Bản dịch
JA 538 — Chuyện Vương tử què câm (Tiền thân Mùga-Pakka)
1 Mūgapakkhajātaka
4320 . “Con chớ tỏ ra sáng suốt, hãy tỏ ra ngu khờ trước tất cả chúng sanh, hãy để tất cả mọi người xem thường con; như vậy, sẽ có sự lợi ích cho con.”
4321 . “Thưa nữ thần, con sẽ làm theo lời nói ấy của mẹ, theo điều mẹ nói với con. Thưa mẹ, mẹ có lòng mong muốn lợi ích cho con, mẹ có lòng mong mỏi sự tốt đẹp cho con, thưa nữ thần.”
4322 . “Này người đánh xe, việc gì mà ông vội vã đào cái hố vậy? Được ta hỏi, này ông bạn, ông hãy giải thích cho ta, ông sẽ làm gì với cái hố?”
4323 . “Người con trai đã được sanh ra của đức vua là bị câm, què, và ngớ ngẩn. Tôi đây được đức vua ra lệnh: ‘Khanh có thể vùi lấp đứa con trai của trẫm ở khu rừng.’”
4324 . “Ta không bị điếc, không bị câm, không bị què, cũng không bị khuyết tật. Này người đánh xe, ngươi sẽ tạo ra điều phi pháp nếu ngươi vùi lấp ta ở khu rừng.
4325 . Ngươi hãy nhìn xem hai bắp đùi và hai cánh tay của ta. Ngươi hãy lắng nghe lời nói của ta. Này người đánh xe, ngươi sẽ tạo ra điều phi pháp nếu ngươi vùi lấp ta ở khu rừng.”
4326. “Phải chăng ngài là vị Thiên nhân, là vị Càn-thát-bà, hay là Thiên Chủ Sakka, vị đã bố thí trước đây? Ngài là ai, hay ngài là con của người nào? Làm thế nào chúng tôi có thể biết về ngài?”
4327 . “Ta không phải là Thiên nhân, không phải là Càn-thát-bà, cũng không phải là Thiên Chủ Sakka, vị đã bố thí trước đây. Ta là con trai của đức vua xứ Kāsi, là người mà ngươi sẽ vùi lấp trong cái hố.
4328. Ta là con trai của đức vua của ngươi, vị vua mà ngươi sống nương tựa. Này người đánh xe, ngươi sẽ tạo ra điều phi pháp nếu ngươi vùi lấp ta ở khu rừng.
4329 . Người ngồi hoặc nằm ở bóng râm của cây nào thì không nên bẻ gãy cành lá của cây ấy, bởi vì kẻ phản bội bạn bè là kẻ ác xấu.
4330 . Đức vua ví như thân cây, ta ví như cành lá, còn ngươi được ví như người đi đến bóng râm. Này người đánh xe, ngươi sẽ tạo ra điều phi pháp nếu ngươi vùi lấp ta ở khu rừng.
4331. Người nào không phản bội các bạn bè, dầu sống xa lìa căn nhà của mình, vẫn có dồi dào thức ăn; nhiều người chu cấp cho vị ấy.
4332. Người nào không phản bội các bạn bè, khi đi đến xứ sở này xứ sở nọ, các thị trấn, các kinh thành, đều được tôn vinh ở khắp mọi nơi.
4333. Người nào không phản bội các bạn bè, các kẻ cướp không áp bức vị này, các vị Sát-đế-lỵ không khi dễ; vị ấy vượt qua tất cả những kẻ thù.
4334. Người nào không phản bội các bạn bè, vị ấy đi về nhà mình không bị nóng giận, được đón mừng ở hội chúng, là vị tốt nhất trong các thân quyến.
4335. Người nào không phản bội các bạn bè, vị ấy tôn trọng kẻ khác và được kẻ khác tôn trọng, được kẻ khác kính trọng và có sự kính trọng kẻ khác; vị ấy có được sự ca ngợi và tiếng tăm.
4336 . Người nào không phản bội các bạn bè là vị tôn vinh kẻ khác và nhận được sự tôn vinh, là vị cúi chào và nhận được sự cúi chào lại; vị ấy đạt được danh vọng và tiếng tăm.
4337. Người nào không phản bội các bạn bè, giống như ngọn lửa cháy sáng, tựa như vị Thiên nhân chói sáng, vị ấy không bị suy giảm sự vinh quang.
4338. Người nào không phản bội các bạn bè, trâu bò của vị ấy sinh sôi, hạt đã gieo xuống mọc lên ở cánh đồng, vị ấy hưởng thụ kết quả của các thứ đã được gieo trồng.
4339. Người nào không phản bội các bạn bè, nếu bị rơi xuống từ vực thẳm, từ ngọn núi, hoặc từ cây cối, chết đi thì đạt được nơi an toàn.
4340. Người nào không phản bội các bạn bè, các kẻ thù không áp bức vị ấy, tựa như làn gió không lay chuyển được cây đa có rễ ở gốc và rễ ở cành được phát triển.”
4341. “Thưa hoàng tử, ngài hãy đến, tôi sẽ đưa ngài về lại căn nhà của ngài. Thưa tôn đức, ngài hãy trị vì vương quốc. Ở rừng, thì ngài sẽ làm gì?”
4342. “Quá đủ cho ta với vương quốc, với các thân quyến, hay tài sản! Này người đánh xe, vương quốc được nhận lãnh là do sự thực hành phi pháp của ta (trong tiền kiếp).”
4343 . “Thưa hoàng tử, ngài sẽ được nhận lãnh bát rượu đầy khi trở về từ nơi này. Thưa hoàng tử, phụ vương và mẫu hậu sẽ ban thưởng cho tôi khi ngài về đến.
4344 . Các cung phi, các vương tử, các thương nhân, và các vị Bà-la-môn, bọn họ, được hoan hỷ, cũng sẽ ban thưởng (cho tôi) khi ngài về đến, thưa hoàng tử.
4345 . Các viên quản tượng, các ngự lâm quân, các xa binh, và các bộ binh, bọn họ, được hài lòng, cũng sẽ ban thưởng cho tôi khi ngài về đến, thưa hoàng tử.
4346. Nhiều cư dân khác và các thị dân sẽ tụ hội lại; họ sẽ ban thưởng các tặng phẩm cho tôi khi ngài về đến, thưa hoàng tử.”
4347. “Ta đã bị phụ vương và mẫu hậu từ bỏ. Đối với đất nước, phố chợ, và các vương tử dòng Sakya, ta không có căn nhà của bản thân.
4348. Ta được mẫu hậu cho phép, ta bị phụ vương từ bỏ hẳn. Một mình ở trong rừng, ta đã xuất ly, ta không mong cầu về ngũ dục.
4349. Kết quả mong muốn được thành tựu cho những người không vội vã. Ta có Phạm hạnh đã được thuần thục, này người đánh xe, ngươi hãy biết như thế.
4350 . Thêm nữa, mục đích chân chánh được thành tựu cho những người không vội vã. Ta có Phạm hạnh đã được thuần thục, ta đã xuất ly, không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu.”
4351. “Ngài trầm tĩnh, có lời giải thích ngọt ngào, và còn có lời nói sang sảng. Tại sao khi ở gần phụ vương và mẫu hậu, ngài đã không nói vào lúc ấy?”
4352. “Ta không bị què do tình trạng thiếu xương, không bị điếc d0 không thể nghe, không bị câm do không có lưỡi. Chớ nghĩ rằng ta bị câm.
4353 . Ta nhớ lại kiếp sống trước đây, tại nơi ấy ta đã trị vì đất nước. Sau khi trị vì đất nước tại nơi ấy, ta đã rơi vào địa ngục nhiều lần.
4354 . Ta đã trị vì đất nước ở nơi ấy đúng hai mươi năm, rồi đã bị nung nấu ở địa ngục đến tám mươi ngàn năm.
4355. Ta khiếp sợ vương quyền ấy, (nghĩ rằng): ‘Chớ để họ làm lễ phong vương cho ta.’ Vì thế, khi ở gần phụ vương và mẫu hậu, ta đã không nói vào lúc ấy.
4356 . Sau khi đặt ta ngồi ở trong lòng, phụ vương chỉ dạy ta về mục đích: ‘Con hãy giết chết, hãy giam cầm một người, hãy bôi chất kiềm vào vết thương của một người, hãy đặt một người ở trên cọc nhọn,’ phụ vương chỉ dạy mục đích là như vậy.
4357 . Sau khi đã nghe những lời nói được thốt ra một cách thô bạo của phụ vương, không bị câm ta với vẻ như câm, không bị què ta được xem là què; ta đã sống, bị đắm chìm trong nước tiểu và phân của chính mình.
4358 . Cuộc sống ấy là nhọc nhằn, nhỏ nhoi, và bị gắn liền với khổ đau; vì cuộc sống ấy, người nào lại có thể tạo ra sự thù hận vì bất cứ lý do nào?
4359 . Do không đạt được trí tuệ và không nhìn thấy Thánh pháp; vì cuộc sống ấy, người nào lại có thể tạo ra sự thù hận vì bất cứ lý do nào?
4360 . Kết quả mong muốn được thành tựu cho những người không vội vã. Ta có Phạm hạnh đã được thuần thục, này người đánh xe, ngươi hãy biết như thế.
4361 . Thêm nữa, mục đích chân chánh được thành tựu cho những người không vội vã. Ta có Phạm hạnh đã được thuần thục, ta đã đi ra khỏi (nhà), không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu.”
4362 . “Tôi cũng sẽ xuất gia trong sự chứng minh ngài, thưa hoàng tử. Thưa tôn đức, xin ngài hãy gọi tôi. Việc xuất gia được tôi ưa thích.”
4363 . “Ngươi hãy đem trả lại cỗ xe, ngươi hãy là người không nợ nần, này người đánh xe. Bởi vì, việc xuất gia là dành cho người không nợ nần; điều này được các bậc ẩn sĩ ca ngợi.”
4364. “Hãy để tôi làm theo lời nói của ngài; việc như vậy là tốt đẹp cho ngài. Được tôi yêu cầu, xin ngài hãy thực hiện lời nói của tôi.
4365. Xin ngài hãy ở lại ngay tại chỗ này đến khi nào tôi đưa đức vua lại. Có lẽ sau khi nhìn thấy ngài, phụ thân của ngài sẽ mừng rỡ, hài lòng.”
4366. “Này người đánh xe, hãy để ta làm theo lời nói của ngươi, theo điều ngươi nói với ta. Ta cũng muốn nhìn thấy phụ vương của ta đi đến nơi này.
4367 . Này ông bạn, ngươi hãy đi, hãy quay trở về. Ngươi hãy nói lời chúc lành đến các thân quyến. Ngươi hãy lập lại lời đảnh lễ của ta đến mẫu hậu và phụ vương.”
4368 . Sau khi sờ lấy hai bàn chân của vị hoàng từ và đi nhiễu quanh vị ấy, người đánh xe đã leo lên cỗ xe rồi đi đến cánh cổng của hoàng cung.
