
‘‘Ajinamhi haññate dīpi, nāgo dantehi haññate;
Dhanamhi dhanino hanti, aniketamasanthavaṃ;
Phalī ambo aphalo ca, te satthāro ubho mama’’.
The leopard is killed for its hide, the elephant is killed for its tusks; the wealthy are killed for their wealth. I will be without a home and without acquaintance. The fruitful mango and the fruitless one—both are my teachers.
Con báo bị giết vì bộ da, con voi bị giết vì cặp ngà; người giàu bị giết vì của cải. (Ta sẽ là người) không nhà, không thân thuộc. Cây xoài có trái và cây không trái, cả hai đều là thầy của ta.
274.
274.
274.
‘‘Sabbo jano pabyādhito, rājā pabbajito iti;
Hatthārohā anīkaṭṭhā, rathikā pattikārakā.
All the people are afflicted, saying, 'The king has gone forth!' The elephant riders, the soldiers, the charioteers, and the infantry.
Tất cả dân chúng đều đau khổ, (nghĩ rằng): 'Đức vua đã xuất gia rồi!'. Những người quản tượng, các tướng lãnh, những người đánh xe, và các binh lính bộ binh (cũng vậy).
275.
275.
275.
‘‘Assāsayitvā janataṃ, ṭhapayitvā paṭicchadaṃ;
Puttaṃ rajje ṭhapetvāna, atha pacchā pabbajissasi’’.
Having reassured the people, having established the royal umbrella, having installed your son in the kingdom, then afterward you may go forth.
Sau khi đã an ủi dân chúng, sau khi đã sắp đặt người kế vị, sau khi đã đặt con trai lên ngôi báu, rồi sau đó ngài hãy xuất gia.
276.
276.
276.
‘‘Cattā mayā jānapadā, mittāmaccā ca ñātakā;
Santi puttā videhānaṃ, dīghāvu raṭṭhavaḍḍhano;
Te rajjaṃ kārayissanti, mithilāyaṃ pajāpati’’.
Countrymen have been abandoned by me, and friends, ministers, and kinsmen. There are sons of the Videhas; my son Dīghāvu, the increaser of the realm, is long-lived. They will administer the kingdom in Mithilā, O lady.
Dân chúng, bạn bè, quần thần và quyến thuộc đã được ta từ bỏ. Có những người con của xứ Videha, (đó là) Dīghāvu, người làm cho vương quốc thịnh vượng. Thưa ngài chủ của dân chúng, họ sẽ cai trị vương quốc ở Mithilā.
277.
277.
277.
‘‘Ehi taṃ anusikkhāmi, yaṃ vākyaṃ mama ruccati;
Rajjaṃ tuvaṃ kārayasi †, pāpaṃ duccaritaṃ bahuṃ;
Kāyena vācā manasā, yena gacchasi † duggatiṃ.
Come, I will instruct you in that word which pleases me. You rule the kingdom, committing much evil and misconduct by body, speech, and mind, by which you go to a woeful state.
Hãy lại đây, ta sẽ dạy cho ngươi, lời nói mà ta ưa thích; Ngươi đang trị vì vương quốc, (làm) nhiều điều ác, hành vi xấu xa; Bằng thân, khẩu, và ý, do đó ngươi sẽ đi đến ác thú.
278.
278.
278.
‘‘Paradinnakena paraniṭṭhitena, piṇḍena yāpehi sa dhīradhammo’’.
Let that wise one subsist on alms-food given by others, prepared by others.
Hãy nuôi sống bằng vật thực khất thực, do người khác dâng cúng, do người khác chuẩn bị, đó là pháp của bậc hiền trí.
279.
279.
279.
‘‘Yopi catutthe bhattakāle na bhuñje, ajuṭṭhamārīva † khudāya miyye;
Na tveva piṇḍaṃ luḷitaṃ anariyaṃ, kulaputtarūpo sappuriso na seve;
Tayidaṃ na sādhu tayidaṃ na suṭṭhu, sunakhucchiṭṭhakaṃ janaka bhuñjase tuvaṃ’’.
Even if one should not eat until the fourth mealtime and die of hunger, like one who refuses leftovers, still a person of good family, a true person, should not partake of defiled, ignoble alms-food. This is not good, this is not right—you eat what is left by dogs, O Janaka.
