Bản dịch
JA 537 — Chuyện đại Sutasoma (Tiền thân Mah à-Sutasoma)
5. Mahāsutasomajātaka
4196 . “Này đầu bếp, tại sao ngươi lại làm những hành động vô cùng tàn bạo như thế này? Ngươi giết những người đàn bà và đàn ông do ngươi bị mê muội, vì nguyên nhân miếng thịt hay là vì lý do tài sản?”
4197 . “Không vì nguyên nhân miếng thịt, không vì lý do tài sản,
không vì lý do vợ, con, bạn bè, hay thân quyến,
chủ nhân của tôi là đấng hộ quốc có quyền uy,
vị ấy ăn thịt như thế này, thưa ngài.”
4198 . “Nếu bị gắn bó với lợi ích của chủ nhân mà ngươi
làm những hành động vô cùng tàn bạo như thế này,
vào sáng sớm mai, sau khi đi đến hoàng cung,
ngươi có thể nói với ta điều ấy trước mặt đức vua.”
4199 . “Thưa ngài, tôi sẽ làm như thế ấy,
đúng với điều mà ngài nói, thưa tướng quân Kāḷahatthi.
vào sáng sớm mai, sau khi đi đến hoàng cung,
tôi sẽ nói với ngài điều ấy trước mặt đức vua.”
4203 . “Con cá Ānanda, có sự thèm khát mùi vị của mọi loài cá, đã ăn thịt các con cá. Khi loài cá bị cạn kiệt hoàn toàn, nó đã ăn chính mình và chết đi.
4205 . Sau khi nghe ví dụ này của thần, tâu bệ hạ, xin bệ hạ chớ thọ thực thịt người bởi lòng mong muốn không có nguyên nhân. Tựa như con cá Ānanda (đã khiến cho đại dương trở nên trống vắng), tâu vị lãnh tụ của loài hai chân, xin bệ hạ chớ làm cho đất nước trở thành trống không.”
4207 . Tương tự y như vậy, này tướng quân Kāḷa, sau khi ăn món ăn có hương vị tối thượng, trẫm nghĩ rằng, không đạt được thịt người, trẫm sẽ từ bỏ mạng sống.”
4208 . “‘Này Bà-la-môn trai trẻ, con có dáng vóc xinh đẹp, con được sinh ra ở gia tộc hưng thịnh. Này con yêu, con không thích hợp để thọ dụng vật không đáng thọ dụng.’
4209 . ‘Bởi vì cha ngăn cấm con về rượu, vật có một hương vị nào đó trong bảy loại hương vị, con đây sẽ đi đến nơi nào con sẽ đạt được vật như thế ấy.
4210 . Chính con đây sẽ ra đi, con sẽ không sống bên cạnh cha. Thưa vị Bà-la-môn, do việc nhìn thấy con đây, cha không vui thích.’
4211 . ‘Này Bà-la-môn trai trẻ, đương nhiên cha sẽ đạt được những đứa con trai khác làm kẻ thừa kế. Còn ngươi, này kẻ hèn hạ, ngươi hãy biến mất đi. Ngươi đi đến nơi nào, ta sẽ không nghe ngóng về ngươi ở nơi ấy nữa.’
4215 . Tương tự y như thế, này tướng quân Kāḷa, sau khi ăn món ăn có hương vị tối thượng, trẫm nghĩ rằng, không đạt được thịt người, trẫm sẽ từ bỏ mạng sống.”
4218 . “Đã được trẫm bảo: ‘Hãy đứng lại,’ ngài đây vẫn đi tới, mặt nhìn hướng khác. Này vị hành Phạm hạnh, ngài không đứng yên, nhưng lại nói: ‘Ta đang đứng.’ Này vị Sa-môn, điều này không thích hợp đối với ngài. Và ngài nghĩ rằng thanh gươm của trẫm là cọng lông chim diệc hay sao?”
4223 . “Những người trí thức, có trí tuệ, có kiến thức, có nhiều sự suy xét về nguyên nhân, chắc chắn không than khóc, bởi vì sự sáng suốt ấy là hòn đảo (nương tựa) tối cao của những người nam, và các bậc sáng suốt là những người xua đi nỗi sầu muộn (cho những chúng sanh có sự sầu muộn).
4224 . Này đại vương Sutasoma, vậy bệ hạ có thể hối tiếc về điều gì,
về bản thân, thân quyến, hay là vợ con,
về lúa gạo, tài sản, bạc, hay vàng?
Này vị đứng đầu của cư dân Kuru, chúng tôi lắng nghe lời nói của bệ hạ.”
4235 . Và vị ấy đã được thoát khỏi vòng tay của kẻ ăn thịt người. Đức vua Sutasoma, sau khi đi đến gặp vị Bà-la-môn ấy, đã nói điều này: ‘Hãy cho trẫm nghe các kệ ngôn đáng giá một trăm tiền, này vị Bà-la-môn, các điều được trẫm nghe có thể đem lại lợi ích cho trẫm.’
4236. “Thưa ngài Sutasoma, việc gặp gỡ với những người tốt dầu chi một lần, sự hội ngộ ấy hộ trì vị ấy. Không gặp gỡ nhiều với những kẻ xấu.
4237. Bệ hạ hãy thân cận chỉ với những người tốt. Bệ hạ hãy thực hiện sự thân thiết với những người tốt. Người hiểu rõ chánh pháp của các bậc thiện nhân trở nên tốt hơn, không trở thành xấu hơn.
4238 . Thật vậy, các cỗ vương xa khéo được tô điểm cũng trở thành cũ kỹ,
thậm chí thân xác này cũng đi đến sự già nua,
nhưng pháp của các bậc thiện nhân không đi đến sự lão hóa,
các bậc thiện nhân quả thật tuyên thuyết về điều tốt lành.
4239. Bầu trời là xa vời, và trái đất là xa vời,
bờ kia của biển cả là xa vời, các vị đã nói điều ấy.
Thật vậy, các vị nói về điều còn xa vời hơn thế nữa,
về pháp của các bậc thiện nhân và của những kẻ xấu xa, tâu bệ hạ.”
4240 . “Các câu kệ này là tiền ngàn, các câu kệ này không phải giá tiền trăm. Này vị Bà-la-môn, ông hãy mau nhận lấy bốn ngàn.”
4242 . “Con mong muốn sự tiến bộ về kiến thức cho bản thân,
và các bậc thiện nhân, những người tốt lành, có thể chia sớt cho con.
Con tựa như đại dương (không bị tràn đầy) với những dòng sông,
thưa cha, bởi vì con không nhàm chán đối với thiện ngôn.
4246 . “Bởi vì, những người này là để bảo vệ bản thân:
các tượng binh, các xa binh, và các bộ binh,
các kỵ mã, và các cung thủ.
Chúng ta hãy sử dụng quân đội, chúng ta hãy giết chết kẻ thù.”
4254 . “Không được ăn mười loại thịt, đã được vị Sát- đế- lỵ biết đến. Này vị chúa tể, ngươi ăn loại thịt không nên ăn; vì thế, ngươi là kẻ phi pháp.”
4255 . “Bệ hạ đã được thoát khỏi vòng tay của kẻ ăn thịt người,
sau khi đi đến cung điện của mình, là người có sự ham muốn các dục,
bệ hạ còn quay trở lại trong vòng tay của kẻ thù.
Tâu bệ hạ, bệ hạ không thiện xảo về pháp của vị Sát- đế- lỵ.”
4256 . “Những người nào thiện xảo về pháp của vị Sát- đế- lỵ,
phần đông những người ấy trở thành những kẻ sanh vào địa ngục.
Vì thế, trẫm từ bỏ pháp của vị Sát- đế- lỵ.
Là người gìn giữ sự chân thật, trẫm đã tự mình quay trở lại.
Này kẻ ăn thịt người, hãy dâng cúng lễ tế thần, hãy ăn thịt trẫm.”
4257 . “Với các tòa lâu đài là chỗ trú ngụ, với đất đai, bò, ngựa,
với các nữ nhân là nguồn của dục vọng, với vải Kāsi, và trầm hương,
bệ hạ đạt được mọi thứ ở nơi ấy với tư cách chủ nhân,
bệ hạ nhìn thấy lợi ích gì với sự chân thật?”
4258 . “Bất cứ những hương vị nào có cho trẫm ở trên trái đất,
trong số các hương vị ấy, sự chân thật là ngọt ngào hơn cả.
Và đứng vững ở sự chân thật, các vị Sa-môn và Bà-la-môn
vượt qua bờ kia của sanh và tử.”
4259 . “Bệ hạ đã được thoát khỏi vòng tay của kẻ ăn thịt người,
sau khi đi đến cung điện của mình, là người có sự ham muốn các dục,
bệ hạ còn quay trở lại trong vòng tay của kẻ thù,
tâu vị chúa của loài người, chắc hẳn bệ hạ không có sự sợ hãi cái chết,
và bệ hạ có tâm không nhút nhát, có lời nói chân thật.”
4260 . “Các hành động tốt lành với nhiều hình thức đã được trẫm làm,
các lễ tế thần đã được trẫm dâng cúng là to lớn, đã được ca ngợi,
con đường đi đến thế giới khác đã được sạch sẽ,
đã đứng vững ở sự chân thật, ai có thể sợ hãi đối với cái chết?
4268 . “Giống như người nhận biết chất độc hại mà vẫn ăn vào, hoặc nhận biết con rắn độc có uy lực hung bạo tựa như ngọn lửa cháy rực, mà vẫn nắm giữ, (tương tự y như vậy) kẻ nào ăn thịt người có lời nói chân thật như bệ hạ, thậm chí cái đầu của kẻ ấy cũng có thể vỡ tan thành bảy mảnh.
4278 . “Tình thân hữu được hội tụ giữa người thánh thiện với người thánh thiện, được hội tụ giữa người có trí tuệ với người có trí tuệ, (ước gì) có thể nhìn thấy ngươi một trăm tuổi, không bệnh tật; trẫm chọn điều này là điều thứ nhất trong bốn điều ân huệ.”
4279 . “Tình thân hữu được hội tụ giữa người thánh thiện với người thánh thiện, được hội tụ giữa người có trí tuệ với người có trí tuệ, bệ hạ hãy nhìn thấy ta một trăm tuổi, không bệnh tật; ta ban cho điều này là điều thứ nhất trong bốn điều ân huệ.”
4280 . “Những vị Sát-đế-lỵ nào là các bậc hộ trì lãnh thổ ở nơi này,
đã được làm lễ phong vương, đã được đặt danh hiệu,
ngươi chớ ăn thịt các vị lãnh chúa như thế ấy;
trẫm chọn điều này là điều thứ nhì trong bốn điều ân huệ.”
4281 . “Những vị Sát-đế-lỵ nào là các bậc hộ trì lãnh thổ ở nơi này,
đã được làm lễ phong vương, đã được đặt danh hiệu,
ta sẽ không ăn thịt các vị lãnh chúa như thế ấy;
ta ban cho điều này là điều thứ nhì trong bốn điều ân huệ.”
4282 . “Hơn một trăm vị Sát-đế-lỵ đã bị ngươi bắt giữ,
bị đâm xuyên lòng bàn tay, có khuôn mặt đẫm nước mắt, đang khóc lóc.
Ngươi hãy đưa họ về lại đất nước của họ;
trẫm chọn điều này là điều thứ ba trong bốn điều ân huệ.”
4283. “Hơn một trăm vị Sát-đế-lỵ đã bị ta bắt giữ,
bị đâm xuyên lòng bàn tay, có khuôn mặt đẫm nước mắt, đang khóc lóc.
Ta sẽ đưa họ về lại đất nước của họ;
ta ban cho điều này là điều thứ ba trong bốn điều ân huệ.”
4284. “Đất nước của ngươi bị tan hoang, bị đè nặng bởi các nỗi sợ hãi,
số đông người bỏ trốn vào hang động.