4369 . Mẫu hậu, sau khi nhìn thấy cỗ xe trống không và một mình người đánh xe trở về, trong khi than khóc với đôi mắt đẫm lệ, đã quan sát gã ấy, (nói rằng):
4370 . “Gã đánh xe ấy trở về sau khi đã giết chết con trai của ta. Đứa con trai của ta chắc chắn đã bị giết chết, và quả địa cầu có thêm lớp đất.
4371 . Những kẻ thù có sự kết oán, nhìn thấy gã đánh xe ấy trở về sau khi đã giết chết con trai của ta, chắc chắn sẽ vui mừng, chắc chắn được hớn hở.”
4372 . Mẫu hậu, sau khi nhìn thấy cỗ xe trống không và một mình người đánh xe trở về, trong khi than khóc với đôi mắt đẫm lệ, đã hỏi han rằng:
4373 . “Hoàng tử có bị câm chăng, có bị què chăng, nó đã than van điều gì vào lúc ấy, trong khi bị giết chết ở trên mặt đất? Này người đánh xe, ngươi hãy kể lại điều ấy cho ta.
4374 . Đứa con trai câm và què của ta đã tránh né với các bàn tay và bàn chân như thế nào, trong khi bị giết chết ở trên mặt đất? Này người đánh xe, ngươi hãy kể lại điều ấy cho ta.”
4375 . “Tâu lệnh bà, nếu lệnh bà ban cho thần sự bình an, thần sẽ kể lại cho lệnh bà về điều thần đã được nghe, hoặc đã được thấy khi ở bên cạnh hoàng tử.”
4376 . “Này khanh, ta ban cho ngươi sự bình an. Này người đánh xe, chớ khiếp sợ, ngươi hãy nói về điều ngươi đã được nghe, hoặc đã được thấy khi ở bên cạnh hoàng tử.”
4377. “Vị ấy không bị câm, vị ấy không bị què, vị ấy còn có lời nói sang sảng. Nghe nói ngài khiếp sợ vương quyền nên đã làm nhiều việc giả vờ.
4378 . Vị ấy nhớ lại kiếp sống trước đây, tại nơi ấy ngài đã trị vì đất nước, sau khi trị vì đất nước tại nơi ấy, ngài đã rơi vào địa ngục nhiều lần.
4379 . Vị ấy đã trị vì đất nước ở nơi ấy đúng hai mươi năm, rồi đã bị nung nấu ở địa ngục đến tám mươi ngàn năm.
4380. Vị ấy bị khiếp sợ vương quyền ấy, (nghĩ rằng): ‘Chớ để họ làm lễ phong vương cho ta.’ Vì thế, khi ở gần phụ vương và mẫu hậu, vị ấy đã không nói vào lúc ấy.
4381 . Được đầy đủ các bộ phận thân thể, có chiều cao và bề ngang, có lời nói sang sảng, có trí tuệ, hoàng tử đứng ở đạo lộ đi đến cõi Trời.
4382 . Nếu lệnh bà mong muốn nhìn thấy con trai của lệnh bà, tâu hoàng hậu, xin lệnh bà hãy ra lệnh đi đến nơi hoàng tử Temiya cư ngụ.”
4383. “Các khanh hãy thắng các con ngựa vào các cỗ xe, hãy buộc dây đai cho các con voi, hãy khua vang các trống con và các tù và vỏ ốc, hãy làm vang lên các chiếc trống một mặt.
4384. Hãy làm gầm lên các chiếc trống lớn đã được buộc chặt, hãy làm chiếc trống lệnh vang lên âm thanh ngọt ngào. Và các thị dân hãy đi theo trẫm. Trẫm sẽ đi đón rước hoàng tử.
4385. Các cung phi, các vương tử, các thương nhân, và các vị Bà-la-môn, các khanh hãy mau chóng thắng ngựa vào các cỗ xe. Trẫm sẽ đi đón rước hoàng tử.
4386. Các viên quản tượng, các ngự lâm quân, các xa binh, và các bộ binh các khanh hãy mau chóng thắng ngựa vào các cỗ xe. Trẫm sẽ đi đón rước hoàng tử.
4387 . Các người dân đã tụ hội lại và các thị dân đã tụ hội lại, các khanh hãy mau chóng thắng ngựa vào các cỗ xe. Trẫm sẽ đi đón rước hoàng tử.”
4388. “Những người đánh xe đã dẫn các con ngựa thuộc dòng Sindhu, có khả năng kéo xe nhanh, đã được buộc (vào các cỗ xe), đi đến cánh cổng của hoàng cung (nói rằng): “Tâu bệ hạ, các con ngựa này đã được sẵn sàng.”
4389 . “Các con ngựa mập bị sút giảm về tốc độ, các con gầy bị sút giảm về sức mạnh.” “Hãy loại ra các con ngựa gầy và mập, các con ngựa tương xứng hãy được thắng vào.”
4390 . Sau đó, đức vua đã vội vã bước lên cỗ xe đã được thắng ngựa, và đã nói với các phi tần ở hậu cung rằng: “Tất cả các nàng hãy đi theo trẫm.”
4391 . Đức vua đã bước lên cỗ xe có quạt đuôi bò, vương miện, gươm, lọng che màu trắng, và đôi hài được trang điểm bằng vàng.
4392. Và sau đó, với người đánh xe ở phía trước, đức vua đã khởi hành và đã đi đến nơi hoàng tử Temiya cư ngụ vô cùng nhanh chóng.
4393. Sau khi nhìn thấy đức vua đang đi đến, tựa như đang chói sáng với uy quyền, được hộ tống xung quanh bởi tập thể các vị Sát-đế-lỵ, hoàng tử Temiya đã nói điều này:
4394 . “Thưa cha, phải chăng cha được an khang? Thưa cha, phải chăng cha được khỏe mạnh? Phải chăng các công chúa và mẹ của con không bị bệnh?”
4395. “Này con trai, trẫm được an khang. Và này con trai, trẫm được khỏe mạnh. Toàn bộ tất cả các công chúa và mẹ của con không bị bệnh.”
4396. “Thưa cha, phải chăng cha không uống chất say? Phải chăng rượu không được cha yêu quý? Phải chăng cha có tâm ý ưa thích sự chân thật, vương pháp, và sự bố thí?”
4397. “Này con trai, trẫm không uống chất say. Và rượu không được trẫm yêu quý. Trẫm có tâm ý ưa thích sự chân thật, vương pháp, và sự bố thí.”
4398. “Phải chăng bầy thú kéo xe của cha không có bệnh? Và phải chăng chúng kéo xe? Phải chăng các bệnh của cha không gây sự khó chịu ở cơ thể?”
4399. “Bầy thú kéo xe của cha không có bệnh, và chúng kéo xe. Còn các bệnh của cha không gây sự khó chịu ở cơ thể.”
4400 . “Phải chăng các khu biên giới được phồn thịnh, và khu trung tâm của cha được đông đúc? Phải chăng kho hàng và kho bạc của cha được bảo quản?”
4401. “Các khu biên giới của cha được phồn thịnh, và khu trung tâm của cha được đông đúc. Kho hàng và kho bạc của cha, tất cả đều được bảo quản.”
4402. “Tâu đại vương, chào mừng phụ vương đã ngự đến, và việc phụ vương đã đi đến không gặp khó khăn. Các ngươi hãy xếp đặt long sàng ở nơi nào đức vua sẽ ngự đến.
4403. Xin bệ hạ an tọa ngay tại đây, ở thảm lá đã khéo được trải ra. Các ngươi hãy mang nước từ nơi này đến, và hãy rửa sạch hai bàn chân của bệ hạ.”
4404. Tâu bệ hạ, còn lá cây này của con đã được luộc không có muối. Tâu đại vương, xin bệ hạ hãy thọ dụng. Bệ hạ đã ngự đến, tức là khách của con.”
4405 . “Trẫm không thọ dụng lá cây, bởi vì vật ấy không phải là thức ăn của trẫm. Trẫm thọ thực cơm gạo sāli , có trộn lẫn thịt tinh khiết.
4406 . Có sự kỳ lạ lóe lên ở trẫm, là việc con sống ở nơi thanh vắng chỉ có một mình và thọ thực thức ăn như thế này. Vì lý do gì làn da (của con) lại được trong sáng?”
4407 . “Tâu bệ hạ, con nằm một mình ở thảm lá đã khéo được trải ra. Làn da con được trong sáng là do việc nằm một mình ấy của con, tâu bệ hạ.
4408 . Con không có những vệ sĩ nắm chặt thanh gươm và sự bảo vệ của hoàng gia đã được bố trí. Làn da con được trong sáng là do việc nằm ngủ an lạc ấy của con, tâu bệ hạ.
4409. Con không sầu tư về chuyện đã qua, không mong ước về việc chưa đến, con sống với hiện tại; vì thế, làn da (của con) được trong sáng.
4410. Do mong ước về việc chưa đến, do sầu tư về chuyện đã qua, vì thế, các kẻ ngu bị khô héo, tựa như cây sậy xanh tươi bị đốn ngã.”
4411. “Này con trai, trẫm ban cho con tượng binh, xa binh, kỵ binh, và bộ binh có vũ trang, cùng các cung điện đáng yêu.
4412 . Trẫm sẽ ban cho con các phi tần ở hậu cung đã được tô điểm với mọi thứ trang sức. Này con trai, con hãy tiếp nhận các nàng ấy. Con sẽ là vua của chúng tôi.
4413. Các nữ nhân tài giỏi, thiện xảo về ca vũ, đã được rèn luyện, sẽ làm cho con thích thú trong dục lạc. Ở rừng, thì con sẽ làm gì?
4414. Trẫm sẽ đưa đến cho con các nàng công chúa của những vị vua đối nghịch. Con sẽ cùng các nàng sanh ra các hoàng tử, rồi sau đó con sẽ xuất gia.
4415 . Con là thanh niên, trẻ tuổi, ở giai đoạn đầu của cuộc đời, còn nhỏ lắm. Thưa tôn đức, con hãy trị vì đất nước. Ở rừng, thì con sẽ làm gì?”
4416 . “Thanh niên nên thực hành Phạm hạnh. Thanh niên nên là người có Phạm hạnh. Bởi vì việc xuất gia là dành cho người trẻ tuổi; điều ấy được các bậc ẩn sĩ ca ngợi.
4417 . Thanh niên nên thực hành Phạm hạnh. Thanh niên nên là người có Phạm hạnh. Con sẽ thực hành Phạm hạnh, con không mong muốn vương quyền.
4418 . Con nhìn thấy đứa con trai đáng yêu, còn nhỏ tuổi, đang bập bẹ gọi ‘mẹ, cha,’ đã nhận chịu sự đau đớn, khi còn chưa đạt đến tuổi già và cái chết.
4419 . Con nhìn thấy nàng thiếu nữ trẻ tuối, có vẻ dễ thương, bị tả tơi vào lúc cạn kiệt mạng sống, tựa như chồi non của loài lau sậy bị bứng gốc.
4420 . Bởi vì, những người nam và những người nữ, mặc dầu còn trẻ tuổi, cũng đã bị chết. Trong trường hợp ấy, người nào có thể tự tin về mạng sống, cho rằng: ‘Ta còn trẻ’?