Dầu cho đến bữa ăn thứ tư mà không được ăn, có thể chết vì đói như con quạ không được ăn; Nhưng người thiện nam tử, bậc chân nhân, chắc chắn không nên thọ dụng vật thực khất thực đã bị vấy bẩn, không xứng bậc Thánh. Thưa phụ vương, điều này không tốt lành, điều này không tốt đẹp, ngài lại ăn vật thừa của chó.
280.
280.
280.
‘‘Na cāpi me sīvali so abhakkho, yaṃ hoti cattaṃ gihino sunassa vā;
Ye keci bhogā idha dhammaladdhā, sabbo so bhakkho anavayoti † vutto’’.
Nor, O Sīvali, is that inedible for me, whatever is given up by a householder or by a dog. Whatever provisions are righteously gained here, all that is food, declared to be blameless.
Này Sīvali, đối với ta, đó không phải là vật không thể ăn được, vật đã được từ bỏ bởi người gia chủ hay bởi con chó. Bất cứ tài vật nào ở đây có được một cách hợp pháp, tất cả những thứ ấy được gọi là vật thực không có lỗi lầm.
281.
281.
281.
‘‘Kumārike upaseniye, niccaṃ niggaḷamaṇḍite;
Kasmā te eko bhujo janati, eko te na janatī bhujo’’.
O maiden Upaseni, constantly adorned with bracelets, why does one of your arms make a sound, while the other arm makes no sound?
Này cô gái Upasenī, người luôn được trang điểm bằng vòng xuyến; Tại sao một cánh tay của cô lại kêu, còn một cánh tay của cô lại không kêu?
282.
282.
282.
‘‘Imasmiṃ me samaṇa hatthe, paṭimukkā dunīvarā †;
Saṅghātā † jāyate saddo, dutiyasseva sā gati.
In this hand of mine, O ascetic, two bracelets are fastened; a sound arises from their striking together. Such is the nature of a pair.
Thưa Sa-môn, trên cánh tay này của tôi, có đeo hai chiếc vòng; Do va chạm, âm thanh được phát sinh, đó chính là bản chất của cái thứ hai.
283.
283.
283.
‘‘Imasmiṃ me samaṇa hatthe, paṭimukko ekanīvaro †;
So adutiyo na janati, munibhūtova tiṭṭhati.
In this hand of mine, O ascetic, a single bracelet is fastened; being without a second, it makes no sound. It remains as if it were a sage.
Thưa Sa-môn, trên cánh tay này của tôi, có đeo một chiếc vòng; Nó không có cái thứ hai, nên không kêu, nó đứng yên lặng như bậc ẩn sĩ.
284.
284.
284.
‘‘Vivādappatto † dutiyo, keneko vivadissati;
Tassa te saggakāmassa, ekattamuparocataṃ’’.
A second person leads to dispute; with whom can one who is alone dispute? For you, who are desirous of heaven, may solitude be pleasing.
Cái thứ hai dẫn đến tranh cãi, một mình thì tranh cãi với ai? Đối với ngươi, người mong cầu cõi trời, sự độc cư nên được ưa thích.
285.
285.
285.
‘‘Suṇāsi sīvali kathā †, kumāriyā paveditā;
Pesiyā † maṃ garahittho, dutiyasseva sā gati.
Do you hear, O Sīvali, the words declared by the maiden? You blamed me for this servile life; such is the nature of a second person.
Này Sīvali, nàng có nghe lời nói do cô gái đã tuyên thuyết không? Nàng đã khiển trách ta vì có người hầu, đó chính là bản chất của cái thứ hai.
286.
286.
286.
‘‘Ayaṃ dvedhāpatho bhadde, anuciṇṇo pathāvihi;
Tesaṃ tvaṃ ekaṃ gaṇhāhi, ahamekaṃ punāparaṃ.
Here, fair lady, is a forked path, frequented by travelers. Of these, you take one, and I will take the other.
Này hiền thê, đây là con đường hai ngả, được những người bộ hành thường đi theo. Trong số đó, nàng hãy chọn lấy một, còn ta sẽ (chọn) con đường kia.
287.
287.
287.
‘‘Māvaca † maṃ tvaṃ pati meti, nāhaṃ † bhariyāti vā puna’’;
‘‘Imameva kathayantā, thūṇaṃ nagarupāgamuṃ.
Do not call me 'my husband,' and I will not call you 'my wife' again.' Speaking just this, they approached the city pillar.
Nàng đừng gọi ta là 'chồng của em', cũng như ta (sẽ không gọi nàng) là 'vợ của ta'. Trong khi đang nói lời này, họ đã đi đến thành Thūṇa.