Này vị chúa tể, ngươi hãy chừa bỏ thịt người
trẫm chọn điều này là điều thứ tư trong bốn điều ân huệ.”
4285 . “Món ăn ấy thật sự được thích ý đối với ta.
Vì nguyên nhân của việc này mà ta đi vào sống trong rừng.
Làm thế nào ta đây có thể kiêng cử vật này?
Bệ hạ hãy chọn điều khác là điều thứ tư trong bốn điều ân huệ.”
4286 . “Này vị chúa của loài người, người như ngươi quả thật không nên nghĩ rằng: ‘Là vật yêu quý của ta,’ rồi quên đi bản thân và phụng sự các vật yêu quý. Chính bản thân là tốt hơn, cao cả hơn vật yêu quý. Các vật yêu quý có thể đạt được sau này nhờ vào phước thiện đã được tích lũy.”
4289 . Và người nào, sau khi suy xét về điều này, rồi từ bỏ các vật yêu quý,
và còn phụng sự Thánh pháp bằng những việc cần phải làm,
tựa như người bị khổ đau đã được uống các loại thuốc chữa bệnh,
chính vì điều ấy, kẻ ấy được an lạc vào thời gian sau đó.”
4290. “Sau khi bỏ bê người cha và người mẹ,
và năm loại dục làm cho thích thú,
vì nguyên nhân của việc này mà ta đi vào sống trong rừng,
làm thế nào ta lại ban cho bệ hạ ân huệ ấy?”
4291 . “Các bậc sáng suốt đã không nói lời nói theo hai cách,
các bậc thiện nhân có lời hứa hẹn với sự chân thật .
Ngươi đã nói với trẫm rằng: ‘ Này bạn tốt , bệ hạ hãy chọn lấy,’
ngươi đã nói như thế, nhưng lời nói không đồng hành với ngươi.”
4292 . “Sự nhận lãnh điều vô phước, sự mất danh vọng, mất tiếng tăm,
điều tội lỗi, nhiều việc làm xấu xa, sự ô uế,
vì nguyên nhân thịt người, ta đã đi đến (tình trạng như thế),
làm thế nào ta có thể ban cho bệ hạ ân huệ ấy?”
4294 . Các bậc thiện nhân buông bỏ mạng sống, chứ thiện pháp thì không,
các bậc thiện nhân có lời hứa hẹn với sự chân thật.
sau khi ban cho điều ân huệ, ngươi hãy mau chóng thực thi,
này chúa thượng tốt lành, ngươi hãy hoàn thành điều này.
4295 . Hơn nữa, người nào từ bỏ tài sản vì lý do (bảo vệ) tay chân,
thì nên từ bỏ tay chân trong khi bảo vệ mạng sống,
trong khi suy niệm về thiện pháp, người ấy nên từ bỏ
tay chân, tài sản, và mạng sống, thậm chí tất cả.
4296 . Nhờ vào vị nào mà một người có thể nhận thức được lẽ phải,
và các bậc thiện nhân dẹp bỏ mối nghi ngờ đối với người này,
chính vị ấy là hòn đảo và là nơi nương tựa của người này;
người có sự hiểu biết không nên hủy hoại tình bạn với vị ấy.”
4300. “Do vị Kammāsapāda (này), các ngài đã bị quấy nhiễu,
bị đâm xuyên lòng bàn tay, có khuôn mặt đẫm nước mắt, đang khóc lóc.
các ngài dứt khoát không được gây hấn với vị chúa tể này,
Các ngài hãy tuyên bố với trẫm lời hứa hẹn với sự chân thật.”
4301 . “Do vị Kammāsapāda (này), chúng tôi đã bị quấy nhiễu,
bị đâm xuyên lòng bàn tay, có khuôn mặt đẫm nước mắt, đang khóc lóc.
Chúng tôi dứt khoát không gây hấn với vị chúa tể này.
Chúng tôi tuyên bố với bệ hạ lời hứa hẹn với sự chân thật.”
4302 . “Giống như người cha, hoặc thậm chí là người mẹ,
là bậc có lòng thương tưởng, mong mỏi điều lợi ích cho các con,
vị chúa tể này hãy tỏ ra tương tự y như vậy đối với các ngài,
và các ngài hãy tỏ ra giống y như những người con.”
4303 . “Giống như người cha, hoặc thậm chí là người mẹ,
là bậc có lòng thương tưởng, mong mỏi điều lợi ích cho các con,
vị chúa tể này hãy tỏ ra tương tự y như vậy đối với chúng tôi,
và chúng tôi cũng sẽ tỏ ra giống y như là những người con.”
4307 . Rồi tiếng âm nhạc, tiếng trống vào lúc nửa đêm
thêm vào dàn nhạc hòa tấu không có nam nhân,
với nhiều bài ca hay và điệu tấu nhạc khéo léo,
tại sao một người (như ngươi) lại từ bỏ và thích thú ở trong rừng?
4309 . “Giống như vào nửa tháng thuộc hạ huyền, mặt trăng bị khuyết dần từng ngày một, tâu bệ hạ, việc gặp gỡ với những kẻ xấu là tương tự như nửa tháng thuộc hạ huyền.
4310. Giống như sau khi đi đến với gã đầu bếp, kẻ nấu ăn, hạng người hạ liệt, ta đã tạo ra nghiệp ác, vì việc ấy ta sẽ đi đến cảnh giới khổ đau.
4311 . Giống như vào nửa tháng thuộc thượng huyền, mặt trăng tăng trưởng từng ngày một, tâu bệ hạ, việc gặp gỡ với những người tốt là tương tự như nửa tháng thuộc thượng huyền.
4312 . Giống như ta sau khi đi đến với bệ hạ, thưa ngài Sutasoma, bệ hạ hãy nhận biết rằng ta sẽ tạo ra nghiệp thiện, nhờ thế ta sẽ đi đến cảnh giới an vui.
4313. Giống như nước luân chuyển ở đất gò, tâu vị chúa của loài người,
không thể duy trì thời gian dài, không tồn tại lâu,
cũng như vậy, nếu là việc gặp gỡ với những kẻ xấu,
thì không thể duy trì thời gian dài, tựa như nước ở đất gò.
4314. Giống như nước luân chuyển ở trong hồ, tâu vị chúa của loài người,
được tồn tại lâu dài, tâu vị tinh tấn hạng nhất của loài người,
cũng như vậy, nếu là việc gặp gỡ với những người tốt,
thì được tồn tại lâu dài, tựa như nước ở trong hồ
4315 . Việc gặp gỡ với những người tốt là không bị hư hoại,
có thể tồn tại cho đến hết mạng sống, và giữ nguyên như thế.
Còn việc gặp gỡ với những kẻ xấu tàn tạ thật nhanh chóng,
vì thế, bản chất của những người tốt là xa lạ với những kẻ xấu.”
4318 . Người ta không biết về vị không nói, (vì thế) bậc sáng suốt bị lẫn lộn với những kẻ ngu dốt; và người ta biết được vị đang nói, đang thuyết giảng về vị thế Bất Tử.
4319 . Vị có thể giảng giải, có thể làm rõ giáo pháp, có thể giương lên ngọn cờ của các bậc ẩn sĩ. Các bậc ẩn sĩ có thiện ngôn là ngọn cờ, chính giáo pháp là ngọn cờ của các bậc ẩn sĩ.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
537. Mahāsutasomajātakaṃ (5)
537. The Mahāsutasoma Jātaka (5)
537. Chuyện Tiền Thân Mahāsutasoma (5)
371.
371.
371.
‘‘Kasmā tuvaṃ rasaka edisāni, karosi kammāni sudāruṇāni;
Hanāsi itthī purise ca mūḷho, maṃsassa hetu adu † dhanassa kāraṇā’’.
“Why, O cook, do you perform such terribly cruel deeds? Deluded one, do you kill women and men for the sake of flesh, or is it for the sake of wealth?”
Này Rasaka, tại sao ngươi lại làm những hành động tàn khốc như vậy? Hỡi kẻ ngu si, ngươi giết cả đàn bà và đàn ông vì lý do thịt hay vì lý do của cải?
372.
372.
372.
‘‘Naṃ attahetū na dhanassa kāraṇā, na puttadārassa sahāyañātinaṃ;
Bhattā ca me bhagavā bhūmipālo, so khādati maṃsaṃ bhadantedisaṃ’’.
“Not for my own sake, nor for the sake of wealth, not for my children and wife, nor for friends and relatives. But my master, the fortunate lord and protector of the earth, he, venerable sir, eats such flesh.”
Không phải vì bản thân tôi, không phải vì của cải, không phải vì vợ con, bạn bè hay quyến thuộc. Thưa ngài, chủ nhân của tôi, bậc có uy quyền, người bảo hộ xứ sở, chính vị ấy ăn loại thịt như thế này.
373.
373.
373.
‘‘Sace tuvaṃ bhatturatthe payutto, karosi kammāni sudāruṇāni;
Pātova antepuraṃ pāpuṇitvā, lapeyyāsi me rājino sammukhe taṃ’’.
“If you perform such cruel deeds while engaged in your master's interest, then go to the inner palace early in the morning and you should state this to me in the presence of the king.”
Nếu ngươi tận tụy vì lợi ích của chủ nhân mà làm những hành động tàn khốc, thì sáng sớm, sau khi vào nội cung, ngươi hãy nói điều đó với ta trước mặt đức vua.
374.
374.
374.
‘‘Tathā karissāmi ahaṃ bhadante, yathā tuvaṃ † bhāsasi kāḷahatthi;
Pātova antepuraṃ pāpuṇitvā, vakkhāmi te rājino sammukhe taṃ’’.
“I will do so, venerable sir, just as you, Kāḷahatthi, have spoken. Having gone to the inner palace early in the morning, I will state this to you in the presence of the king.”
Thưa ngài Kāḷahatthi, tôi sẽ làm như ngài nói. Sáng sớm, sau khi vào nội cung, tôi sẽ nói điều đó với ngài trước mặt đức vua.
375.
375.
375.
Tato ratyā vivasāne †, sūriyuggamanaṃ pati;
Kāḷo rasakamādāya, rājānaṃ upasaṅkami;
Upasaṅkamma † rājānaṃ, idaṃ vacanamabravi.
Then, when the night was ending, towards sunrise, Kāḷa took the cook and approached the king. Having approached the king, he spoke this word:
Sau đó, khi đêm tàn, vào lúc mặt trời mọc, Kāḷa dẫn theo Rasaka đến yết kiến đức vua. Sau khi đến yết kiến đức vua, ông đã nói lời này.
376.
376.
376.
‘‘Saccaṃ kira mahārāja, rasako pesito tayā;
Hanati itthipurise, tuvaṃ maṃsāni khādasi’’.
“Is it true, great king, that the cook was sent by you, that he kills women and men, and that you eat their flesh?”
Tâu Đại vương, có thật chăng Rasaka được ngài sai đi giết đàn bà và đàn ông, và ngài ăn thịt của họ?
377.
377.
377.
‘‘Evameva tathā kāḷa, rasako pesito mayā;
Mama atthaṃ karontassa, kimetaṃ paribhāsasi’’.
“It is just so, Kāḷa. The cook was sent by me. Since he is acting for my benefit, why do you rebuke him?”
Này Kāḷa, đúng là như vậy. Rasaka được ta sai đi. Nó đang làm việc vì lợi ích của ta, tại sao ngươi lại quở trách nó?
378.
378.
378.
‘‘Ānando sabbamacchānaṃ, khāditvā rasagiddhimā;
Parikkhīṇāya parisāya, attānaṃ khādiyā mato.
“Ānanda, greedy for flavors, ate all the fish. When his retinue was exhausted, he ate himself and died.”
(Con cá) Ānanda, vì tham lam vị ngon, đã ăn hết tất cả các loài cá. Khi đoàn tùy tùng đã bị tiêu diệt hết, nó đã ăn chính mình rồi chết.
379.
379.
379.