4421 . Đối với người ở vào thời điểm thụ thai thì tuổi thọ còn ít hơn nữa, tựa như tuổi thọ của những con cá ở vũng nước cạn; cái gì là tuổi trẻ trong trường hợp ấy?
4422 . Thân này thường xuyên bị hành hạ và thường xuyên bị vây hãm. Khi những cái không vô ích đang chuyển dịch, tại sao phụ vương còn tỉ tê với con về vương quyền?”
4423 . “Thân này bị hành hạ bởi cái gì, bị vây hãm bởi cái gì? Những cái không vô ích đang di chuyển là những gì? Được hỏi, con hãy giải thích điều ấy cho trẫm.”
4424. “Thân này bị hành hạ bởi sự chết, bị vây hãm bởi sự già. Những đêm tối là những cái không vô ích đang di chuyển. Tâu vị Sát- đế- lỵ, ngài hãy nhận biết như thế.”
4425 . Cũng giống như khi sợi chỉ dệt được kéo căng ra, chính sợi chỉ ấy được kết vào (tấm vải dệt), và sợi chỉ dùng để dệt bị ngắn dần, mạng sống của các chúng sanh là tương tự như vậy.
4426. Giống như dòng sông tràn đầy đang trôi chảy, không quay ngược trở lại, tương tự như vậy, tuổi thọ của con người đang trôi đi, không quay ngược trở lại.
4427 . Giống như dòng sông tràn đầy có thể cuốn đi những cây cối mọc ở bờ sông, tương tự như vậy, các chúng sanh quả thật bị cuốn đi bởi sự già và sự chết.”
4428. “Này con trai, trẫm ban cho con tượng binh, xa binh, kỵ binh, và bộ binh có vũ trang, cùng các cung điện đáng yêu.
4429 . Trẫm sẽ ban cho con các phi tần ở hậu cung đã được tô điểm với mọi thứ trang sức. Này con trai, con hãy tiếp nhận các nàng ấy. Con sẽ là vua của chúng tôi.
4430. Các nữ nhân tài giỏi, thiện xảo về ca vũ, đã được rèn luyện, sẽ làm cho con thích thú trong dục lạc. Ở rừng, thì con sẽ làm gì?
4431. Trẫm sẽ đưa đến cho con các nàng công chúa của những vị vua đối nghịch. Con sẽ cùng các nàng sanh ra các hoàng tử, rồi sau đó con sẽ xuất gia.
4432 . Con là thanh niên, trẻ tuổi, ở giai đoạn đầu của cuộc đời, còn nhỏ lắm. Thưa tôn đức, con hãy trị vì đất nước. Ở rừng, thì con sẽ làm gì?
4433. Này con trai, trẫm ban cho con kho hàng và kho bạc, các cỗ xe và các binh đội, cùng các cung điện đáng yêu.
4434 . Được vây quanh bởi các nàng công chúa có thân hình xinh đẹp, được tôn vinh bởi đám nữ tỳ, thưa tôn đức, con hãy trị vì đất nước. Ở rừng, thì con sẽ làm gì?”
4435 . “Ích gì với tài sản là vật sẽ bị tiêu tan? Ích gì với người vợ vì nàng sẽ chết? Ích gì với tuổi thanh xuân được hình thành vì tuổi già sẽ chế ngự nó?
4436 . Ở cuộc sống ấy, cái gì là sự vui vẻ, cái gì là việc vui đùa, cái gì là sự thích thú, cái gì là sự tầm cầu tài sản? Đối với con, ích gì với các con trai và những người vợ? Tâu bệ hạ, con đã thoát ra khỏi sự trói buộc.
4437 . Con đây nhận biết rõ như vậy. Tử Thần không mê hoặc được con. Đối với người đã bị Thần Chết chế ngự, thì cái gì là sự khoái lạc, cái gì là sự tầm cầu tài sản?
4438. Giống như đối với những trái cây đã chín, hiểm họa do việc rơi rụng là thường xuyên, tương tự như vậy, đối với những con người đã được sanh ra, hiểm họa về cái chết là thường xuyên.
4439. Nhiều người được nhìn thấy vào buổi sáng, thì một số không còn được nhìn thấy vào buổi tối. Nhiều người được nhìn thấy vào buổi tối, thì một số không còn được nhìn thấy vào sáng (hôm sau).
4440 . Sự nhiệt tâm là việc cần phải làm ngay trong ngày hôm nay. Ai có thể biết cái chết (có thể xảy ra) vào ngày mai? Bởi vì không có sự giao ước giữa chúng ta với Tử Thần có đạo quân binh đông đảo.
4441. Các kẻ trộm mong cầu tài sản, tâu bệ hạ, con đã thoát ra khỏi sự trói buộc. Tâu bệ hạ, xin cha hãy chấp nhận, xin cha hãy quay về, con không mong muốn vương quyền.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
538. Mūgapakkhajātakaṃ (1)
538. The Mūgapakkha Jātaka (1)
538. Chuyện Bổn sanh Mūgapakkha (1)
1.
1.
1.
‘‘Mā paṇḍiccayaṃ † vibhāvaya, bālamato bhava sabbapāṇinaṃ;
Sabbo taṃ jano ocināyatu, evaṃ tava attho bhavissati’’.
“Do not display your wisdom, but be considered a fool by all beings. Let all people look down upon you; thus will your purpose be achieved.”
Đừng tỏ ra vẻ trí tuệ, hãy để cho tất cả chúng sanh xem là kẻ ngu. Hãy để cho mọi người khinh miệt ngươi, như vậy mục đích của ngươi sẽ được thành tựu.
2.
2.
2.
‘‘Karomi te taṃ vacanaṃ, yaṃ maṃ bhaṇasi devate;
Atthakāmāsi me amma, hitakāmāsi devate’’.
“I shall do that word of yours which you speak to me, O deity. You desire my welfare, mother; you desire my benefit, O deity.”
Thưa nữ thần, con sẽ làm theo lời ngài dạy. Thưa mẹ, ngài mong muốn lợi ích cho con; thưa nữ thần, ngài mong muốn điều tốt lành cho con.
3.
3.
3.
‘‘Kiṃ nu santaramānova, kāsuṃ khaṇasi sārathi;
Puṭṭho me samma akkhāhi, kiṃ kāsuyā karissasi’’.
“Why indeed, hurrying so, do you dig a pit, O charioteer? Being asked, friend, tell me: what will you do with the pit?”
Này người đánh xe, sao lại vội vã đào hố thế? Này bạn, khi được hỏi, hãy nói cho tôi biết, bạn sẽ làm gì với cái hố đó?
4.
4.
4.
‘‘Rañño mūgo ca pakkho ca, putto jāto acetaso;
Somhi raññā samajjhiṭṭho, puttaṃ me nikhaṇaṃ vane’’.
“The king’s son was born mute and crippled, without consciousness. I have been instructed by the king: ‘Bury my son in the forest.’”
Con trai của đức vua sinh ra bị câm, bị liệt, và không có trí tuệ. Ta được vua ra lệnh: 'Hãy chôn con ta trong rừng'.
5.
5.
5.
‘‘Na badhiro na mūgosmi, na pakkho na ca vīkalo †;
Adhammaṃ sārathi kayirā, maṃ ce tvaṃ nikhaṇaṃ vane’’.
“I am not deaf, nor am I mute; I am not crippled, nor am I deformed. You would be doing an unrighteous act, charioteer, if you were to bury me in the forest.”
Ta không điếc, không câm, không liệt, cũng không tàn tật. Này người đánh xe, nếu ngươi chôn ta trong rừng, ngươi sẽ làm một điều phi pháp.
6.
6.
6.
‘‘Ūrū bāhuṃ † ca me passa, bhāsitañca suṇohi me;
Adhammaṃ sārathi kayirā, maṃ ce tvaṃ nikhaṇaṃ vane’’.
“Behold my thighs and arms, and listen to my speech. You would be doing an unrighteous act, charioteer, if you were to bury me in the forest.”
Hãy nhìn đùi và tay của ta, hãy nghe lời ta nói. Này người đánh xe, nếu ngươi chôn ta trong rừng, ngươi sẽ làm một điều phi pháp.
7.
7.
7.
‘‘Devatā nusi gandhabbo, adu † sakko purindado;
Ko vā tvaṃ kassa vā putto, kathaṃ jānemu taṃ mayaṃ’’.
“Are you a deity, a gandhabba, or Sakka, the giver in former times? Who are you, or whose son are you? How may we know you?”
Ngươi có phải là thiên nhân, hay là càn-thát-bà, hay là Sakka, đấng Purindada? Ngươi là ai, là con của ai, làm sao chúng tôi có thể biết được ngươi?
8.
8.
8.
‘‘Namhi devo na gandhabbo, nāpi sakko purindado;
Kāsirañño ahaṃ putto, yaṃ kāsuyā nikhaññasi †.
“I am not a deva, nor a gandhabba, nor Sakka, the giver in former times. I am the son of the king of Kāsi, whom you are about to bury in this pit.”
Ta không phải là thiên nhân, không phải là càn-thát-bà, cũng không phải là Sakka, đấng Purindada. Ta là con của vua xứ Kāsi, người mà ngươi sắp chôn trong hố.
9.
9.
9.
‘‘Tassa rañño ahaṃ putto, yaṃ tvaṃ sammūpajīvasi †;
Adhammaṃ sārathi kayirā, maṃ ce tvaṃ nikhaṇaṃ vane.
“I am the son of that king whom you serve. You would be doing an unrighteous act, charioteer, if you were to bury me in the forest.”
Ta là con của vị vua mà ngươi đang nương tựa để sống. Này người đánh xe, nếu ngươi chôn ta trong rừng, ngươi sẽ làm một điều phi pháp.
10.
10.
10.
‘‘Yassa rukkhassa chāyāya, nisīdeyya sayeyya vā;
Na tassa sākhaṃ bhañjeyya, mittadubbho † hi pāpako.
“Of the tree in whose shade one might sit or lie, one should not break a branch; for one who betrays a friend is truly wicked.”
Dưới bóng cây nào, người ta ngồi hay nằm nghỉ, không nên bẻ cành của cây ấy. Kẻ phản bạn là kẻ độc ác.
11.
11.
11.
‘‘Yathā rukkho tathā rājā, yathā sākhā tathā ahaṃ;
Yathā chāyūpago poso, evaṃ tvamasi sārathi;
Adhammaṃ sārathi kayirā, maṃ ce tvaṃ nikhaṇaṃ vane.
“As the tree, so is the king; as the branch, so am I. As the man who comes for shade, so are you, O charioteer. You would be doing an unrighteous act, charioteer, if you were to bury me in the forest.”
Đức vua như là cây, ta như là cành. Ngươi, hỡi người đánh xe, như là người đến trú dưới bóng mát. Này người đánh xe, nếu ngươi chôn ta trong rừng, ngươi sẽ làm một điều phi pháp.
12.
12.
12.