288.
288.
288.
‘‘Koṭṭhake usukārassa, bhattakāle upaṭṭhite;
Tatrā ca so usukāro, (ekaṃ daṇḍaṃ ujuṃ kataṃ;) †
Ekañca cakkhuṃ niggayha, jimhamekena pekkhati’’.
At the arrow-maker's workshop, when mealtime arrived, that arrow-maker, having made a shaft straight, closing one eye, squints with the other.
Tại cửa hàng của người làm tên, khi giờ ăn đã đến; Ở đó, người làm tên ấy, (đang làm cho một cây tên được thẳng;) nhắm một con mắt lại, và nhìn bằng con mắt kia một cách xiên xẹo.
289.
289.
289.
‘‘Evaṃ no sādhu passasi, usukāra suṇohi me;
Yadekaṃ cakkhuṃ niggayha, jimhamekena pekkhasi’’.
Thus you do not see well, O arrow-maker, listen to me: that you close one eye and squint with the other.
Ngươi nhìn như vậy không được tốt, này người làm tên, hãy nghe ta; Khi ngươi nhắm một con mắt, và nhìn bằng con mắt kia một cách xiên xẹo.
290.
290.
290.
‘‘Dvīhi samaṇa cakkhūhi, visālaṃ viya khāyati;
Asampatvā paramaṃ † liṅgaṃ, nujubhāvāya kappati.
O ascetic, with two eyes it appears vast; without reaching the final mark, it is not fit for straightness.
Thưa Sa-môn, với hai con mắt, dường như nhìn thấy rộng rãi; Khi chưa đạt đến mục tiêu tối hậu, nó không thích hợp để làm cho thẳng.
291.
291.
291.
‘‘Ekañca cakkhuṃ niggayha, jimhamekena pekkhato;
Sampatvā paramaṃ liṅgaṃ, ujubhāvāya kappati.
But for one who, closing one eye and squinting with the other, reaches the final mark, it is fit for straightness.
Khi nhắm một con mắt, và nhìn bằng con mắt kia một cách xiên xẹo; Khi đã đạt đến mục tiêu tối hậu, nó thích hợp để làm cho thẳng.
292.
292.
292.
‘‘Vivādappatto † dutiyo, keneko vivadissati;
Tassa te saggakāmassa, ekattamuparocataṃ’’.
A second person leads to dispute; with whom can one who is alone dispute? For you, who are desirous of heaven, may solitude be pleasing.
Cái thứ hai dẫn đến tranh cãi, một mình thì tranh cãi với ai? Đối với ngươi, người mong cầu cõi trời, sự độc cư nên được ưa thích.
293.
293.
293.
‘‘Suṇāsi sīvali kathā †, usukārena veditā;
Pesiyā maṃ garahittho, dutiyasseva sā gati.
Do you hear, O Sīvali, the words made known by the arrow-maker? You blamed me for this servile life; such is the nature of a second person.
Này Sīvali, nàng có nghe lời nói do người làm tên đã tuyên thuyết không? Nàng đã khiển trách ta vì có người hầu, đó chính là bản chất của cái thứ hai.
294.
294.
294.
‘‘Ayaṃ dvedhāpatho bhadde, anuciṇṇo pathāvihi;
Tesaṃ tvaṃ ekaṃ gaṇhāhi, ahamekaṃ punāparaṃ.
Here, fair lady, is a forked path, frequented by travelers. Of these, you take one, and I will take the other.
Này hiền thê, đây là con đường hai ngả, được những người bộ hành thường đi theo. Trong số đó, nàng hãy chọn lấy một, còn ta sẽ (chọn) con đường kia.
295.
295.
295.
‘‘Māvaca maṃ tvaṃ pati meti, nāhaṃ bhariyāti vā puna’’;
‘‘Muñjāvesikā pavāḷhā, ekā vihara sīvalī’’ti.
Do not call me 'my husband,' and I will not call you 'my wife' again. Like a stalk of muñja grass pulled from its sheath, live alone, O Sīvali.
Nàng đừng gọi ta là 'chồng của em', cũng như ta (sẽ không gọi nàng) là 'vợ của ta'. Này Sīvali, người có mái tóc như cỏ muñja đã được gỡ rối, hãy sống một mình.
Mahājanakajātakaṃ dutiyaṃ.
The Mahājanaka Jātaka, the Second.
Bổn sanh Mahājanaka, phần thứ hai.