‘‘Evaṃ pamatto rasagārave ratto †, bālo yadī āyati nāvabujjhati;
Vidhamma putte caji † ñātake ca, parivattiya attānaññeva † khādati.
“Thus, a heedless fool, delighting in the love of flavors, if he does not comprehend the future, destroys his children, abandons his relatives, and turning about, devours only himself.”
Cũng vậy, kẻ ngu si phóng dật, say đắm trong sự tôn sùng vị ngon, nếu không hiểu biết về tương lai, sẽ hủy hoại con cái, từ bỏ quyến thuộc, và quay lại ăn thịt chính mình.
380.
380.
380.
‘‘Idaṃ te sutvāna vigetu † chando, mā bhakkhayī † rāja manussamaṃsaṃ;
Mā tvaṃ imaṃ kevalaṃ vārijova, dvipadādhipa † suññamakāsi raṭṭhaṃ’’.
“Having heard this, may your desire cease. Do not, O king, feed on human flesh. Do not, O lord of bipeds, like the fish king, render this kingdom entirely empty.”
Sau khi nghe điều này, mong rằng ý muốn của ngài sẽ tan biến. Tâu đức vua, xin đừng ăn thịt người. Tâu bậc chúa tể của loài hai chân, xin ngài đừng làm cho vương quốc này trở nên trống rỗng, giống như con cá kia.
381.
381.
381.
‘‘Sujāto nāma nāmena, oraso tassa atrajo †;
Jambupesimaladdhāna, mato so tassa saṅkhaye.
“There was one named Sujāta, his own firstborn son; not having obtained a Jambu fruit, he died due to its lack.”
Có người tên là Sujāta. Con trai trưởng của ông ta, vì không có được quả trâm, đã chết khi quả ấy hết mùa.
382.
382.
382.
‘‘Evameva ahaṃ kāḷa, bhutvā bhakkhaṃ rasuttamaṃ;
Aladdhā mānusaṃ maṃsaṃ, maññe hissāmi † jīvitaṃ’’.
“Just so, Kāḷa, having eaten the most excellent food, if I do not obtain human flesh, I think I will give up my life.”
Này Kāḷa, ta cũng vậy. Sau khi đã ăn món ăn có vị ngon tuyệt hảo, nếu không có được thịt người, ta nghĩ rằng ta sẽ từ bỏ mạng sống.
383.
383.
383.
‘‘Māṇava abhirūposi, kule jātosi sotthiye;
Na tvaṃ arahasi tāta, abhakkhaṃ bhakkhayetave’’.
“Young man, you are handsome, born in a fortunate family; you, dear one, should not eat what is unfit to eat.”
Này chàng thanh niên, con có dung mạo xinh đẹp, con sinh ra trong một gia đình tốt lành. Này con yêu quý, con không đáng ăn thứ không nên ăn.
384.
384.
384.
‘‘Rasānaṃ aññataraṃ etaṃ, kasmā † maṃ tvaṃ nivāraye;
Sohaṃ tattha gamissāmi, yattha lacchāmi edisaṃ.
“This is one among many flavors; why do you restrain me? I will go wherever I can obtain such as this.”
Đây là một trong những vị ngon tuyệt hảo, tại sao cha lại ngăn cản con? Con sẽ đi đến nơi nào mà con có thể có được thứ như thế này.
385.
385.
385.
‘‘Sovāhaṃ nippatissāmi, na te vacchāmi santike;
Yassa me dassanena tvaṃ, nābhinandasi brāhmaṇa’’.
“I will depart, I will not remain near you; for at the sight of me, O brahmin, you feel no joy.”
Con sẽ ra đi, con sẽ không ở gần cha nữa. Thưa Bà-la-môn, cha không vui khi nhìn thấy con.
386.
386.
386.
‘‘Addhā aññepi dāyāde, putte lacchāma māṇava;
Tvañca jamma vinassassu, yattha pattaṃ na taṃ suṇe’’.
“Surely, we may obtain other sons as heirs, O youth; but may you, vile one, perish, where no news of you is ever heard.”
Này chàng trai, chắc chắn chúng ta sẽ có những đứa con thừa kế khác. Còn ngươi, đồ khốn, hãy biến đi đến nơi nào mà chúng ta không còn nghe tin gì về ngươi nữa.
387.
387.
387.
‘‘Evameva tuvaṃ rāja, dvipadinda suṇohi me;
Pabbājessanti taṃ raṭṭhā, soṇḍaṃ māṇavakaṃ yathā’’.
“Just so, O king, lord of bipeds, listen to me; they will banish you from the kingdom, just as they did the drunken youth.”
Tâu đức vua, ngài cũng vậy. Tâu bậc chúa tể của loài hai chân, xin hãy nghe lời tôi. Họ sẽ trục xuất ngài ra khỏi vương quốc, giống như chàng thanh niên nghiện rượu kia.
388.
388.
388.
‘‘Sujāto nāma nāmena, bhāvitattāna sāvako;
Accharaṃ kāmayantova, na so bhuñji na so pivi.
“There was one named Sujāta, a disciple of those with developed minds; as if desiring a celestial nymph, he neither ate nor drank.”
Có người tên là Sujāta, một đệ tử có tâm đã tu tập. Vì khao khát một tiên nữ, ông ta đã không ăn, không uống.
389.
389.
389.
‘‘Kusaggenudakamādāya †, samudde udakaṃ mine;
Evaṃ mānusakā kāmā, dibbakāmāna santike.
“As one might measure the water in the ocean by taking it up with the tip of a kusa-grass blade, so too are human sensual pleasures in the presence of divine sensual pleasures.”
Giống như người lấy nước bằng ngọn cỏ kusa để đo lường nước trong đại dương, cũng vậy, các dục lạc của cõi người (chẳng là gì) so với các dục lạc của cõi trời.
390.
390.
390.
‘‘Evameva ahaṃ kāḷa, bhutvā bhakkhaṃ rasuttamaṃ;
Aladdhā mānusaṃ maṃsaṃ, maññe hissāmi jīvitaṃ’’.
“Just so, Kāḷa, having eaten the finest food, not obtaining human flesh, I think I will abandon life.”
Này Kāḷa, ta cũng vậy. Sau khi đã ăn món ăn có vị ngon tuyệt hảo, nếu không có được thịt người, ta nghĩ rằng ta sẽ từ bỏ mạng sống.
391.
391.
391.
‘‘Yathāpi te dhataraṭṭhā, haṃsā vehāyasaṅgamā;
Abhuttaparibhogena †, sabbe abbhatthataṃ gatā.
“Just as those Dhataraṭṭha geese, travelling through the sky, all went to their ruin by eating what should not have been eaten.”
Giống như những con ngỗng trời thuộc dòng Dhataraṭṭha bay trên không, vì đã ăn thứ không nên ăn, tất cả chúng đều đi đến chỗ hủy diệt.
392.
392.
392.
‘‘Evameva tuvaṃ rāja, dvipadinda suṇohi me;
Abhakkhaṃ rāja bhakkhesi, tasmā pabbājayanti taṃ’’.
“Just so, O king, lord of bipeds, listen to me; you eat what is not to be eaten, O king, therefore they banish you.”
Tâu đức vua, ngài cũng vậy. Tâu bậc chúa tể của loài hai chân, xin hãy nghe lời tôi. Tâu đức vua, ngài đã ăn thứ không nên ăn, vì vậy, họ sẽ trục xuất ngài.
393.
393.
393.
‘‘Tiṭṭhāhīti mayā vutto, so tvaṃ gacchasi pammukho †;
Aṭṭhito tvaṃ ṭhitomhīti, lapasi brahmacārini;
Idaṃ te samaṇāyuttaṃ, asiñca me maññasi kaṅkapattaṃ’’ †.
“When I said, ‘Stand still,’ you went on, turning away. Though not standing, you claim, ‘I am standing,’ O practitioner of the holy life. This is unfitting for you, O recluse. Do you consider my sword to be a heron's feather?”
Khi ta bảo 'Hãy đứng lại!', ngươi lại chạy về phía trước. Hỡi người phạm hạnh, ngươi không đứng lại mà lại nói 'Ta đã đứng lại'. Hỡi Sa-môn, điều này không xứng với ngươi. Ngươi xem thanh gươm của ta như lông diều hâu chăng?
394.
394.
394.
‘‘Ṭhitohamasmī sadhammesu rāja, na nāmagottaṃ parivattayāmi;
Corañca loke aṭhitaṃ vadanti, āpāyikaṃ nerayikaṃ ito cutaṃ.
“I am established in the good Dhamma, O king; I do not change my name or clan. In the world, they call a thief 'unestablished'—one fallen from here, destined for the plane of misery, for hell.”
Tâu Đại vương, hạ thần đã an trú trong chánh pháp, không thay đổi tên họ. Ở thế gian, người ta gọi kẻ trộm là kẻ không an trú, từ đây mệnh chung sẽ là người thuộc ác đạo, thuộc địa ngục.
395.
395.
395.
‘‘Sace tvaṃ saddahasi † rāja, sutaṃ gaṇhāhi khattiya †;
Tena yaññaṃ yajitvāna, evaṃ saggaṃ gamissasi’’.
“If you have faith, O king, O khattiya, capture Sutasoma. Having performed a sacrifice with him, thus you will go to heaven.”
Tâu Đại vương, hỡi vị Sát-đế-lỵ, nếu ngài tin tưởng, hãy bắt lấy vua Sutasoma. Sau khi dùng vị vua ấy để tế lễ, như vậy ngài sẽ đi đến cõi trời.
396.
396.
396.
‘‘Kismiṃ nu raṭṭhe tava jātibhūmi †, atha kena atthena idhānupatto;
Akkhāhi me brāhmaṇa etamatthaṃ, kimicchasī demi tayajja patthitaṃ’’.
“In which country is your birthplace? And for what purpose have you come here? Explain this matter to me, O brahmin. What do you desire? I will give you today whatever you wish for.”
Này Bà-la-môn, nơi sinh của ông ở xứ nào? Và vì lý do gì mà ông đến đây? Này Bà-la-môn, hãy nói cho ta biết điều đó. Ông mong muốn điều gì? Hôm nay ta sẽ ban cho ông điều ông ao ước.
397.
397.
397.
‘‘Gāthā catasso dharaṇīmahissara, sugambhiratthā varasāgarūpamā;
Taveva atthāya idhāgatosmi, suṇohi gāthā paramatthasaṃhitā’’.
“Four verses, O lord of the great earth, with profound meaning, like the excellent ocean. I have come here for your benefit alone. Listen to these verses connected to the highest good.”
Tâu đấng chúa tể của mặt đất, có bốn bài kệ với ý nghĩa rất sâu sắc. Hạ thần đến đây chính là vì lợi ích của ngài. Xin hãy lắng nghe những bài kệ liên quan đến lợi ích tối thượng.
398.
398.
398.
‘‘Na ve rudanti matimanto sapaññā, bahussutā ye bahuṭṭhānacintino;
Dīpañhi etaṃ paramaṃ narānaṃ, yaṃ paṇḍitā sokanudā bhavanti.
“Indeed, the intelligent and wise do not weep, those who are learned and reflect on many matters. For this is the supreme refuge for mortals, namely, that the wise become dispellers of sorrow.”
Những bậc hiền trí có trí tuệ, có sự hiểu biết, đa văn, và suy xét nhiều phương diện, chắc chắn không than khóc. Việc các bậc hiền trí trở thành người xua tan sầu muộn, đây quả là hòn đảo nương tựa tối thượng cho con người.
399.
399.
399.
‘‘Attānaṃ ñātī udāhu † puttadāraṃ, dhaññaṃ dhanaṃ rajataṃ jātarūpaṃ;
Kimeva tvaṃ † sutasomānutappe, korabyaseṭṭha vacanaṃ suṇoma tetaṃ’.
“Do you grieve for yourself, or for your relatives, your children and wife? For grain, wealth, silver, or gold? For what do you grieve, Sutasoma, noblest of the Korabyas? We wish to hear that word of yours.”