‘‘Pahūtabhakkho † bhavati, vippavuṭṭho † sakaṃ † gharā;
Bahū naṃ upajīvanti, yo mittānaṃ na dubbhati.
“He has abundant food, even when away from his own home; many depend on him—he who does not betray his friends.”
Người nào không phản bội bạn bè, dù xa nhà vẫn có nhiều thức ăn. Nhiều người nương tựa vào người ấy để sống.
13.
13.
13.
‘‘Yaṃ yaṃ janapadaṃ yāti, nigame rājadhāniyo;
Sabbattha pūjito hoti, yo mittānaṃ na dubbhati.
“Whatever country he goes to, whatever towns or royal cities, he is honored everywhere—he who does not betray his friends.”
“Người nào không phản bội bạn bè, đi đến bất cứ xứ sở, thị trấn, hay kinh thành nào, người ấy đều được tôn kính ở khắp mọi nơi.
14.
14.
14.
‘‘Nāssa corā pasāhanti †, nātimaññanti khattiyā †;
Sabbe amitte tarati, yo mittānaṃ na dubbhati.
“Thieves do not overpower him, nobles do not despise him; he overcomes all enemies—he who does not betray his friends.”
“Người nào không phản bội bạn bè, kẻ trộm không thể áp bức, vua chúa không thể khinh thường. Người ấy vượt qua tất cả kẻ thù.
15.
15.
15.
‘‘Akkuddho sagharaṃ eti, sabhāyaṃ † paṭinandito;
Ñātīnaṃ uttamo hoti, yo mittānaṃ na dubbhati.
“He returns to his home unangered, he is welcomed in the assembly; he becomes the foremost among his kin—he who does not betray his friends.”
“Người nào không phản bội bạn bè, người ấy không sân giận trở về nhà mình, được hoan nghênh giữa hội chúng, và trở thành người cao quý nhất trong dòng họ.
16.
16.
16.
‘‘Sakkatvā sakkato hoti, garu hoti sagāravo †;
Vaṇṇakittibhato hoti, yo mittānaṃ na dubbhati.
“By honoring, he is honored; by being respectful, he is shown respect; he is a bearer of praise and fame—he who does not betray his friends.”
“Người nào không phản bội bạn bè, người ấy tôn trọng (người khác) thì được tôn trọng lại, kính trọng (người khác) thì được kính trọng lại, và có được danh tiếng tốt đẹp.
17.
17.
17.
‘‘Pūjako labhate pūjaṃ, vandako paṭivandanaṃ;
Yaso kittiñca pappoti, yo mittānaṃ na dubbhati.
“The respectful receives respect, the venerator receives veneration in return; he attains fame and renown—he who does not betray his friends.”
“Người nào không phản bội bạn bè, người cúng dường thì nhận được sự cúng dường, người đảnh lễ thì nhận được sự đảnh lễ đáp lại. Người ấy đạt được danh vọng và tiếng tăm.
18.
18.
18.
‘‘Aggi yathā pajjalati, devatāva virocati;
Siriyā ajahito hoti, yo mittānaṃ na dubbhati.
“He blazes like a fire, he shines like a deity; he is not forsaken by fortune—he who does not betray his friends.”
“Người nào không phản bội bạn bè, người ấy tỏa sáng như ngọn lửa, rực rỡ như vị trời, và không bị tài sản phước đức từ bỏ.
19.
19.
19.
‘‘Gāvo tassa pajāyanti, khette vuttaṃ virūhati;
Vuttānaṃ phalamasnāti, yo mittānaṃ na dubbhati.
“His cattle are fruitful, what is sown in his field thrives; he enjoys the fruit of what is sown—he who does not betray his friends.”
“Người nào không phản bội bạn bè, đàn bò của người ấy sinh sôi nảy nở, hạt giống gieo trong ruộng nảy mầm, và người ấy được hưởng quả của những hạt đã gieo.
20.
20.
20.
‘‘Darito pabbatāto vā, rukkhato patito naro;
Cuto patiṭṭhaṃ labhati, yo mittānaṃ na dubbhati.
“A man fallen from a cliff, a mountain, or a tree, having slipped, finds a foothold—he who does not betray his friends.”
“Người nào không phản bội bạn bè, người ấy dù bị rơi từ vách đá, từ ngọn núi, hay từ trên cây, vẫn tìm được chỗ đứng vững.
21.
21.
21.
‘‘Virūḷhamūlasantānaṃ, nigrodhamiva māluto;
Amittā nappasāhanti, yo mittānaṃ na dubbhati’’.
“Enemies do not overpower him, just as the wind does not overpower a banyan tree with its well-established network of roots—he who does not betray his friends.”
“Người nào không phản bội bạn bè, kẻ thù không thể áp bức người ấy, cũng như gió không thể quật ngã cây đa có rễ bám sâu và lan rộng”.
22.
22.
22.
‘‘Ehi taṃ paṭinessāmi, rājaputta sakaṃ gharaṃ;
Rajjaṃ kārehi bhaddante, kiṃ araññe karissasi’’.
“Come, prince, I will take you back to your own home. Rule the kingdom, good sir. What will you do in the forest?”
“Này vương tử, hãy đến đây, tôi sẽ đưa ngài về nhà của ngài. Thưa ngài, xin hãy trị vì vương quốc. Ngài sẽ làm gì trong rừng?”.
23.
23.
23.
‘‘Alaṃ me tena rajjena, ñātakehi † dhanena vā;
Yaṃ me adhammacariyāya, rajjaṃ labbhetha sārathi’’.
“I have no need of that kingdom, O charioteer, nor of relatives or wealth—a kingdom that would be gained by me through unrighteous conduct.”
“Này người đánh xe, ta đã đủ với vương quốc ấy, với quyến thuộc hay với của cải mà ta có thể có được bằng hành vi phi pháp”.
24.
24.
24.
‘‘Puṇṇapattaṃ maṃ lābhehi †, rājaputta ito gato;
Pitā mātā ca me dajjuṃ, rājaputta tayī gate.
“O prince, when you have returned from here, ensure that I receive a full bowl. Your father and mother would give it to me, O prince, upon your return.”
“Này vương tử, khi trở về từ đây, xin hãy ban thưởng cho tôi. Này vương tử, khi ngài trở về, phụ vương và mẫu hậu của ngài sẽ ban thưởng cho tôi.
25.
25.
25.
‘‘Orodhā ca kumārā ca, vesiyānā ca brāhmaṇā;
Tepi attamanā dajjuṃ, rājaputta tayī gate.
“The ladies of the court and the princes, the merchants and the brahmins—they too, with delighted minds, would give, O prince, upon your return.”
“Này vương tử, khi ngài trở về, các cung phi, các hoàng tử, các thương gia và các vị Bà-la-môn, họ cũng sẽ vui mừng mà ban thưởng cho tôi.
26.
26.
26.
‘‘Hatthārohā † anīkaṭṭhā, rathikā pattikārakā;
Tepi attamanā dajjuṃ †, rājaputta tayī gate.
“The elephant-riders, the commanders, the charioteers, and the foot-soldiers—they too, with delighted minds, would give, O prince, upon your return.”
“Này vương tử, khi ngài trở về, những người quản tượng, những người chỉ huy quân đội, những chiến binh trên xe, và những người lính bộ, họ cũng sẽ vui mừng mà ban thưởng cho tôi.
27.
27.
27.
‘‘Bahudhaññā jānapadā †, negamā ca samāgatā;
Upāyanāni me dajjuṃ, rājaputta tayī gate’’.
“The country-dwellers, rich in grain, and the townsfolk, having gathered together, would give me gifts, O prince, upon your return.”
“Này vương tử, khi ngài trở về, những người dân giàu có ở các xứ sở và các thị trấn sẽ tụ họp lại và dâng tặng phẩm vật cho tôi”.
28.
28.
28.
‘‘Pitu mātu cahaṃ catto, raṭṭhassa nigamassa ca;
Atho sabbakumārānaṃ, natthi mayhaṃ sakaṃ gharaṃ.
“I am cast off by my father and mother, by the country and the town, and also by all the princes. I have no home of my own.”
“Ta đã bị cha mẹ, bị người trong xứ sở và thị trấn, và cả tất cả các hoàng tử từ bỏ. Ta không có nhà riêng của mình.
29.
29.
29.
‘‘Anuññāto ahaṃ matyā, sañcatto pitarā mahaṃ;
Ekoraññe pabbajito, na kāme abhipatthaye.
“I have been given leave by my mother, I have been fully cast off by my father. I have gone forth to the forest alone; I do not long for sensual pleasures.”
“Ta đã được mẹ cho phép, đã bị cha từ bỏ hoàn toàn. Ta xuất gia một mình trong rừng, không còn mong cầu các dục lạc.
30.
30.
30.
‘‘Api ataramānānaṃ, phalāsāva samijjhati;
Vipakkabrahmacariyosmi, evaṃ jānāhi sārathi.
“Indeed, for those who are not hasty, the hope for the fruit is fulfilled. My holy life has ripened; know this, O charioteer.”
“Này người đánh xe, hãy biết rằng, ngay cả đối với những người không vội vã, hy vọng về kết quả vẫn được thành tựu. Ta là người có phạm hạnh đã chín muồi.
31.
31.
31.
‘‘Api ataramānānaṃ, sammadattho vipaccati;
Vipakkabrahmacariyosmi, nikkhanto akutobhayo’’.
“Indeed, for those who are not hasty, the right purpose ripens. My holy life has ripened; I have gone forth, fearless from any quarter.”
“Ngay cả đối với những người không vội vã, mục đích chân chánh cũng sẽ chín muồi. Ta là người có phạm hạnh đã chín muồi, đã xuất gia, không còn sợ hãi từ bất cứ đâu”.
32.
32.
32.
‘‘Evaṃ vaggukatho santo, visaṭṭhavacano casi †;
Kasmā pitu ca mātucca, santike na bhaṇī tadā’’.
“Being one of such pleasant and articulate speech, why did you not speak then in the presence of your father and mother?”
“Ngài là người có lời nói dịu dàng và giọng nói trong trẻo như vậy, tại sao lúc đó ngài lại không nói gì trước mặt phụ vương và mẫu hậu?”.
33.
33.
33.
‘‘Nāhaṃ asandhitā † pakkho, na badhiro asotatā;
Nāhaṃ ajivhatā mūgo, mā maṃ mūgamadhārayi †.
“I am not crippled from having no joints, nor deaf from having no hearing; I am not mute from having no tongue. Do not consider me mute.”
“Ta không phải người què vì khớp xương rời rạc, không phải người điếc vì không có tai, không phải người câm vì không có lưỡi. Đừng cho rằng ta câm.
34.
34.
34.
‘‘Purimaṃ sarāmahaṃ jātiṃ, yattha rajjamakārayiṃ;
Kārayitvā tahiṃ rajjaṃ, pāpatthaṃ nirayaṃ bhusaṃ.
“I remember a former life, where I exercised kingship. Having exercised kingship there, I reached a terrible hell.”