Hỡi đấng tối thượng của dòng Korabya, tâu vua Sutasoma, ngài sầu muộn vì bản thân, hay bà con, hay vợ con, lúa gạo, tài sản, bạc, vàng? Ngài sầu muộn vì điều gì? Chúng tôi muốn nghe lời nói ấy của ngài.
400.
400.
400.
‘‘Nevāhamattānamanutthunāmi, na puttadāraṃ na dhanaṃ na raṭṭhaṃ;
Satañca dhammo carito purāṇo, taṃ saṅkaraṃ † brāhmaṇassānutappe.
“I grieve not for myself, nor for children and wife, nor wealth, nor kingdom. There is the ancient Dhamma practiced by the good; I grieve for the promise I made to the brahmin.”
Ta không than van vì bản thân, không vì vợ con, không vì tài sản, không vì quốc độ. (Ta giữ) chánh pháp của bậc thiện nhân, đã được thực hành từ xưa; ta sầu muộn về lời hứa với vị Bà-la-môn ấy.
401.
401.
401.
‘‘Kato mayā saṅkaro brāhmaṇena, raṭṭhe sake issariye ṭhitena;
Taṃ saṅkaraṃ brāhmaṇasappadāya, saccānurakkhī punarāvajissaṃ’’.
“A promise was made by me with a brahmin, while I was established in sovereignty in my own kingdom. Having fulfilled that promise for the brahmin, I, a guardian of truth, will return again.”
Khi đang ở trong quyền uy tại quốc độ của mình, ta đã hứa với vị Bà-la-môn. Sau khi hoàn thành lời hứa ấy cho vị Bà-la-môn, là người giữ gìn sự thật, ta sẽ quay trở lại.
402.
402.
402.
‘‘Nevāhametaṃ abhisaddahāmi, sukhī naro maccumukhā pamutto;
Amittahatthaṃ punarāvajeyya, korabyaseṭṭha na hi maṃ upesi.
“I do not believe this at all: that a happy man, freed from the mouth of death, would return again into the hand of an enemy. O noblest of the Korabyas, this does not seem plausible to me.”
Ta không tin điều này: một người hạnh phúc, được giải thoát khỏi miệng thần chết, lại quay trở về tay kẻ thù. Hỡi đấng tối thượng của dòng Korabya, ngài sẽ không đến với ta đâu.
403.
403.
403.
‘‘Mutto tuvaṃ porisādassa hatthā, gantvā sakaṃ mandiraṃ kāmakāmī;
Madhuraṃ piyaṃ jīvitaṃ laddha rāja, kuto tuvaṃ ehisi me sakāsaṃ’’.
“Freed from the man-eater's hand, a seeker of sensual pleasures, you will go to your own palace. Having gained a sweet, dear life, O king, how will you come back to my presence?”
Ngài được thoát khỏi tay của Porisāda, là người ham muốn dục lạc, sau khi đi về cung điện của mình; tâu Đại vương, đã có được mạng sống ngọt ngào, thân thương, làm sao ngài sẽ đến chỗ của ta?
404.
404.
404.
‘‘Mataṃ vareyya parisuddhasīlo, na jīvitaṃ † garahito pāpadhammo;
Na hi taṃ naraṃ tāyati † duggatīhi, yassāpi hetu alikaṃ bhaṇeyya.
“One of pure virtue should choose death, not a blameworthy life of evil conduct. For if one speaks a lie, even for another's sake, that person cannot protect one from evil destinies.”
Người có giới hạnh trong sạch nên chọn cái chết, không nên chọn sự sống đáng bị chê trách, có pháp ác. Người mà vì họ, mình nói lời dối trá, cũng không thể bảo vệ mình khỏi các ác đạo.
405.
405.
405.
‘‘Sacepi vāto girimāvaheyya, cando ca sūriyo ca chamā pateyyuṃ;
Sabbā ca najjo paṭisotaṃ vajeyyuṃ, na tvevahaṃ rāja musā bhaṇeyyaṃ.
“Even if the wind should carry away a mountain, if the moon and the sun should fall to the earth, if all the rivers should flow upstream—not even then, O king, would I speak a lie.”
Dù cho gió có thể thổi bay núi, mặt trăng và mặt trời có thể rơi xuống đất, và tất cả các sông có thể chảy ngược dòng, tâu Đại vương, ta cũng sẽ không nói dối.
406.
406.
406.
† ‘‘Nabhaṃ phaleyya udadhīpi susse, saṃvaṭṭaye bhūtadharā vasundharā;
Siluccayo meru samūlamuppate, na tvevahaṃ rāja musā bhaṇeyyaṃ’’ †.
“Though the sky should split, the ocean dry up, the earth, bearer of beings, roll up, and rocky Mount Meru be uprooted from its base—not even then, O king, would I speak a lie.”
Bầu trời có thể nứt vỡ, đại dương có thể khô cạn, mặt đất nâng đỡ chúng sinh có thể bị lật ngược, núi Meru, đỉnh của các núi đá, có thể bị nhổ lên tận gốc, tâu Đại vương, ta cũng sẽ không nói dối.
407.
407.
407.
‘‘Asiñca sattiñca parāmasāmi, sapathampi te samma ahaṃ karomi;
Tayā pamutto anaṇo bhavitvā, saccānurakkhī punarāvajissaṃ’’.
“I touch the sword and the spear, and I make an oath to you, my friend: released by you, having become free of debt, I, a guardian of truth, will return again.”
Ta chạm vào gươm và giáo, này bạn, ta cũng xin thề với bạn. Được bạn thả ra, sau khi trở thành người không mắc nợ, là người giữ gìn sự thật, ta sẽ quay trở lại.
408.
408.
408.
‘‘Yo te kato saṅkaro brāhmaṇena, raṭṭhe sake issariye ṭhitena;
Taṃ saṅkaraṃ brāhmaṇasappadāya, saccānurakkhī punarāvajassu’’.
“That promise you made with the brahmin, while established in sovereignty in your own kingdom—having fulfilled that promise for the brahmin, as a guardian of truth, return again.”
Lời hứa mà ngài, khi đang ở trong quyền uy tại quốc độ của mình, đã hứa với vị Bà-la-môn, sau khi hoàn thành lời hứa ấy cho vị Bà-la-môn, là người giữ gìn sự thật, hãy quay trở lại.
409.
409.
409.
‘‘Yo me kato saṅkaro brāhmaṇena, raṭṭhe sake issariye ṭhitena;
Taṃ saṅkaraṃ brāhmaṇasappadāya, saccānurakkhī punarāvajissaṃ’’.
“The promise that was made by me with the brahmin, while I was established in sovereignty in my own kingdom—having fulfilled that promise for the brahmin, I, a guardian of truth, will return again.”
Lời hứa mà ta, khi đang ở trong quyền uy tại quốc độ của mình, đã hứa với vị Bà-la-môn, sau khi hoàn thành lời hứa ấy cho vị Bà-la-môn, là người giữ gìn sự thật, ta sẽ quay trở lại.
410.
410.
410.
‘‘Mutto ca so porisādassa hatthā, gantvāna taṃ brāhmaṇaṃ etadavoca;
Suṇoma † gāthāyo satārahāyo, yā me sutā assu hitāya brahme’’.
“And he, freed from the man-eater's hand, went to that brahmin and said this: 'O brahmin, let us hear the verses worth a hundred, which, when heard by me, would be for my welfare.'”
Và vị ấy, được thoát khỏi tay của Porisāda, sau khi đi về, đã nói điều này với vị Bà-la-môn ấy: 'Này Bà-la-môn, chúng ta hãy nghe những bài kệ đáng giá một trăm (đồng tiền), những bài kệ mà tôi đã nghe, mong rằng chúng sẽ vì lợi ích.'
411.
411.
411.
‘‘Sakideva sutasoma, sabbhi hoti † samāgamo;
Sā naṃ saṅgati pāleti, nāsabbhi bahusaṅgamo.
“Even a single meeting with the good, Sutasoma, is enough. That association protects one; not so, frequent association with the wicked.”
Tâu Sutasoma, sự gặp gỡ với bậc thiện nhân, dù chỉ một lần, sự giao thiệp ấy bảo vệ người đó. Sự giao thiệp nhiều lần với kẻ bất lương thì không (bảo vệ được).
412.
412.
412.
‘‘Sabbhireva samāsetha, sabbhi kubbetha santhavaṃ;
Sataṃ saddhammamaññāya, seyyo hoti na pāpiyo.
“Associate only with the good, make friendship with the good; knowing the true Dhamma of the virtuous, one becomes better, not worse.”
Chỉ nên kết giao với bậc thiện nhân, nên thân cận với bậc thiện nhân. Sau khi hiểu được chánh pháp của bậc thiện nhân, người ấy trở nên tốt hơn, không trở nên xấu xa.
413.
413.
413.
‘‘Jīranti ve rājarathā sucittā, atho sarīrampi jaraṃ upeti;
Satañca dhammo na jaraṃ upeti, santo have sabbhi pavedayanti.
“Indeed, well-adorned royal chariots decay, and the body too approaches old age; but the Dhamma of the virtuous does not approach old age; the peaceful proclaim this to the good.”
Những cỗ xe vua được trang hoàng lộng lẫy, chắc chắn sẽ cũ đi, và thân thể này cũng đi đến già nua. Nhưng pháp của bậc thiện nhân không đi đến già nua; bậc thiện nhân quả thật đã tuyên thuyết với các bậc thiện nhân (như vậy).
414.
414.
414.
‘‘Nabhañcaṃ dūre pathavī ca dūre, pāraṃ samuddassa tadāhu dūre;
Tato have dūrataraṃ vadanti, satañca dhammo † asatañca rāja’’.
“The sky is far, and the earth is far; the far shore of the ocean, they say, is far. But even further than that, O king, they say, is the Dhamma of the good and of the wicked.”
Bầu trời thì xa, mặt đất cũng xa, người ta nói bờ kia của biển cũng xa. Tâu Đại vương, họ nói rằng còn xa hơn thế nữa, chính là (khoảng cách giữa) pháp của bậc thiện nhân và (pháp) của kẻ bất lương.
415.
415.
415.
‘‘Sahassiyā † imā gāthā, nahimā † gāthā satārahā;
Cattāri tvaṃ sahassāni, khippaṃ gaṇhāhi brāhmaṇa’’.
“These verses are worth a thousand each, O brahmin, they are not worth a mere hundred. Take, then, four thousand, and quickly!”
Những bài kệ này đáng giá một ngàn, những bài kệ này không phải đáng giá một trăm. Này Bà-la-môn, ông hãy mau nhận lấy bốn ngàn.
416.
416.
416.
‘‘Āsītiyā nāvutiyā † ca gāthā, satārahā cāpi bhaveyya † gāthā;
Paccattameva sutasoma jānahi, sahassiyā nāma kā atthi † gāthā’’.
“A verse might be worth eighty, or it might be worth ninety; a verse might even be worth a hundred. But know this for yourself, Sutasoma, my son: what verse is there that is worth a thousand?”
Có thể có bài kệ đáng giá tám mươi, và chín mươi, và cũng có thể có bài kệ đáng giá một trăm. Tâu Sutasoma, hãy tự mình biết điều này: làm gì có bài kệ nào gọi là đáng giá một ngàn?
417.
417.
417.
‘‘Icchāmi vohaṃ sutavuddhimattano, santoti maṃ † sappurisā bhajeyyuṃ;
Ahaṃ savantīhi mahodadhīva, na hi tāta tappāmi subhāsitena.
“I desire the growth of my own learning, so that good and peaceful men might associate with me. Just as the great ocean is not satisfied by the flowing rivers, I, my son, am not satisfied by well-spoken words.”
Tâu phụ vương, con mong muốn sự tăng trưởng về sở học của bản thân, mong rằng các bậc thiện nhân, những người hiền thiện, sẽ giao du với con. Con, cũng như đại dương với các dòng sông, quả thật không bao giờ thỏa mãn với lời thiện thuyết.
418.
418.
418.
‘‘Aggi yathā tiṇakaṭṭhaṃ dahanto, na tappatī sāgarova † nadīhi;
Evampi te paṇḍitā rājaseṭṭha, sutvā na tappanti subhāsitena.
“As fire burning grass and wood is not satisfied, nor the ocean by rivers, so too, O best of kings, the wise are not satisfied with what is well-spoken.”
Giống như ngọn lửa thiêu đốt cỏ và củi không bao giờ thỏa mãn, giống như biển cả đối với các dòng sông; Cũng vậy, tâu bậc vua chúa cao quý, những người có trí tuệ sau khi lắng nghe lời thiện thuyết cũng không bao giờ thỏa mãn.
419.
419.
419.
‘‘Sakassa dāsassa yadā suṇomi, gāthaṃ ahaṃ atthavatiṃ † janinda;
Tameva sakkacca nisāmayāmi, na hi tāta dhammesu mamatthi titti’’.
“When I hear a verse full of meaning, even from my own servant, O lord of men, I listen to it with care—for in the Dhamma, dear father, I find no satiety.”
Tâu đấng nhân chủ, khi con nghe được một bài kệ có ý nghĩa, dù là từ một người nô lệ của mình, con cũng lắng nghe bài kệ ấy một cách kính cẩn. Tâu phụ vương, quả thật con không có sự thỏa mãn đối với các pháp.
420.
420.
420.
‘‘Idaṃ te raṭṭhaṃ sadhanaṃ sayoggaṃ, sakāyuraṃ sabbakāmūpapannaṃ;
Kiṃ kāmahetu paribhāsasimaṃ †, gacchāmahaṃ porisādassa ñatte’’ †.
“This kingdom of yours, with its wealth, its conveyances, its royal regalia, and endowed with all sensual pleasures—why, for the sake of sensual pleasures, do you revile me? I am going to the presence of the man-eater.”
Xin phụ vương hãy cai quản quốc độ này của ngài, cùng với tài sản, xe cộ, vòng tay, và đầy đủ mọi dục lạc. Vì cớ gì phụ vương lại khiển trách con vì dục lạc? Con sẽ đi đến chỗ của Porisāda.
421.
421.
421.
‘‘Attānurakkhāya bhavanti hete, hatthārohā rathikā pattikā ca;
Assāruhā † ye ca dhanuggahāse, senaṃ payuñjāma hanāma sattuṃ’’.
“These elephant riders, charioteers, and foot soldiers, these horsemen and archers, exist for their own protection. Let us deploy the army; let us slay the enemy.”
Những người này là để bảo vệ bản thân: những người cỡi voi, những người cỡi xe, và bộ binh, những người cỡi ngựa và những người cầm cung. Chúng ta hãy triển khai quân đội, chúng ta hãy diệt kẻ thù.
422.
422.
422.
‘‘Sudukkaraṃ porisādo akāsi, jīvaṃ gahetvāna avassajī maṃ;
Taṃ tādisaṃ pubbakiccaṃ saranto, dubbhe ahaṃ tassa kathaṃ janinda’’.
“The man-eater has done what is very difficult to do—having captured me alive, he released me. Remembering such a former good deed, how could I be hostile toward him, O lord of men?”
Porisāda đã làm một việc rất khó làm: sau khi bắt sống con, ông ta đã thả con ra. Tâu đấng nhân chủ, khi nhớ lại hành động tốt đẹp trước đây như vậy, làm sao con có thể làm hại ông ta?
423.
423.
423.
‘‘Vanditvā so pitaraṃ mātarañca, anusāsetvā negamañca balañca;
Saccavādī saccānurakkhamāno, agamāsi so yattha porisādo’’.
Having paid homage to his father and mother, and having instructed the townspeople and the army, he, a speaker of truth, protecting the truth, went to where the man-eater was.
Vị ấy, sau khi đảnh lễ phụ vương và mẫu hậu, và sau khi khuyên dạy dân chúng và quân đội, là người nói lời chân thật, đang giữ gìn sự thật, vị ấy đã đi đến nơi có Porisāda.
424.
424.
424.
‘‘Kato mayā saṅkaro brāhmaṇena, raṭṭhe sake issariye ṭhitena;
Taṃ saṅkaraṃ brāhmaṇasappadāya, saccānurakkhī punarāgatosmi;
Yajassu yaññaṃ khāda maṃ porisāda’’.
“An agreement was made by me with the brahmin while established in sovereignty in my own kingdom. Having fulfilled that agreement for the brahmin, I, a protector of truth, have returned. Perform your sacrifice, eat me, O Porisāda.”
Ta đã lập giao ước với vị Bà-la-môn, khi đang an trú trong quyền lực ở vương quốc của mình. Sau khi đã trao cho vị Bà-la-môn giao ước ấy, ta, người giữ gìn lời hứa, đã quay trở lại đây. Này Porisāda, hãy tế lễ đi, hoặc hãy ăn thịt ta đi.
425.
425.
425.
‘‘Na hāyate khāditaṃ † mayhaṃ pacchā, citakā ayaṃ tāva sadhūmikāva †;
Niddhūmake pacitaṃ sādhupakkaṃ, suṇoma † gāthāyo satārahāyo’’.
“My meal will not be diminished by being eaten later. For now, this pyre is still smoking. Meat cooked on a smokeless fire is well-cooked. Let us first hear the verses that are worth a hundred.”
Việc ăn thịt ta sau này cũng không mất đi đâu. Giàn thiêu này trước tiên hãy cứ bốc khói đi. Thịt được nấu trên lửa không khói thì chín kỹ. Chúng ta hãy nghe những câu kệ đáng giá một trăm (đồng tiền).
426.
426.
426.
‘‘Adhammiko tvaṃ porisādakāsi †, raṭṭhā ca bhaṭṭho udarassa hetu;
Dhammañcimā abhivadanti gāthā, dhammo ca adhammo ca kuhiṃ sameti.
“You are unrighteous, you have practiced man-eating, and you were banished from your kingdom for the sake of your belly. These verses speak only of Dhamma; and where can Dhamma and Adhamma be equal?”
Ngươi là kẻ phi pháp, ngươi đã ăn thịt người, và đã bị trục xuất khỏi vương quốc vì cái bụng. Những câu kệ này nói lên Chánh pháp. Chánh pháp và phi pháp làm sao có thể tương đồng?
427.
427.
427.
‘‘Adhammikassa luddassa, niccaṃ lohitapāṇino;
Natthi saccaṃ kuto dhammo, kiṃ sutena karissasi’’.
“For one who is unrighteous, cruel, and ever with blood on his hands, there is no truth, so how could there be Dhamma? What will you do with what you have heard?”
Đối với kẻ phi pháp, tàn bạo, tay luôn vấy máu, sự thật còn không có, huống chi là Chánh pháp? Ngươi sẽ làm gì với việc nghe (pháp) này?
428.
428.
428.
‘‘Yo maṃsahetu migavaṃ careyya, yo vā hane purisamattahetu;
Ubhopi te pecca samā bhavanti, kasmā no † adhammikaṃ brūsi maṃ tvaṃ’’.
“He who would hunt in the wilderness for the sake of meat, or he who would kill a man for his own purpose—both of them are equal after death. Why then do you call me unrighteous?”
Người đi vào rừng săn nai vì muốn có thịt, hay người giết người vì lợi ích của mình, cả hai người ấy sau khi chết đều như nhau. Tại sao ngươi lại nói ta là kẻ phi pháp?
429.
429.
429.
‘‘Pañca pañcanakhā bhakkhā, khattiyena pajānatā;
Abhakkhaṃ rāja bhakkhesi, tasmā adhammiko tuvaṃ’’.
“Five five-nailed creatures are permissible food for a discerning khattiya. You, O king, eat what is not permissible food; therefore, you are unrighteous.”
Đối với một vị Sát-đế-lỵ hiểu biết, năm loài có năm móng là thức ăn được phép. Tâu đại vương, ngài đã ăn thứ không được phép ăn, do đó, ngài là người phi pháp.
430.
430.
430.
‘‘Mutto tuvaṃ porisādassa hatthā, gantvā sakaṃ mandiraṃ kāmakāmī;
Amittahatthaṃ punarāgatosi, na khattadhamme kusalosi rāja’’.
“Freed from the man-eater's hand, you went to your own palace, desiring sensual pleasures; yet you have returned to the enemy's hand. You are not skilled in the way of a khattiya, O king.”
Ngươi đã được thoát khỏi tay của kẻ ăn thịt người, là người tham muốn dục lạc, đã đi về cung điện của mình, vậy mà ngươi đã quay trở lại tay của kẻ thù. Tâu đại vương, ngài không giỏi về pháp của bậc Sát-đế-lỵ.
431.
431.
431.
‘‘Ye khattadhamme kusalā bhavanti, pāyena te nerayikā bhavanti;
Tasmā ahaṃ khattadhammaṃ pahāya, saccānurakkhī punarāgatosmi;
Yajassu yaññaṃ khāda maṃ porisāda’’.
“Those who are skilled in the way of a khattiya, for the most part, become inhabitants of hell. Therefore, having abandoned the way of a khattiya, I have returned as a protector of truth. Perform your sacrifice, eat me, O Porisāda.”
Những ai giỏi về pháp của bậc Sát-đế-lỵ, phần lớn họ đều sanh vào địa ngục. Do đó, ta từ bỏ pháp của bậc Sát-đế-lỵ, là người giữ gìn sự thật, ta đã quay trở lại. Này Porisāda, hãy tế lễ đi, hoặc hãy ăn thịt ta đi.
432.
432.
432.
‘‘Pāsādavāsā pathavīgavassā, kāmitthiyo kāsikacandanañca;
Sabbaṃ tahiṃ labhasi † sāmitāya, saccena kiṃ passasi ānisaṃsaṃ’’.
“Dwellings in palaces, land, cattle, and horses, desirable women, and sandalwood from Kasi—all this you obtain there through your sovereignty. What benefit do you see in truthfulness?”
Những cung điện để ở, ngựa và bò trên mặt đất, những người phụ nữ đáng khao khát, vải lụa Kasi và gỗ chiên-đàn; ngươi có được tất cả những thứ ấy ở đó do quyền làm chủ. Ngươi thấy được lợi ích gì trong sự thật?
433.
433.
433.
‘‘Ye kecime atthi rasā pathabyā, saccaṃ tesaṃ sādhutaraṃ rasānaṃ;
“Of all the flavors that exist on earth, the flavor of truth is the sweetest.”
Trong tất cả những hương vị có trên mặt đất này, sự thật là hương vị ngọt ngào hơn cả.
Sacce ṭhitā samaṇabrāhmaṇā ca, taranti jātimaraṇassa pāraṃ’’.
“Ascetics and brahmins established in truth cross to the far shore of birth and death.”
Các vị Sa-môn và Bà-la-môn an trú trong sự thật, vượt qua bờ bên kia của sanh và tử.
434.
434.
434.
‘‘Mutto tuvaṃ porisādassa hatthā, gantvā sakaṃ mandiraṃ kāmakāmī;
Amittahatthaṃ punarāgatosi, na hi nūna te maraṇabhayaṃ janinda;
Alīnacitto asi † saccavādī’’.
“Freed from the man-eater's hand, you went to your own palace, desiring sensual pleasures; yet you have returned to the enemy's hand. Surely you have no fear of death, O lord of men; you are of undaunted mind, a speaker of truth.”
Ngươi đã được thoát khỏi tay của kẻ ăn thịt người, là người tham muốn dục lạc, đã đi về cung điện của mình, vậy mà ngươi đã quay trở lại tay của kẻ thù. Tâu đức vua, chắc hẳn ngài không có nỗi sợ hãi cái chết. Ngài là người nói lời chân thật, có tâm không dao động.