“Ta nhớ lại kiếp trước, nơi ta đã trị vì một vương quốc. Sau khi trị vì vương quốc ở đó, ta đã phải sa vào địa ngục một cách khủng khiếp.
35.
35.
35.
‘‘Vīsatiñceva vassāni, tahiṃ rajjamakārayiṃ;
Asītivassasahassāni, nirayamhi apaccisaṃ †.
“For twenty years I exercised kingship there; for eighty thousand years I was tormented in hell.”
“Ta đã trị vì vương quốc ở đó trong hai mươi năm, và đã bị thiêu đốt trong địa ngục suốt tám mươi ngàn năm.
36.
36.
36.
‘‘Tassa rajjassahaṃ bhīto, mā maṃ rajjābhisecayuṃ †;
Tasmā pitu ca mātucca, santike na bhaṇiṃ tadā.
“I was afraid of that kingship, lest they should anoint me to rule. Therefore, I did not speak then in the presence of my father and mother.”
“Vì sợ hãi vương quyền đó, (ta đã nghĩ) 'Mong rằng họ đừng tấn phong ta lên ngôi vua'. Vì vậy, lúc đó ta đã không nói gì trước mặt phụ vương và mẫu hậu.
37.
37.
37.
‘‘Ucchaṅge maṃ nisādetvā, pitā atthānusāsati;
Ekaṃ hanatha bandhatha, ekaṃ khārāpatacchikaṃ †;
Ekaṃ sūlasmiṃ uppetha †, iccassa manusāsati.
“Having seated me on his lap, my father instructed me in the affairs of the state: ‘Strike one, bind one, flay one with caustic; impale one on a stake,’ thus he instructed regarding its welfare.”
“Khi phụ vương đặt ta ngồi trong lòng, ngài đã dạy về việc cai trị: 'Hãy đánh đập người này, hãy trói người kia, hãy hành hình người nọ bằng cách xát muối vào vết thương, hãy xiên người khác trên cọc'. Ngài đã dạy về việc cai trị như vậy.
38.
38.
38.
‘‘Tāyāhaṃ † pharusaṃ sutvā, vācāyo samudīritā;
Amūgo mūgavaṇṇena, apakkho pakkhasammato;
Sake muttakarīsasmiṃ, acchāhaṃ samparipluto.
“Hearing those harsh words uttered, though not mute, I assumed the appearance of a mute; though not lame, I was considered lame. I lay utterly immersed in my own urine and feces.”
“Sau khi nghe những lời lẽ tàn nhẫn được thốt ra đó, ta, dù không câm, đã giả dạng người câm; dù không què, đã bị cho là què; và ta đã nằm lăn lộn trong chính phân và nước tiểu của mình.
39.
39.
39.
‘‘Kasirañca parittañca, tañca dukkhena saṃyutaṃ;
Komaṃ † jīvitamāgamma, veraṃ kayirātha kenaci.
“Life is wretched and brief, and it is conjoined with suffering. Having come to such a life, how could one foster enmity toward anyone?”
“Mạng sống này thật khó khăn và ngắn ngủi, lại còn kết hợp với đau khổ. Dựa vào mạng sống này, ai lại có thể gây oán thù với bất cứ ai?
40.
40.
40.
‘‘Paññāya ca alābhena, dhammassa ca adassanā;
Komaṃ † jīvitamāgamma, veraṃ kayirātha kenaci.
“Through not obtaining wisdom and not seeing the Dhamma, having come to such a life, how could one foster enmity toward anyone?”
“Do không có được trí tuệ và do không thấy được Chánh pháp, dựa vào mạng sống này, ai lại có thể gây oán thù với bất cứ ai?
41.
41.
41.
‘‘Api ataramānānaṃ, phalāsāva samijjhati;
Vipakkabrahmacariyosmi, evaṃ jānāhi sārathi.
“Indeed, even for those who do not hasten, the desired fruit is achieved. My holy life has ripened; know this, O charioteer.”
“Này người đánh xe, hãy biết rằng, ngay cả đối với những người không vội vã, hy vọng về kết quả vẫn được thành tựu. Ta là người có phạm hạnh đã chín muồi.
42.
42.
42.
‘‘Api ataramānānaṃ, sammadattho vipaccati;
Vipakkabrahmacariyosmi, nikkhanto akutobhayo’’.
“Indeed, even for those who do not hasten, the true goal ripens. My holy life has ripened; I have gone forth, fearless from any quarter.”
“Ngay cả đối với những người không vội vã, mục đích chân chánh cũng sẽ chín muồi. Ta là người có phạm hạnh đã chín muồi, đã xuất gia, không còn sợ hãi từ bất cứ đâu”.
43.
43.
43.
‘‘Ahampi pabbajissāmi, rājaputta tavantike;
Avhāyassu † maṃ bhaddante, pabbajjā mama ruccati’’.
“I too shall go forth in your presence, O prince. Invite me, good sir; the going forth is pleasing to me.”
Thưa vương tử, con cũng sẽ xuất gia, ở gần bên ngài; Thưa hiền giả, xin ngài hãy gọi con, con ưa thích việc xuất gia.
44.
44.
44.
‘‘Rathaṃ niyyādayitvāna, anaṇo ehi sārathi;
Anaṇassa hi pabbajjā, etaṃ isīhi vaṇṇitaṃ’’.
“Having returned the chariot, come without debt, O charioteer. For the going forth of one without debt—this is praised by the sages.”
Này người đánh xe, sau khi trao trả lại cỗ xe, hãy đến đây không còn nợ nần; vì rằng việc xuất gia của người không nợ nần, điều ấy được các vị ẩn sĩ tán thán.
45.
45.
45.
‘‘Yadeva tyāhaṃ vacanaṃ, akaraṃ bhaddamatthu te;
Tadeva me tvaṃ vacanaṃ, yācito kattumarahasi.
“May it be well with you. Just as I have acted upon your word, so too should you, being asked, now act upon mine.”
Cầu mong ngài được an lành. Lời nào của ngài mà tôi đã vâng làm, thì lời ấy của tôi, khi được thỉnh cầu, ngài cũng nên thực hiện.
46.
46.
46.
‘‘Idheva tāva acchassu, yāva rājānamānaye;
Appeva te pitā disvā, patīto sumano siyā’’.
“Stay right here for a while, until I bring the king. It may be that your father, upon seeing you, will be pleased and joyful.”
Xin ngài hãy ở lại chính nơi đây, cho đến khi tôi đưa đức vua đến. Biết đâu phụ thân của ngài, sau khi nhìn thấy ngài, sẽ được hoan hỷ, vui lòng.
47.
47.
47.
‘‘Karomi tetaṃ vacanaṃ, yaṃ maṃ bhaṇasi sārathi;
Ahampi daṭṭhukāmosmi, pitaraṃ me idhāgataṃ.
“I shall do that word of yours which you speak to me, O charioteer. I too wish to see my father when he has come here.”
Này người đánh xe, ta sẽ làm theo lời ấy của ngươi, lời mà ngươi đã nói với ta. Ta cũng mong muốn được nhìn thấy phụ thân của ta đến tại nơi này.
48.
48.
48.
‘‘Ehi samma nivattassu, kusalaṃ vajjāsi ñātinaṃ;
Mātaraṃ pitaraṃ mayhaṃ, vutto vajjāsi vandanaṃ’’.
“Come, friend, turn back, and report my well-being to my kinsmen. To my mother and father, convey the homage I bid you.”
Này bạn, hãy đến và quay trở về. Hãy báo tin ta vẫn bình an cho quyến thuộc. Hãy thay ta đảnh lễ mẫu thân và phụ thân của ta.
49.
49.
49.
Tassa pāde gahetvāna, katvā ca naṃ padakkhiṇaṃ;
Sārathi rathamāruyha, rājadvāraṃ upāgami.
Having taken hold of his feet and circumambulated him to the right, the charioteer mounted the chariot and approached the king’s gate.
Người đánh xe, sau khi cầm lấy đôi chân của vị ấy và đi nhiễu quanh theo chiều bên phải, đã leo lên cỗ xe và đi đến cổng hoàng cung.
50.
50.
50.
‘‘Suññaṃ mātā rathaṃ disvā, ekaṃ sārathimāgataṃ;
Assupuṇṇehi nettehi, rodantī naṃ udikkhati.
His mother, seeing the empty chariot and the charioteer having come alone, weeping, with eyes full of tears, looked up at him.
Người mẹ, khi nhìn thấy cỗ xe trống không và người đánh xe trở về một mình, đã nhìn người ấy với đôi mắt đẫm lệ, trong khi đang khóc than.
51.
51.
51.
‘‘Ayaṃ so sārathi eti, nihantvā mama atrajaṃ;
Nihato nūna me putto, pathabyā bhūmivaḍḍhano.
“This charioteer comes, having killed my own son. Surely my son, an augmenter of the earth, is slain upon the ground.”
Người đánh xe kia đang đến, sau khi đã giết hại con trai của ta. Chắc chắn con trai ta, người làm cho đất đai thêm màu mỡ, đã bị chôn vùi trong lòng đất.
52.
52.
52.
‘‘Amittā nūna nandanti, patītā nūna verino;
Āgataṃ sārathiṃ disvā, nihantvā mama atrajaṃ.
“Surely my enemies rejoice, surely my foes are delighted, seeing the charioteer come, having killed my own son.”
Chắc hẳn những kẻ không thân thiện đang vui mừng, chắc hẳn những kẻ thù địch đang hoan hỷ, khi nhìn thấy người đánh xe trở về sau khi đã giết hại con trai của ta.
53.
53.
53.
‘‘Suññaṃ mātā rathaṃ disvā, ekaṃ sārathimāgataṃ;
Assupuṇṇehi nettehi, rodantī paripucchi naṃ †.
His mother, seeing the empty chariot and the charioteer having come alone, weeping, with eyes full of tears, questioned him.
Người mẹ, khi nhìn thấy cỗ xe trống không và người đánh xe trở về một mình, đã hỏi người ấy với đôi mắt đẫm lệ, trong khi đang khóc than.
54.
54.
54.
‘‘Kinnu mūgo kiṃ nu pakkho, kinnu so vilapī tadā;
Nihaññamāno bhūmiyā, taṃ me akkhāhi sārathi.
“Was he mute? Was he lame? Why then did he lament as he was being struck down upon the earth? Tell me that, O charioteer.”
Này người đánh xe, có phải nó bị câm, có phải nó bị bại liệt không? Hay là nó đã than khóc vào lúc ấy, khi bị chôn xuống đất? Hãy kể lại điều đó cho ta nghe.
55.
55.
55.
‘‘Kathaṃ hatthehi pādehi, mūgapakkho vivajjayi;
Nihaññamāno bhūmiyā, taṃ me akkhāhi pucchito’’.
“How did the mute and lame one resist with his hands and feet as he was being struck down upon the earth? Being asked, tell me this.”
Khi bị chôn xuống đất, người câm và bại liệt ấy đã chống cự bằng tay chân như thế nào? Khi được hỏi, hãy kể lại điều đó cho ta nghe.
56.
56.
56.