435.
435.
435.
‘‘Katā me kalyāṇā anekarūpā, yaññā yiṭṭhā ye vipulā pasatthā;
Visodhito paralokassa maggo, dhamme ṭhito ko maraṇassa bhāye.
“Good deeds of many kinds have been done by me; sacrifices, abundant and praised, have been offered. The path to the next world has been cleared. Established in the Dhamma, who would fear death?”
Ta đã làm nhiều loại thiện nghiệp, đã thực hiện những lễ tế rộng lớn và được tán thán. Con đường đến thế giới bên kia đã được dọn sạch. Người an trú trong Chánh pháp như ta, ai lại sợ cái chết?
436.
436.
436.
‘‘Katā me kalyāṇā anekarūpā, yaññā yiṭṭhā ye vipulā pasatthā;
Anānutappaṃ paralokaṃ gamissaṃ, yajassu yaññaṃ ada † maṃ porisāda.
“Good deeds of many kinds have been done by me; sacrifices, abundant and praised, have been offered. Without remorse, I will go to the next world. Perform your sacrifice, eat me, O Porisāda.”
Ta đã làm nhiều loại thiện nghiệp, đã thực hiện những lễ tế rộng lớn và được tán thán. Ta sẽ đi đến thế giới bên kia mà không hối tiếc. Này Porisāda, hãy tế lễ đi, hãy ăn thịt ta đi.
437.
437.
437.
‘‘Pitā ca mātā ca upaṭṭhitā me, dhammena me issariyaṃ pasatthaṃ;
Visodhito paralokassa maggo, dhamme ṭhito ko maraṇassa bhāye.
“My father and mother have been cared for by me; my sovereignty has been righteously administered. The path to the next world has been cleared. Established in Dhamma, who would fear death?”
Ta đã phụng dưỡng cha và mẹ, ta đã cai trị vương quốc một cách đúng pháp. Con đường đến thế giới bên kia đã được dọn sạch. Người an trú trong Chánh pháp như ta, ai lại sợ cái chết?
438.
438.
438.
‘‘Pitā ca mātā ca upaṭṭhitā me, dhammena me issariyaṃ pasatthaṃ;
Anānutappaṃ paralokaṃ gamissaṃ, yajassu yaññaṃ ada maṃ porisāda.
“My father and mother have been cared for by me; my sovereignty has been righteously administered. Without remorse, I shall go to the next world. Perform your sacrifice, eat me, O Porisāda.”
Ta đã phụng dưỡng cha và mẹ, ta đã cai trị vương quốc một cách đúng pháp. Ta sẽ đi đến thế giới bên kia mà không hối tiếc. Này Porisāda, hãy tế lễ đi, hãy ăn thịt ta đi.
439.
439.
439.
‘‘Ñātīsu mittesu katā me kārā †, dhammena me issariyaṃ pasatthaṃ;
Visodhito paralokassa maggo, dhamme ṭhito ko maraṇassa bhāye.
“Favors have been done by me for relatives and friends; my sovereignty has been righteously administered. The path to the next world has been cleared. Established in Dhamma, who would fear death?”
Ta đã làm những điều tốt đẹp cho quyến thuộc và bạn bè, ta đã cai trị vương quốc một cách đúng pháp. Con đường đến thế giới bên kia đã được dọn sạch. Người an trú trong Chánh pháp như ta, ai lại sợ cái chết?
440.
440.
440.
‘‘Ñātīsuṃ mittesu katā me kārā, dhammena me issariyaṃ pasatthaṃ;
Anānutappaṃ paralokaṃ gamissaṃ, yajassu yaññaṃ ada maṃ porisāda.
“Favors have been done by me for relatives and friends; my sovereignty has been righteously administered. Without remorse, I will go to the next world. Perform your sacrifice, eat me, O Porisāda.”
Ta đã làm những điều tốt đẹp cho quyến thuộc và bạn bè, ta đã cai trị vương quốc một cách đúng pháp. Ta sẽ đi đến thế giới bên kia mà không hối tiếc. Này Porisāda, hãy tế lễ đi, hãy ăn thịt ta đi.
441.
441.
441.
‘‘Dinnaṃ me dānaṃ bahudhā bahūnaṃ, santappitā samaṇabrāhmaṇā ca;
Visodhito paralokassa maggo, dhamme ṭhito ko maraṇassa bhāye.
“Gifts have been given by me in many ways to many people, and ascetics and brahmins have been satisfied. The path to the next world has been cleared. Established in Dhamma, who would fear death?”
Ta đã bố thí nhiều cách cho nhiều người, và đã làm cho các vị Sa-môn và Bà-la-môn được hài lòng. Con đường đến thế giới bên kia đã được dọn sạch. Người an trú trong Chánh pháp như ta, ai lại sợ cái chết?
442.
442.
442.
‘‘Dinnaṃ me dānaṃ bahudhā bahūnaṃ, santappitā samaṇabrāhmaṇā ca;
Anānutappaṃ paralokaṃ gamissaṃ, yajassu yaññaṃ ada maṃ porisāda’’.
“Gifts have been given by me in many ways to many people, and ascetics and brahmins have been satisfied. Without remorse, I shall go to the next world. Perform your sacrifice, eat me, O Porisāda.”
Ta đã bố thí nhiều cách cho nhiều người, và đã làm cho các vị Sa-môn và Bà-la-môn được hài lòng. Ta sẽ đi đến thế giới bên kia mà không hối tiếc. Này Porisāda, hãy tế lễ đi, hãy ăn thịt ta đi.
443.
443.
443.
‘‘Visaṃ pajānaṃ puriso adeyya, āsīvisaṃ jalitamuggatejaṃ;
Muddhāpi tassa viphaleyya † sattadhā, yo tādisaṃ saccavādiṃ adeyya’’.
“A man might knowingly eat poison, or a venomous snake, blazing and of fierce energy; but the head of one who would eat such a speaker of truth would split into seven pieces.”
Một người dù biết rõ vẫn ăn thuốc độc, thứ độc như một con rắn độc đang rực lửa, có nọc độc mạnh. Đầu của người nào ăn một người nói lời chân thật như vậy, cũng sẽ vỡ ra làm bảy mảnh.
444.
444.
444.
‘‘Sutvā dhammaṃ vijānanti, narā kalyāṇapāpakaṃ;
Api gāthā suṇitvāna, dhamme me ramate † mano’’.
“Having heard the Dhamma, people discern good and evil. Having heard these verses, my mind delights in the Dhamma.”
Sau khi nghe pháp, con người phân biệt được điều thiện và điều ác. Và sau khi nghe những câu kệ này, tâm của ta vui thích trong Chánh pháp.
445.
445.
445.
‘‘Sakideva mahārāja †, sabbhi hoti samāgamo;
Sā naṃ saṅgati pāleti, nāsabbhi bahusaṅgamo.
“Just once, O great king, does one have an association with the good. That association protects one, not frequent association with the bad.”
Tâu Đại vương, dù chỉ một lần gặp gỡ với người hiền, sự giao thiệp ấy bảo vệ người đó. Còn nhiều lần giao thiệp với kẻ ác thì không (bảo vệ được).
446.
446.
446.
‘‘Sabbhireva samāsetha, sabbhi kubbetha santhavaṃ;
Sataṃ saddhammamaññāya, seyyo hoti na pāpiyo.
“One should associate only with the good; one should cultivate friendship with the good. Knowing the true Dhamma of the virtuous, one becomes better, not worse.”
Chỉ nên kết giao với người hiền, nên thân cận với người hiền. Sau khi hiểu được Chánh pháp của bậc chân nhân, người ấy trở nên tốt hơn, không trở nên xấu xa.
447.
447.
447.
‘‘Jīranti ve rājarathā sucittā, atho sarīrampi jaraṃ upeti;
Satañca dhammo na jaraṃ upeti, santo have sabbhi pavedayanti.
“Indeed, well-decorated royal chariots decay, and the body too approaches old age; but the Dhamma of the virtuous does not approach old age. The good indeed proclaim this to the good.”
Những cỗ xe vua được trang hoàng lộng lẫy rồi cũng sẽ hư hoại, thân thể này cũng đi đến già nua. Nhưng Chánh pháp của bậc chân nhân không già nua; bậc thiện nhân thường tuyên thuyết với bậc hiền trí như vậy.
448.
448.
448.
‘‘Nabhañcaṃ dūre pathavī ca dūre, pāraṃ samuddassa tadāhu dūre;
Tato have dūrataraṃ vadanti, satañca dhammo † asatañca rāja’’.
“The sky is far, and the earth is far; they say the far shore of the ocean is far. But farther still, they say, is the Dhamma of the good and the bad, O king.”
Bầu trời thì xa, mặt đất cũng xa, người ta nói bờ bên kia của đại dương cũng xa. Tâu đại vương, nhưng họ nói rằng Chánh pháp của bậc chân nhân và phi pháp của kẻ bất lương còn xa cách nhau hơn thế nữa.
449.
449.
449.
‘‘Gāthā imā atthavatī subyañjanā, subhāsitā tuyha janinda sutvā;
Ānandi vitto sumano patīto, cattāri te samma vare dadāmi’’.
“Having heard these verses of yours, O lord of men, which are meaningful, well-phrased, and well-spoken, I am joyful, delighted, glad-minded, and pleased. I grant you, friend, four boons.”
Tâu đức vua, sau khi nghe những câu kệ này của ngài, đầy ý nghĩa, văn cú rõ ràng, được khéo nói, ta hoan hỷ, vui mừng, ý đẹp, và phấn khởi. Này bạn, ta ban cho bạn bốn điều ước.
450.
450.
450.
‘‘Yo nattano maraṇaṃ bujjhasi tuvaṃ †, hitāhitaṃ vinipātañca saggaṃ;
Giddho rase duccarite niviṭṭho, kiṃ tvaṃ varaṃ dassasi pāpadhamma.
“You who do not understand your own death, nor what is beneficial and unbeneficial, nor downfall and heaven; you who are greedy for tastes and entrenched in misconduct—what boon can you give, you of evil ways?”
Ngươi, người không hiểu được cái chết của chính mình, không hiểu điều lợi, điều hại, đọa xứ và thiên giới, lại tham đắm hương vị, an trú trong ác hạnh. Này kẻ có pháp ác, ngươi sẽ ban điều ước gì?
451.
451.
451.
‘‘Ahañca taṃ dehi varanti vajjaṃ, tvañcāpi datvāna avākareyya;
Sandiṭṭhikaṃ kalahamimaṃ vivādaṃ, ko paṇḍito jānamupabbajeyya’’.
“And were I to say to you, ‘Give a boon,’ you, having given it, might then retract it. What wise person, knowing this, would enter into this present quarrel and dispute?”
Nếu ta nói với ngươi: 'Hãy cho ta điều ước', rồi ngươi, sau khi đã hứa cho, lại không thực hiện. Bậc trí nào biết trước mà lại dấn vào cuộc cãi vã và tranh chấp ngay trước mắt này?
452.
452.
452.
‘‘Na taṃ varaṃ arahati jantu dātuṃ, yaṃ vāpi datvāna avākareyya;
Varassu samma avikampamāno, pāṇaṃ cajitvānapi dassameva’’.
“A person is not worthy to grant a boon if, having granted it, he would retract it. Choose, friend, without wavering; even sacrificing my life, I will surely give it.”
Người nào sau khi đã hứa cho điều ước mà lại không thực hiện, người đó không xứng đáng để ban điều ước ấy. Này bạn, hãy chọn điều ước đi, đừng do dự. Dù phải từ bỏ mạng sống, ta cũng chắc chắn sẽ cho.
453.
453.
453.
‘‘Ariyassa ariyena sameti sakhyaṃ †, paññassa paññāṇavatā sameti;
Passeyya taṃ vassasataṃ arogaṃ †, etaṃ varānaṃ paṭhamaṃ varāmi’’.
“Friendship comes together between the noble and the noble; friendship comes together between the wise and the wise. May I see you healthy for a hundred years—this I choose as the first of the boons.”
Tình bạn của bậc Thánh thiện hòa hợp với bậc Thánh thiện, người có trí tuệ hòa hợp với người có trí tuệ. Mong tôi được thấy ngài sống một trăm năm không bệnh tật, đây là điều ước đầu tiên tôi xin chọn trong các điều ước.
454.
454.
454.
‘‘Ariyassa ariyena sameti sakhyaṃ, paññassa paññāṇavatā sameti;
Passāsi maṃ vassasataṃ arogaṃ, etaṃ varānaṃ paṭhamaṃ dadāmi’’.
“Friendship comes together between the noble and the noble; friendship comes together between the wise and the wise. You shall see me healthy for a hundred years—this I give as the first of the boons.”
Tình bạn của bậc Thánh thiện hòa hợp với bậc Thánh thiện, người có trí tuệ hòa hợp với người có trí tuệ. Ngươi hãy thấy ta sống một trăm năm không bệnh tật, đây là điều ước đầu tiên ta ban cho trong các điều ước.
455.
455.
455.
‘‘Ye khattiyāse idha bhūmipālā, muddhābhisittā katanāmadheyyā;
Na tādise bhūmipatī adesi, etaṃ varānaṃ dutiyaṃ varāmi’’.
“Those khattiyas here who are rulers of the earth, anointed and of renowned name—do not eat such lords of the earth. This I choose as the second of the boons.”
Những vị Sát-đế-lỵ nào ở đây là những người cai trị đất đai, đã được làm lễ quán đảnh, có danh hiệu được đặt, xin ngài chớ ăn thịt những vị vua như vậy. Đây là điều ước thứ hai tôi xin chọn trong các điều ước.
456.
456.
456.
‘‘Ye khattiyāse idha bhūmipālā, muddhābhisittā katanāmadheyyā;
Na tādise bhūmipatī ademi, etaṃ varānaṃ dutiyaṃ dadāmi’’.
“Those khattiyas here who are rulers of the earth, anointed and of renowned name—I will not eat such lords of the earth. This I give as the second of the boons.”
Những vị Sát-đế-lỵ nào ở đây là những người cai trị đất đai, đã được làm lễ quán đảnh, có danh hiệu được đặt, ta sẽ không ăn thịt những vị vua như vậy. Đây là điều ước thứ hai ta ban cho trong các điều ước.
457.
457.
457.
‘‘Parosataṃ khattiyā te gahitā, talāvutā assumukhā rudantā;
Sake te raṭṭhe paṭipādayāhi, etaṃ varānaṃ tatiyaṃ varāmi’’.
Over a hundred warrior lords have been captured by you, their hands bound, with tearful faces, weeping. Restore them to their own kingdoms—this, of the boons, is the third I choose.
Hơn một trăm vị Sát-đế-lỵ đã bị ngài bắt giữ, tay bị trói, mặt đẫm lệ, khóc lóc. Xin hãy đưa họ trở về vương quốc của mình. Đây là điều ước thứ ba tôi xin chọn trong các điều ước.
458.
458.
458.
‘‘Parosataṃ khattiyā me gahitā, talāvutā assumukhā rudantā;
Sake te raṭṭhe paṭipādayāmi †, etaṃ varānaṃ tatiyaṃ dadāmi’’.
Over a hundred warrior lords I have captured, their hands bound, with tearful faces, weeping. I restore them to their own kingdoms—this, of the boons, is the third I grant.
Hơn một trăm vị Sát-đế-lỵ đã bị ta bắt giữ, tay bị trói, mặt đẫm lệ, khóc lóc. Ta sẽ đưa họ trở về vương quốc của mình. Đây là điều ước thứ ba ta ban cho trong các điều ước.
459.
459.
459.
‘‘Chiddaṃ te raṭṭhaṃ byathitā † bhayā hi, puthū narā leṇamanuppaviṭṭhā;
Manussamaṃsaṃ viramehi † rāja, etaṃ varānaṃ catutthaṃ varāmi’’.
Your kingdom is desolate, its people distressed by fear; many have entered places of hiding. Abstain from human flesh, O king—this, of the boons, is the fourth I choose.
Vương quốc của ngài trống rỗng, bị xáo trộn vì sợ hãi, nhiều người đã vào nơi ẩn náu. Thưa đại vương, xin hãy từ bỏ việc ăn thịt người. Đây là điều ước thứ tư tôi xin chọn trong các điều ước.
460.
460.
460.
‘‘Addhā hi so bhakkho mama † manāpo, etassa hetumhi † vanaṃ paviṭṭho;
Sohaṃ kathaṃ etto upārameyyaṃ, aññaṃ varānaṃ catutthaṃ varassu’’.
Truly, that food is pleasing to me; for its sake have I entered the forest. How then could I desist from it? Choose another boon, the fourth.
Quả thật, món ăn đó làm ta hài lòng, chính vì lý do đó mà ta đã vào rừng. Ta đây làm sao có thể từ bỏ việc này? Ngươi hãy chọn một điều ước khác làm điều thứ tư trong các điều ước.
461.
461.
461.
‘‘Naṃ ve piyaṃ meti janinda tādiso, attaṃ niraṃkacca † piyāni sevati;
Attāva seyyo paramā ca † seyyo, labbhā piyā ocitatthena † pacchā’’.
O lord of men, one such as you, thinking 'This is dear to me,' disregards the self and pursues what is dear. Yet the self is better, indeed better than what is most dear. For one who has cultivated himself, dear things may be obtained hereafter.
Thưa bậc Chúa tể của nhân loại, người như vậy không nên theo đuổi những điều yêu thích bằng cách từ bỏ bản thân, nghĩ rằng: 'Điều này ta thích'. Bản thân là cao quý hơn, cao quý hơn cả những thứ quý giá nhất. Bởi vì người đã tu dưỡng bản thân thì sau này có thể đạt được những điều yêu thích.
462.
462.
462.
‘‘Piyaṃ me mānusaṃ maṃsaṃ, sutasoma vijānahi;
Namhi sakkā † nivāretuṃ, aññaṃ † varaṃ samma varassu’’.
Human flesh is dear to me, Sutasoma, understand this. I am not able to be stopped. Choose another boon, friend.
Này Sutasoma, hãy biết rằng thịt người là điều ta yêu thích. Ta không thể ngăn cản được. Này bạn, hãy chọn một điều ước khác.
463.
463.
463.
‘‘Yo ve piyaṃ meti piyānurakkhī †, attaṃ niraṃkacca piyāni sevati;
Soṇḍova pitvā visamissapānaṃ †, teneva so hoti dukkhī parattha.
Whoever, guarding what is dear and thinking 'This is dear to me,' disregards the self and pursues what is dear, is like a drunkard who drinks a poisoned draught. Through that very act, he comes to suffer in the next world.
Người nào bảo vệ những điều yêu thích, theo đuổi chúng bằng cách từ bỏ bản thân, nghĩ rằng: 'Điều này ta thích', thì người đó chính vì điều đó mà bị đau khổ ở đời sau, giống như kẻ nghiện rượu uống phải thức uống pha độc.
464.
464.
464.
‘‘Yo cīdha saṅkhāya piyāni hitvā, kicchenapi sevati ariyadhamme †;
Dukkhitova pitvāna yathosadhāni, teneva so hoti sukhī parattha’’.
But whoever in this world, having reflected, abandons what is dear and, even with difficulty, cultivates the noble Dhamma, is like a sick person who drinks medicine. Through that very act, he becomes happy in the next world.
Còn người nào ở đây, sau khi suy xét, từ bỏ những điều yêu thích, dù khó khăn vẫn thực hành pháp của bậc Thánh, thì người đó chính vì điều đó mà được an lạc ở đời sau, giống như người bệnh uống thuốc đúng bệnh.
465.
465.
465.
‘‘Ohāyahaṃ pitaraṃ mātarañca, manāpiye kāmaguṇe ca † pañca;
Etassa hetumhi vanaṃ paviṭṭho, taṃ te varaṃ kinti mahaṃ dadāmi’’.
Having abandoned my father and mother, and the five pleasing strands of sensual pleasure, for this very reason have I entered the forest. How then could I grant you that boon?
Ta đã từ bỏ cả cha và mẹ, cùng năm dục công đức đáng yêu. Chính vì lý do này mà ta đã vào rừng. Làm sao ta có thể ban cho ngươi điều ước đó?
466.
466.
466.
‘‘Na paṇḍitā diguṇamāhu vākyaṃ, saccappaṭiññāva bhavanti santo;
Varassu samma iti maṃ avoca, iccabravī tvaṃ na hi te sameti’’.
The wise do not speak with a double tongue; the virtuous are ever true to their promise. 'Choose a boon, friend,' you said to me. Having said this, you now say otherwise; your words are not consistent.
Bậc hiền trí không nói hai lời, bậc thiện nhân luôn là người giữ lời hứa. Ngài đã nói với tôi rằng: 'Này bạn, hãy chọn điều ước'. Nay ngài lại nói khác đi, lời của ngài quả không nhất quán.
467.
467.
467.
‘‘Apuññalābhaṃ ayasaṃ akittiṃ, pāpaṃ bahuṃ duccaritaṃ kilesaṃ;
Manussamaṃsassa kate † upāgā, taṃ te varaṃ kinti mahaṃ dadeyyaṃ.
The gaining of demerit, disgrace, ill-repute, much evil, misconduct, and defilement—all this one incurs for the sake of human flesh. How then could I grant you that boon?
Ta đã phải chịu không phước đức, không danh tiếng, tai tiếng, nhiều điều ác, hành vi xấu, và phiền não vì thịt người. Làm sao ta có thể ban cho ngươi điều ước đó?
468.
468.
468.
‘‘Naṃ taṃ varaṃ arahati jantu dātuṃ, yaṃ vāpi datvāna avākareyya;
Varassu samma avikampamāno, pāṇaṃ cajitvānapi dassameva’’.
A person is not worthy to grant a boon if, having granted it, he would then retract it. You said to me: 'Choose, friend, without wavering; even if I must give up my life, I will surely grant it.'
Một người không xứng đáng ban một điều ước mà sau khi đã hứa lại không thực hiện. Ngài đã nói với tôi rằng: 'Này bạn, hãy chọn đi, đừng do dự, ta chắc chắn sẽ ban cho dù phải từ bỏ mạng sống'.
469.
469.
469.
‘‘Pāṇaṃ cajanti santo nāpi dhammaṃ, saccappaṭiññāva bhavanti santo;
Datvā varaṃ khippamavākarohi, etena sampajja surājaseṭṭha.
The virtuous would give up their lives, but never the Dhamma; the virtuous are ever true to their promise. Having granted the boon, do not now quickly retract it. Abide by this, O most excellent of kings.
Bậc thiện nhân thà từ bỏ mạng sống chứ không từ bỏ Chánh pháp, bậc thiện nhân luôn là người giữ lời hứa. Thưa bậc vua chúa cao quý, vì ngài đã hứa ban điều ước, xin hãy nhanh chóng thực hiện. Xin hãy thành tựu với điều này.
470.
470.
470.
‘‘Caje dhanaṃ † aṅgavarassa hetu †, aṅgaṃ caje jīvitaṃ rakkhamāno;
Aṅgaṃ dhanaṃ jīvitañcāpi sabbaṃ, caje naro dhammamanussaranto’’.
One would give up wealth for the sake of a principal limb; one would give up a limb while protecting one's life. But remembering the Dhamma, a person would give up limb, wealth, and life—all of it.
Nên từ bỏ của cải vì một bộ phận thân thể cao quý, nên từ bỏ một bộ phận thân thể để bảo vệ mạng sống. Người tưởng nhớ đến Chánh pháp nên từ bỏ tất cả: bộ phận thân thể, của cải, và cả mạng sống.
471.
471.
471.