‘‘Akkheyyaṃ † te ahaṃ ayye, dajjāsi abhayaṃ mama;
Yaṃ me sutaṃ vā diṭṭhaṃ vā, rājaputtassa santike’’.
“I would tell you, noble lady, if you would grant me safety, what I have heard or seen in the presence of the prince.”
Thưa lệnh bà, tôi sẽ kể lại cho bà nghe, nếu bà ban cho tôi sự an toàn. Bất cứ điều gì tôi đã nghe hoặc đã thấy, ở gần bên vương tử.
57.
57.
57.
‘‘Abhayaṃ samma te dammi, abhīto bhaṇa sārathi;
Yaṃ te sutaṃ vā diṭṭhaṃ vā, rājaputtassa santike’’.
“I grant you safety, friend; speak without fear, O charioteer, whatever you have heard or seen in the presence of the prince.”
Này bạn, ta ban cho ngươi sự an toàn. Này người đánh xe, hãy nói ra không sợ hãi. Bất cứ điều gì ngươi đã nghe hoặc đã thấy, ở gần bên vương tử.
58.
58.
58.
‘‘Na so mūgo na so pakkho, visaṭṭhavacano ca so;
Rajjassa kira so bhīto, akarā † ālaye bahū.
“He is not mute, nor is he lame, and he is articulate in speech. It is said he was afraid of kingship and so made many pretenses.”
Vị ấy không câm, vị ấy không bại liệt, và vị ấy có lời nói rõ ràng. Nghe nói vì sợ hãi vương quốc, vị ấy đã thực hiện nhiều sự giả vờ.
59.
59.
59.
‘‘Purimaṃ sarati so jātiṃ, yattha rajjamakārayi;
Kārayitvā tahiṃ rajjaṃ, pāpattha nirayaṃ bhusaṃ.
“He remembers his former birth, where he exercised kingship; having exercised kingship there, he reached a terrible hell.”
Vị ấy nhớ lại được tiền kiếp, nơi mà vị ấy đã trị vì vương quốc. Sau khi trị vì vương quốc ở nơi ấy, vị ấy đã phải sa vào địa ngục đau khổ.
60.
60.
60.
‘‘Vīsatiñceva vassāni, tahiṃ rajjamakārayi;
Asītivassasahassāni, nirayamhi apacci so.
“For twenty years he exercised kingship there; for eighty thousand years he was tormented in hell.”
Vị ấy đã trị vì vương quốc ở nơi ấy trong hai mươi năm. Và đã bị thiêu đốt trong địa ngục suốt tám mươi ngàn năm.
61.
61.
61.
‘‘Tassa rajjassa so bhīto, mā maṃ rajjābhisecayuṃ;
Tasmā pitu ca mātucca, santike na bhaṇī tadā.
“Fearing that kingship, lest they should anoint him king, he therefore did not speak then in the presence of his father and mother.”
Vì sợ hãi vương quyền ấy, (vị ấy nghĩ): 'Mong rằng họ đừng làm lễ đăng quang cho ta'. Do đó, vào lúc ấy, vị ấy đã không nói gì trước mặt phụ thân và mẫu thân.
62.
62.
62.
‘‘Aṅgapaccaṅgasampanno, ārohapariṇāhavā;
Visaṭṭhavacano pañño, magge saggassa tiṭṭhati.
“Endowed with major and minor limbs, of fine stature and girth, articulate in speech and wise, he stands on the path to heaven.”
Vị ấy có đầy đủ các chi phần lớn nhỏ, có tầm vóc và thân hình cân đối. Vị ấy có lời nói rõ ràng, có trí tuệ, và đang đứng trên con đường dẫn đến cõi trời.
63.
63.
63.
‘‘Sace tvaṃ daṭṭhukāmāsi, rājaputtaṃ † tavatrajaṃ;
Ehi taṃ pāpayissāmi, yattha sammati temiyo’’.
“If you wish to see the prince, your own son, come, I will lead you to where Temiya dwells.”
Nếu bà muốn nhìn thấy vương tử, con trai của bà, xin hãy đến đây. Tôi sẽ đưa bà đến nơi mà hoàng tử Temiya đang ở.
64.
64.
64.
‘‘Yojayantu rathe asse, kacchaṃ nāgāna † bandhatha;
Udīrayantu saṅkhapaṇavā, vādantu † ekapokkharā.
“Let them yoke the horses to the chariots, bind the girths on the elephants. Let the conches and drums be sounded, let the single-faced drums be played.”
Hãy thắng ngựa vào xe, hãy buộc yên cho voi. Hãy thổi tù và và trống paṇava, hãy đánh trống một mặt.
65.
65.
65.
‘‘Vādantu † bherī sannaddhā, vaggū vādantu dundubhī;
Negamā ca maṃ anventu, gacchaṃ puttanivedako †.
“Let the braced war drums be played, let the melodious kettledrums sound. Let the townsfolk follow me; I go to announce my son.”
Hãy đánh trống trận đã giăng, hãy tấu lên trống dundubhī du dương. Các thị dân hãy đi theo ta, ta đi để tìm tin tức về con trai.
66.
66.
66.
‘‘Orodhā ca kumārā ca, vesiyānā ca brāhmaṇā;
Khippaṃ yānāni yojentu, gacchaṃ puttanivedako †.
“Let the ladies of the court and the princes, the merchants and the brahmins, quickly yoke their vehicles; I go to announce my son.”
Các cung nữ và các hoàng tử, các thương gia và các vị Bà-la-môn, hãy nhanh chóng chuẩn bị xe cộ. Ta đi để tìm tin tức về con trai.
67.
67.
67.
‘‘Hatthārohā anīkaṭṭhā, rathikā pattikārakā;
Khippaṃ yānāni yojentu, gacchaṃ puttanivedako †.
“Let the elephant-riders, the commanders, the charioteers, and the foot-soldiers quickly yoke their vehicles; I go to announce my son.”
Những người quản tượng, các sĩ quan, những người đánh xe và bộ binh, hãy nhanh chóng chuẩn bị xe cộ. Ta đi để tìm tin tức về con trai.
68.
68.
68.
‘‘Samāgatā jānapadā, negamā ca samāgatā;
Khippaṃ yānāni yojentu, gacchaṃ puttanivedako’’ †.
“Let the assembled country-folk and the gathered townsfolk quickly yoke their vehicles; I go to announce my son.”
Những người dân quê đã tụ tập, và những thị dân đã tụ tập, hãy nhanh chóng chuẩn bị xe cộ. Ta đi để tìm tin tức về con trai.
69.
69.
69.
‘‘Asse ca sārathī yutte, sindhave sīghavāhane;
Rājadvāraṃ upāgacchuṃ, yuttā deva ime hayā’’.
The charioteers, having yoked the swift Sindh steeds, approached the royal gate, saying: ‘Your Majesty, these horses are yoked.’”
Các người đánh xe, sau khi thắng những con ngựa giống Sindh, chạy nhanh, đã đến cổng hoàng cung (và thưa): 'Tâu đức vua, những con ngựa này đã được thắng vào xe.'
70.
70.
70.
‘‘Thūlā javena hāyanti, kisā hāyanti thāmunā;
Kise thūle vivajjetvā, saṃsaṭṭhā yojitā hayā’’.
“The stout ones fall behind in speed, the lean ones fall behind in strength; avoiding the lean and the stout, well-matched horses have been yoked.”
Ngựa béo thì mất tốc độ, ngựa gầy thì mất sức bền. Đã tránh những con gầy và béo, những con ngựa có tầm vóc cân đối đã được thắng vào xe.
71.
71.
71.
‘‘Tato rājā taramāno, yuttamāruyha sandanaṃ;
Itthāgāraṃ ajjhabhāsi †, sabbāva anuyātha maṃ.
Then the king, hastening, mounted the yoked chariot and addressed the women's quarters: ‘All of you, follow me!’
Bấy giờ, đức vua vội vã leo lên cỗ xe đã được thắng yên, và nói với các cung nữ: 'Tất cả các ngươi hãy đi theo ta.'
72.
72.
72.
‘‘Vālabījanimuṇhīsaṃ, khaggaṃ chattañca paṇḍaraṃ;
Upādhi rathamāruyha †, suvaṇṇehi alaṅkatā.
Taking the yak-tail fan, the turban, the sword, and the white parasol, the retinue, adorned with gold, mounted the chariots.
Các cung nữ, được trang hoàng bằng vàng, đã mang theo phất trần, vương miện, bảo kiếm, lọng trắng, và các vật dụng tùy tùng, rồi leo lên xe.
73.
73.
73.
‘‘Tato sa † rājā pāyāsi, purakkhatvāna sārathiṃ;
Khippameva upāgacchi, yattha sammati temiyo.
Then that king set out, with the charioteer leading the way. He very quickly approached the place where Temiya was dwelling.
Bấy giờ, vị vua ấy, để người đánh xe đi trước, đã khởi hành. Ngài đã nhanh chóng đi đến nơi mà vương tử Temiya đang ở.
74.
74.
74.
‘‘Tañca disvāna āyantaṃ, jalantamiva tejasā;
Khattasaṅghaparibyūḷhaṃ †, temiyo etadabravi’’.
Seeing him coming, blazing as if with splendor, surrounded by an assembly of warriors, Temiya spoke these words:
Vương tử Temiya, khi thấy ngài đang đến, rực rỡ như lửa với uy lực, được đoàn tùy tùng Khattiya vây quanh, đã nói lên lời này.
75.
75.
75.
‘‘Kacci nu tāta kusalaṃ, kacci tāta anāmayaṃ;
Sabbā ca † rājakaññāyo, arogā mayha mātaro’’.
“Is all well with you, father? Are you free from illness, father? And are all the royal ladies, my mothers, free from disease?”
“Thưa phụ hoàng, ngài có được an lạc chăng? Thưa phụ hoàng, ngài có được vô bệnh chăng? Và tất cả các công chúa, cùng các mẫu hậu của con, có được khỏe mạnh chăng?”
76.
76.
76.
‘‘Kusalañceva me putta, atho putta anāmayaṃ;
Sabbā ca rājakaññāyo, arogā tuyha mātaro’’.
“All is well with me, my son, and I am also free from illness. And all the royal ladies, your mothers, are without disease.”
“Này con trai, ta được an lạc, và này con trai, ta cũng được vô bệnh. Tất cả các công chúa và các mẫu hậu của con đều được khỏe mạnh.”
77.
77.
77.
‘‘Kacci amajjapo † tāta, kacci te suramappiyaṃ;
Kacci sacce ca dhamme ca, dāne te ramate mano’’.
Father, I trust you do not drink intoxicants? I trust that liquor is not dear to you? Does your mind delight in truth, in righteousness, and in giving?
“Thưa phụ hoàng, ngài có không uống rượu chăng? Thưa phụ hoàng, ngài có không ưa thích rượu mạnh chăng? Thưa phụ hoàng, tâm của ngài có hoan hỷ trong sự thật, trong Chánh pháp, và trong bố thí chăng?”
78.
78.
78.
‘‘Amajjapo ahaṃ putta, atho me suramappiyaṃ;
Atho sacce ca dhamme ca, dāne me ramate mano’’.
I do not drink intoxicants, my son, and liquor is not dear to me; and my mind delights in truth, in righteousness, and in giving.
“Này con trai, ta không uống rượu, và ta cũng không ưa thích rượu mạnh. Này con trai, tâm của ta cũng hoan hỷ trong sự thật, trong Chánh pháp, và trong bố thí.”
79.
79.
79.
‘‘Kacci arogaṃ yoggaṃ te, kacci vahati vāhanaṃ;
Kacci te byādhayo natthi, sarīrassupatāpanā’’.
I trust your yoked vehicle is sound, and that your conveyance functions well? I trust you have no illnesses that afflict the body?
“Thưa phụ hoàng, các con vật kéo xe của ngài có khỏe mạnh chăng? Các cỗ xe của ngài có chạy tốt chăng? Ngài có không bị các bệnh tật làm khổ thân xác chăng?”
80.
80.
80.
‘‘Atho arogaṃ yoggaṃ me, atho vahati vāhanaṃ;
Atho me byādhayo natthi, sarīrassupatāpanā’’ †.
And my yoked vehicle is sound, and my conveyance functions well; and I have no illnesses that afflict the body.
“Này con trai, các con vật kéo xe của ta đều khỏe mạnh, và các cỗ xe của ta cũng chạy tốt. Ta cũng không bị các bệnh tật làm khổ thân xác.”
81.
81.
81.
‘‘Kacci antā ca te phītā, majjhe ca bahalā tava;
Koṭṭhāgārañca kosañca, kacci te paṭisanthataṃ’’ †.
I trust your borderlands are prosperous, and your central regions are populous? I trust your granaries and treasury are well-provided for?
“Thưa phụ hoàng, các vùng biên địa của ngài có được thịnh vượng chăng, và các vùng trung tâm của ngài có được đông đúc chăng? Kho lẫm và ngân khố của ngài có được sung túc chăng?”
82.
82.
82.
‘‘Atho antā ca me phītā, majjhe ca bahalā mama;
Koṭṭhāgārañca kosañca, sabbaṃ me paṭisanthataṃ’’.
And my borderlands are prosperous, and my central regions are populous; my granaries and treasury, all are well-provided for.
“Này con trai, các vùng biên địa của ta đều thịnh vượng, và các vùng trung tâm của ta cũng đông đúc. Kho lẫm và ngân khố của ta, tất cả đều sung túc.”
83.
83.
83.
‘‘Svāgataṃ te mahārāja, atho te adurāgataṃ;
Patiṭṭhapentu † pallaṅkaṃ, yattha rājā nisakkati’’.
Welcome to you, great king, and your arrival is most fortunate. Let them prepare a seat where the king may sit.
“Kính chào Đại vương, chuyến đi của ngài thật tốt đẹp. Và chuyến đi của ngài thật may mắn. Xin hãy cho dọn một chỗ ngồi, nơi đức vua sẽ ngự.”
84.
84.
84.
‘‘Idheva te nisīdassu †, niyate paṇṇasanthare;
Etto udakamādāya, pāde pakkhālayassu † te’’.
Pray, sit here, great king, upon this prepared spread of leaves. Taking water from here, please wash your feet.
“Xin ngài hãy ngự ngay tại đây, trên tấm thảm lá đã được dọn sẵn này. Xin hãy lấy nước từ đây và rửa chân cho ngài.”
85.
85.
85.
‘‘Idampi paṇṇakaṃ mayhaṃ, randhaṃ rāja aloṇakaṃ;
Paribhuñja mahārāja, pāhuno mesidhāgato’’ †.
Here is my leaf-vegetable, O king, cooked and without salt. Partake of it, great king; you who have come here are my guest.
“Thưa đức vua, đây là món rau của con, đã được nấu chín và không có muối. Xin Đại vương hãy dùng, ngài đến đây là khách của con.”
86.
86.
86.
‘‘Na cāhaṃ † paṇṇaṃ bhuñjāmi, na hetaṃ mayha bhojanaṃ;
Sālīnaṃ odanaṃ bhuñje, suciṃ maṃsūpasecanaṃ’’.
I do not eat leaves, for that is not my food. I eat the rice of fine Sāli grain, pure and with a meat sauce.
“Ta không ăn rau, đó không phải là thức ăn của ta. Ta ăn cơm nấu từ gạo Sāli thượng hạng, thanh sạch, với thức ăn mặn bằng thịt.”
87.
87.
87.
‘‘Accherakaṃ maṃ paṭibhāti, ekakampi rahogataṃ;
Edisaṃ bhuñjamānānaṃ, kena vaṇṇo pasīdati’’.
It seems amazing to me, regarding you who live alone in seclusion and sustain yourself on such food. By what means does your complexion shine so brightly?
“Điều này thật kỳ diệu đối với ta! Con sống một mình nơi thanh vắng, ăn những thức ăn như thế này, do đâu mà dung sắc của con lại tươi sáng như vậy?”
88.
88.
88.
‘‘Eko rāja nipajjāmi, niyate paṇṇasanthare;
Tāya me ekaseyyāya, rāja vaṇṇo pasīdati.
Alone, O king, I lie down on a prepared spread of leaves; because of this solitary sleeping, O king, my complexion is bright.
“Thưa đức vua, con nằm ngủ một mình trên tấm thảm lá đã được dọn sẵn. Thưa đức vua, chính nhờ việc ngủ một mình ấy mà dung sắc của con được tươi sáng.”
89.
89.
89.
‘‘Na ca nettiṃsabandhā † me, rājarakkhā upaṭṭhitā;
Tāya me sukhaseyyāya, rāja vaṇṇo pasīdati.
No sword-bearing royal guards are in attendance on me; because of this peaceful sleep, O king, my complexion is bright.
“Không có các thị vệ hoàng gia, tay mang gươm báu, đứng hầu cận con. Thưa đức vua, chính nhờ giấc ngủ an lạc ấy mà dung sắc của con được tươi sáng.”
90.
90.
90.
‘‘Atītaṃ nānusocāmi, nappajappāmināgataṃ †;
I do not grieve for the past, nor do I yearn for the future.
“Con không sầu muộn về quá khứ, con không mong cầu cho tương lai;”
Paccuppannena yāpemi, tena vaṇṇo pasīdati.
I sustain myself with what is present; for that reason, my complexion is bright.
“Con sống với những gì hiện tại, do đó mà dung sắc của con được tươi sáng.”
91.
91.
91.
‘‘Anāgatappajappāya, atītassānusocanā;
Etena bālā sussanti, naḷova harito luto’’.
Through yearning for the future and grieving for the past, by this, fools wither away, like a green reed that has been cut.
“Do mong cầu cho tương lai và sầu muộn về quá khứ, bởi điều ấy, kẻ ngu si héo mòn, như cây sậy xanh bị cắt lìa.”
92.
92.
92.
‘‘Hatthānīkaṃ rathānīkaṃ, asse pattī ca vammino;
Nivesanāni rammāni, ahaṃ putta dadāmi te.
Corps of elephants, corps of chariots, horses, and armored foot-soldiers; delightful dwellings—these I give to you, my son.
“Này con trai, ta sẽ ban cho con các binh đội tượng, binh đội xe, ngựa, bộ binh, và các chiến sĩ mặc áo giáp, cùng những cung điện nguy nga.”
93.
93.
93.
‘‘Itthāgārampi te dammi, sabbālaṅkārabhūsitaṃ;
Tā putta paṭipajjassu †, tvaṃ no rājā bhavissasi.
I give you a harem as well, adorned with every ornament. Beget sons by them, my son, and you shall be our king.
“Ta cũng sẽ ban cho con cung nữ, được trang điểm với tất cả đồ trang sức. Này con trai, hãy đón nhận họ, con sẽ là vua của chúng ta.”
94.
94.
94.
‘‘Kusalā naccagītassa, sikkhitā cāturitthiyo †;
Kāme taṃ ramayissanti, kiṃ araññe karissasi.
Women skilled in dance and song, trained in graceful arts, will delight you with sensual pleasures. What will you do in the forest?
“Những người phụ nữ duyên dáng, khéo léo trong ca múa, được huấn luyện kỹ càng, sẽ làm con vui thích với các dục lạc. Con sẽ làm gì trong rừng?”
95.
95.
95.
‘‘Paṭirājūhi te kaññā, ānayissaṃ alaṅkatā;
Tāsu putte janetvāna, atha pacchā pabbajissasi.
From other kings I shall have adorned maidens brought for you. Having begotten sons by them, then afterwards you may go forth into homelessness.
“Ta sẽ mang về cho con những công chúa được trang điểm lộng lẫy từ các vua chư hầu. Sau khi sinh được các con trai với họ, rồi sau đó con hãy xuất gia.”
96.
96.
96.
‘‘Yuvā ca daharo cāsi †, paṭhamuppattiko † susu;
Rajjaṃ kārehi bhaddante, kiṃ araññe karissasi’’.
You are young and a tender youth, in the very first stage of life. Rule the kingdom, I pray you. What will you do in the forest?
“Con còn trẻ, còn non nớt, đang trong tuổi thanh xuân đầu đời. Mong con được an lành, hãy trị vì vương quốc. Con sẽ làm gì trong rừng?”
97.
97.
97.
‘‘Yuvā care brahmacariyaṃ, brahmacārī yuvā siyā;
Daharassa hi pabbajjā, etaṃ isīhi vaṇṇitaṃ.
A young man should live the holy life; one who lives the holy life should be young. For the going-forth of a youth—this is what is praised by the seers.
“Người trẻ nên thực hành phạm hạnh, người trẻ nên là người sống phạm hạnh. Việc xuất gia khi còn trẻ, điều này được các bậc ẩn sĩ tán thán.”
98.
98.
98.
‘‘Yuvā care brahmacariyaṃ, brahmacārī yuvā siyā;
Brahmacariyaṃ carissāmi, nāhaṃ rajjena matthiko.
A young man should live the holy life; one who lives the holy life should be young. I shall live the holy life; I have no need for the kingdom.
“Người trẻ nên thực hành phạm hạnh, người trẻ nên là người sống phạm hạnh. Con sẽ thực hành phạm hạnh, con không có nhu cầu với vương quốc.”
99.
99.
99.
‘‘Passāmi vohaṃ daharaṃ, amma tāta vadantaraṃ †;
Kicchāladdhaṃ piyaṃ puttaṃ, appatvāva jaraṃ mataṃ.
I see a young child, just able to say 'mother' and 'father'—a beloved son, obtained with difficulty—dead before reaching old age.
“Con thấy đứa trẻ còn non nớt, vừa mới biết gọi ‘mẹ’, ‘cha’, một đứa con thân yêu khó khăn mới có được, đã chết đi khi chưa đến tuổi già.”
100.
100.
100.
‘‘Passāmi vohaṃ dahariṃ, kumāriṃ cārudassaniṃ;
Navavaṃsakaḷīraṃva, paluggaṃ jīvitakkhayaṃ †.
I see a young maiden, a girl lovely to behold, snapped off like a tender bamboo shoot, her life exhausted.
“Con thấy người thiếu nữ trẻ trung, xinh đẹp đáng yêu, bị gãy lìa như một búp măng non, mạng sống đã chấm dứt.”
101.
101.
101.
‘‘Daharāpi hi miyyanti, narā ca atha nāriyo;
Tattha ko vissase poso, daharomhīti jīvite.
For the young die indeed, both men and women. In that case, what person can be confident in life, thinking, 'I am young'?
“Cả nam và nữ, dù còn trẻ, cũng đều phải chết. Trong hoàn cảnh đó, người nào có thể tin tưởng vào mạng sống, nghĩ rằng: ‘Ta còn trẻ’?”
102.
102.
102.
‘‘Yassa ratyā vivasāne, āyu appataraṃ siyā;
Appodakeva macchānaṃ, kiṃ nu komārakaṃ † tahiṃ.
With the passing of each day and night, one's lifespan grows shorter. Like the lives of fish in a small puddle of water, what significance, then, does youthfulness have?
Tâu Đại vương, đối với người nào mà ngày đêm trôi qua, tuổi thọ lại càng ngắn lại; cũng như tuổi thọ của loài cá trong chỗ nước cạn, thì làm sao có thể có được sự vui thích trẻ trung trong đó?
103.
103.
103.
‘‘Niccamabbhāhato loko, niccañca parivārito;
Amoghāsu vajantīsu, kiṃ maṃ rajjebhisiñcasi’’ †.
The world is constantly afflicted, constantly surrounded. While the nights pass unfailingly, why do you anoint me for the kingdom?
Tâu Đại vương, thế gian luôn bị áp bức, luôn bị bao vây; khi những đêm ngày trôi qua không vô ích, tại sao phụ vương lại muốn tấn phong con lên ngôi vua?
104.
104.
104.
‘‘Kena mabbhāhato loko, kena ca parivārito;
Kāyo amoghā gacchanti, taṃ me akkhāhi pucchito’’.
By what is the world afflicted? And by what is it surrounded? What are the unfailing things that pass away? Being asked, please explain this to me.
Này con trai, thế gian bị ai áp bức, và bị ai bao vây? Những đêm ngày nào trôi qua không vô ích? Con đã được hỏi, hãy nói cho ta biết điều đó.
105.
105.
105.
‘‘Maccunābbhāhato loko, jarāya parivārito;
Ratyo amoghā gacchanti, evaṃ jānāhi khattiya.
The world is afflicted by death, surrounded by old age. The nights pass unfailingly; know this, O khattiya.
Tâu Sát-đế-lỵ, thế gian bị thần chết áp bức, bị tuổi già bao vây; những đêm ngày trôi qua không vô ích (làm hao mòn sinh mạng). Xin phụ vương hãy biết như vậy.
106.
106.
106.
‘‘Yathāpi tante vitate †, yaṃ yadevūpaviyyati †;
Appakaṃ hoti vetabbaṃ, evaṃ maccāna jīvitaṃ.
Just as on a stretched loom, with each thread that is woven, little remains to be woven; even so is the life of mortals.
Cũng như trên khung cửi đã giăng, mỗi khi một sợi chỉ được dệt vào, phần còn lại phải dệt trở nên ít đi; cũng vậy, mạng sống của chúng sanh cũng ít ỏi.
107.
107.
107.
‘‘Yathā vārivaho pūro, gacchaṃ nupanivattati †;
Evamāyu manussānaṃ, gacchaṃ nupanivattati.
Just as a river, full and flowing, does not turn back, so the life of human beings, flowing onward, does not return.
Cũng như dòng sông đầy nước chảy xuôi không bao giờ quay ngược lại; cũng vậy, tuổi thọ của con người trôi đi không bao giờ quay trở lại.
108.
108.
108.
‘‘Yathā vārivaho pūro, vahe rukkhepakūlaje;
Evaṃ jarāmaraṇena, vuyhante sabbapāṇino’’.
Just as a river in full flood might carry away the trees on its banks, so are all living beings swept away by old age and death.
Cũng như dòng sông đầy nước cuốn trôi những cây cối mọc ven bờ; cũng vậy, tất cả chúng sanh đều bị già và chết cuốn đi.
109.
109.
109.
‘‘Hatthānīkaṃ rathānīkaṃ, asse pattī ca vammino;
Nivesanāni rammāni, ahaṃ putta dadāmi te.
Corps of elephants, corps of chariots, horses, and armored foot-soldiers; delightful dwellings—these I give to you, my son.
Này con trai, ta ban cho con tượng binh, xa binh, ngựa, bộ binh mặc áo giáp, và những cung điện nguy nga.
110.
110.
110.
‘‘Itthāgārampi te dammi, sabbālaṅkārabhūsitaṃ;
Tā putta paṭipajjassu, tvaṃ no rājā bhavissasi.
I give you a harem as well, adorned with every ornament. Beget sons by them, my son, and you shall be our king.
Ta cũng ban cho con hậu cung được trang hoàng với tất cả đồ trang sức. Này con trai, hãy sinh con với họ, con sẽ là vua của chúng ta.
111.
111.
111.
‘‘Kusalā naccagītassa, sikkhitā cāturitthiyo;
Kāme taṃ ramayissanti, kiṃ araññe karissasi.
Women skilled in dance and song, trained in graceful arts, will delight you with sensual pleasures. What will you do in the forest?
Này con trai, những người phụ nữ duyên dáng, khéo léo trong ca múa, được huấn luyện kỹ càng, sẽ làm con vui thích trong các dục lạc. Con sẽ làm gì trong rừng?
112.
112.
112.
‘‘Paṭirājūhi te kaññā, ānayissaṃ alaṅkatā;
Tāsu putte janetvāna, atha pacchā pabbajissasi.
From other kings I shall have adorned maidens brought for you. Having begotten sons by them, then afterwards you may go forth into homelessness.
Này con trai, ta sẽ mang về cho con những công chúa được trang điểm lộng lẫy từ các vị vua lân bang. Sau khi sinh con với họ, rồi sau đó con hãy xuất gia.
113.
113.
113.
‘‘Yuvā ca daharo cāsi, paṭhamuppattiko susu;
Rajjaṃ kārehi bhaddante, kiṃ araññe karissasi.
You are young and a tender youth, in the very first stage of life. Rule the kingdom, I pray you. What will you do in the forest?
Con còn trẻ, còn non nớt, đang ở tuổi thanh xuân đầu tiên, rất trẻ trung. Mong con được an lành, hãy trị vì vương quốc. Con sẽ làm gì trong rừng?
114.
114.
114.
‘‘Koṭṭhāgārañca kosañca, vāhanāni balāni ca;
Nivesanāni rammāni, ahaṃ putta dadāmi te.
Granaries and treasury, vehicles and armies, and delightful dwellings—these I give to you, my son.
Này con trai, ta ban cho con kho lẫm, ngân khố, xe cộ, quân đội, và những cung điện nguy nga.
115.
115.
115.
‘‘Gomaṇḍalaparibyūḷho, dāsisaṅghapurakkhato;
Rajjaṃ kārehi bhaddante, kiṃ araññe karissasi’’.
Surrounded by herds of cattle, attended by a host of female servants, rule the kingdom, I pray you. What will you do in the forest?
Được vây quanh bởi các công nương xinh đẹp, được đoàn nữ tỳ hầu hạ, mong con được an lành, hãy trị vì vương quốc. Con sẽ làm gì trong rừng?
116.
116.
116.
‘‘Kiṃ dhanena yaṃ khīyetha †, kiṃ bhariyāya marissati;
Kiṃ yobbanena jiṇṇena †, yaṃ jarāyābhibhuyyati †.
What use is wealth that is subject to destruction? What use is a wife who will die? What use is worn-out youth that is overcome by old age?
Của cải rồi sẽ tiêu tan, có ích gì? Người vợ rồi sẽ chết, có ích gì? Tuổi trẻ rồi sẽ già nua, bị tuổi già chinh phục, có ích gì?
117.
117.
117.
‘‘Tattha kā nandi kā khiḍḍā, kā rati kā dhanesanā;
Kiṃ me puttehi dārehi, rāja muttosmi bandhanā.
In such a state, what joy is there, what play? What delight, what seeking of wealth? What are sons and wives to me? O king, I am released from bondage.
Trong đó có niềm vui gì, trò chơi gì, sự thích thú gì, sự tìm cầu của cải gì? Con trai và vợ có ích gì cho con? Tâu Đại vương, con đã thoát khỏi sự trói buộc.
118.
118.
118.
‘‘Yohaṃ † evaṃ pajānāmi, maccu me nappamajjati;
Antakenādhipannassa, kā ratī kā dhanesanā.
I who understand thus, know that Death does not neglect me. For one overcome by the End-maker, what delight is there, what seeking of wealth?
Con là người biết như vậy, rằng thần chết không hề lơ là với con. Đối với người bị Kẻ Chấm Dứt chinh phục, có sự thích thú gì, có sự tìm cầu của cải gì?
119.
119.
119.
‘‘Phalānamiva pakkānaṃ, niccaṃ patanato bhayaṃ;
Evaṃ jātāna maccānaṃ, niccaṃ maraṇato bhayaṃ.
Just as for ripe fruits there is the constant fear of falling, so for mortals who are born there is the constant fear of death.
Cũng như những quả chín luôn có nỗi sợ bị rụng; cũng vậy, những chúng sanh đã sinh ra luôn có nỗi sợ phải chết.
120.
120.
120.
‘‘Sāyameke na dissanti, pāto diṭṭhā bahū janā;
Pāto eke na dissanti, sāyaṃ diṭṭhā bahū janā.
Of the many people seen in the morning, some are not seen by evening; of the many people seen in the evening, some are not seen by morning.
Nhiều người thấy vào buổi sáng, đến chiều một số không còn thấy nữa; nhiều người thấy vào buổi chiều, đến sáng một số không còn thấy nữa.
121.
121.
121.
‘‘Ajjeva kiccaṃ ātappaṃ, ko jaññā maraṇaṃ suve;
Na hi no saṅkaraṃ † tena, mahāsenena maccunā.
Today itself the effort must be made; who knows if death will come tomorrow? For we have no agreement with that Death and its great army.
Ngay hôm nay hãy nỗ lực làm điều cần làm, ai biết được cái chết sẽ đến vào ngày mai? Vì chúng ta không thể nào thương lượng được với thần chết, kẻ có đạo quân hùng mạnh.
122.
122.
122.
‘‘Corā dhanassa patthenti, rājamuttosmi bandhanā;
Ehi rāja nivattassu, nāhaṃ rajjena matthiko’’ti.
Thieves long for wealth; O king, I am freed from bondage. Come, O king, turn back. I have no need of the kingdom.
Kẻ trộm mong muốn của cải, tâu Đại vương, con đã thoát khỏi sự trói buộc. Xin mời Đại vương hãy quay về, con không cần đến vương quốc.
Mūgapakkhajātakaṃ paṭhamaṃ.
The Mūgapakkha Jātaka, the first.
Bổn sanh Mūgapakkha, phần thứ nhất.