‘‘Yasmā hi dhammaṃ puriso vijaññā, ye cassa kaṅkhaṃ vinayanti santo;
Taṃ hissa dīpañca parāyaṇañca, na tena mittiṃ jirayetha † pañño.
From whomever a person may learn the Dhamma, and those virtuous ones who dispel his doubt—that one is truly his island and his refuge. A wise person should not let friendship with such a one decay.
Một người nên biết Chánh pháp từ vị nào, và những bậc thiện nhân nào loại trừ được sự nghi ngờ của người ấy, thì vị đó quả là hòn đảo nương tựa và là nơi quy y của người ấy. Người có trí không nên phá vỡ tình bạn với vị đó.
472.
472.
472.
‘‘Addhā hi so bhakkho mama manāpo, etassa hetumhi vanaṃ paviṭṭho;
Sace ca maṃ yācasi etamatthaṃ, etampi te samma varaṃ dadāmi.
Truly, that food is pleasing to me; for its sake have I entered the forest. And since you ask this of me, friend, this boon too I shall grant you.
Quả thật, món ăn đó làm ta hài lòng, chính vì lý do đó mà ta đã vào rừng. Nhưng này bạn, nếu ngươi cầu xin ta điều này, ta cũng sẽ ban cho ngươi cả điều ước này.
473.
473.
473.
‘‘Satthā ca me hosi sakhā ca mesi, vacanampi te samma ahaṃ akāsiṃ;
Tuvampi † me samma karohi vākyaṃ, ubhopi gantvāna pamocayāma’’.
You have been my teacher and you are my friend; I have followed your word, friend. You too, friend, follow my word. Let us both go and set them free.
Ngài đã là thầy của tôi và cũng là bạn của tôi. Này bạn, tôi đã làm theo lời của ngài. Này bạn, ngài cũng hãy làm theo lời của tôi. Cả hai chúng ta hãy cùng đi và giải thoát cho họ.
474.
474.
474.
‘‘Satthā ca te homi sakhā ca tyamhi, vacanampi me samma tuvaṃ akāsi;
Ahampi te samma karomi vākyaṃ, ubhopi gantvāna pamocayāma’’.
I am your teacher and I am your friend; you have followed my word, friend. I too, friend, shall follow your word. Let us both go and set them free.
Ta là thầy của ngươi và cũng là bạn của ngươi. Này bạn, ngươi đã làm theo lời của ta. Này bạn, ta cũng sẽ làm theo lời của ngươi. Cả hai chúng ta hãy cùng đi và giải thoát cho họ.
475.
475.
475.
‘‘Kammāsapādenaṃ viheṭhitattha †, talāvutā assumukhā rudantā;
Na jātu dubbhetha imassa rañño, saccappaṭiññaṃ me paṭissuṇātha’’.
You were tormented by Kammāsapāda, your hands bound, with tearful faces, weeping. Never be disloyal to this king. Hearken to my solemn promise.
Các vị đã bị Kammāsapāda hành hạ, tay bị trói, mặt đẫm lệ, khóc lóc. Chớ bao giờ làm hại vị vua này. Hãy lắng nghe lời hứa chân thật của tôi.
476.
476.
476.
‘‘Kammāsapādena viheṭhitamhā, talāvutā assumukhā rudantā;
Na jātu dubbhema imassa rañño, saccappaṭiññaṃ te paṭissuṇāma’’.
We were tormented by Kammāsapāda, our hands bound, with tearful faces, weeping. We will never be disloyal to this king. We hearken to your solemn promise.
Chúng tôi đã bị Kammāsapāda hành hạ, tay bị trói, mặt đẫm lệ, khóc lóc. Chúng tôi sẽ không bao giờ làm hại vị vua này. Chúng tôi xin lắng nghe lời hứa chân thật của ngài.
477.
477.
477.
‘‘Yathā pitā vā atha vāpi mātā, anukampakā atthakāmā pajānaṃ;
Evameva vo † hotu ayañca rājā, tumhe ca vo hotha yatheva puttā’’.
Just as a father or a mother is compassionate and desires the welfare of their children, even so may this king be to you, and may you be to him just as children.
Như người cha hay người mẹ thương xót và mong cầu lợi ích cho con cái, cũng như vậy, vị vua này hãy là người cha của các vị, và các vị hãy là những người con của vị vua này.
478.
478.
478.
‘‘Yathā pitā vā atha vāpi mātā, anukampakā atthakāmā pajānaṃ;
Evameva no hotu † ayañca rājā, mayampi hessāma yatheva † puttā’’.
Just as a father or a mother is compassionate and desires the welfare of their children, even so may this king be to us, and we shall be to him just as children.
Như người cha hay người mẹ thương xót và mong cầu lợi ích cho con cái, cũng như vậy, vị vua này hãy là người cha của chúng tôi, và chúng tôi cũng sẽ là những người con của vị vua này.
479.
479.
479.
‘‘Catuppadaṃ sakuṇañcāpi maṃsaṃ, sūdehi randhaṃ sukataṃ suniṭṭhitaṃ;
Sudhaṃva indo paribhuñjiyāna, hitvā katheko ramasī araññe.
The flesh of four-footed beasts and of birds, cooked by chefs, well-made and well-prepared—having partaken of it as Indra does ambrosia, how can you, having abandoned it, delight alone in the forest?
Sau khi đã thưởng thức thịt thú bốn chân và cả thịt chim, được các đầu bếp nấu nướng, chế biến khéo léo, hoàn tất tốt đẹp, như vua trời Đế Thích thưởng thức món ăn chư thiên, từ bỏ những thứ đó, làm sao một mình ngài có thể vui thích trong rừng?
480.
480.
480.
‘‘Tā khattiyā vallivilākamajjhā, alaṅkatā samparivārayitvā;
Indaṃva devesu pamodayiṃsu, hitvā katheko ramasī araññe.
Those royal ladies, with waists slender like creepers, adorned and surrounding you, delighted you as celestial nymphs delight Indra among the gods. Having abandoned them, how can you delight alone in the forest?
Những công chúa Sát-đế-lỵ ấy, với eo thon như dây leo, được trang điểm lộng lẫy, đã vây quanh làm ngài vui thích, như các tiên nữ ở cõi trời làm vui thích vua trời Đế Thích. Từ bỏ họ, làm sao một mình ngài có thể vui thích trong rừng?
481.
481.
481.
‘‘Tambūpadhāne bahugoṇakamhi, subhamhi † sabbassayanamhi saṅge †;
Seyyassa † majjhamhi sukhaṃ sayitvā, hitvā katheko ramasī araññe.
In a fine multi-storied palace, upon an all-encompassing couch with copper-hued pillows and long-fleeced coverlets, you slept in comfort. Having abandoned this, how can you delight alone in the forest?
Sau khi đã ngủ an lạc giữa chiếc giường đẹp đẽ trong cung điện nhiều tầng có đủ mọi loại giường nằm, từ bỏ điều đó, làm sao một mình ngài có thể vui thích trong rừng?
482.
482.
482.
‘‘Pāṇissaraṃ kumbhathūṇaṃ nisīthe, athopi ve nippurisampi tūriyaṃ;
Bahuṃ sugītañca suvāditañca, hitvā katheko ramasī araññe.
The sound of clapping hands and kettle-drums at midnight, and even instrumental music played without a person, much that was well-sung and well-played—having abandoned this, how can you delight alone in the forest?
Vào ban đêm, với tiếng vỗ tay, tiếng trống, và hơn nữa là nhiều loại nhạc cụ không dành cho nam giới, được hát hay và chơi giỏi, từ bỏ những thứ đó, làm sao một mình ngài có thể vui thích trong rừng?
483.
483.
483.
‘‘Uyyānasampannaṃ pahūtamālyaṃ, migājinūpetapuraṃ † surammaṃ;
Hayehi nāgehi rathehupetaṃ, hitvā katheko ramasī araññe’’.
Your delightful city, endowed with parks and abundant flowers, frequented by deer in the Migājina park, furnished with horses, elephants, and chariots—having abandoned it, how can you delight alone in the forest?
Thành phố đầy vườn tược, nhiều hoa lá, có vườn Lộc Uyển thật đáng vui thích; lại đầy đủ ngựa, voi, và xe cộ. Từ bỏ nơi ấy, sao Ngài lại một mình vui thích trong rừng?
484.
484.
484.
‘‘Kāḷapakkhe yathā cando, hāyateva suve suve;
Kāḷapakkhūpamo rāja, asataṃ hoti samāgamo.
Just as the moon in the waning fortnight diminishes day by day, even so, O king, is association with the wicked; it is like the waning fortnight.
Tâu Đại vương, cũng như mặt trăng trong tuần lễ trăng khuyết, mỗi ngày mỗi hao mòn; việc giao du với kẻ ác cũng tương tự như tuần trăng khuyết vậy.
485.
485.
485.
‘‘Yathāhaṃ † rasakamāgamma, sūdaṃ kāpurisādhamaṃ †;
Akāsiṃ pāpakaṃ kammaṃ, yena gacchāmi duggatiṃ.
Just as I, by associating with the cook Rasaka, a most vile man, committed an evil deed by which I am heading to a woeful state.
Cũng như thần, do gần gũi tên đầu bếp Rasaka, một kẻ hạ tiện, đã làm điều ác nghiệp, để rồi phải đi đến ác thú.
486.
486.
486.
‘‘Sukkapakkhe yathā cando, vaḍḍhateva suve suve;
Sukkapakkhūpamo rāja, sataṃ hoti samāgamo.
Just as the moon in the waxing fortnight increases day by day, even so, O king, is association with the virtuous; it is like the waxing fortnight.
Tâu Đại vương, cũng như mặt trăng trong tuần lễ trăng tròn, mỗi ngày mỗi lớn thêm; việc giao du với người hiền cũng tương tự như tuần trăng tròn vậy.
487.
487.
487.
‘‘Yathāhaṃ tuvamāgamma, sutasoma vijānahi;
Kāhāmi kusalaṃ kammaṃ, yena gacchāmi suggatiṃ.
Know this, Sutasoma: just as by associating with you, I shall now perform a wholesome deed by which I may go to a happy destination.
Tâu vua Sutasona, xin Ngài hãy biết cho, cũng như thần, do gần gũi Ngài, sẽ làm điều thiện nghiệp, để rồi được đi đến thiện thú.
488.
488.
488.
‘‘Thale yathā vāri janinda vuṭṭhaṃ †, anaddhaneyyaṃ na ciraṭṭhitīkaṃ;
Evampi hoti asataṃ samāgamo, anaddhaneyyo udakaṃ thaleva.
O lord of men, just as rain that has fallen on high ground is not lasting and does not long endure, even so is association with the wicked: it is not lasting, like water on high ground.
Tâu Nhân vương, cũng như nước mưa rơi trên đất liền, không kéo dài, không tồn tại lâu; việc giao du với kẻ ác cũng vậy, không bền lâu, như nước trên đất liền.
489.
489.
489.
‘‘Sare yathā vāri janinda vuṭṭhaṃ, ciraṭṭhitīkaṃ naravīraseṭṭha †;
Evampi ve † hoti sataṃ samāgamo, ciraṭṭhitīko † udakaṃ sareva.
O lord of men, O best of heroes, just as rain that has fallen into a great lake is long-enduring, even so is association with the virtuous: it is long-enduring, like water in a great lake.
Tâu Nhân vương, bậc Anh hùng tối thắng, cũng như nước mưa rơi xuống hồ, tồn tại lâu dài; việc giao du với người hiền cũng vậy, bền vững lâu dài, như nước trong hồ.
490.
490.
490.
‘‘Abyāyiko hoti sataṃ samāgamo, yāvampi tiṭṭheyya tatheva hoti;
Khippañhi veti asataṃ samāgamo, tasmā sataṃ dhammo asabbhi ārakā’’.
Association with the virtuous is imperishable; however long it lasts, it remains so. But association with the wicked quickly perishes. Therefore, the way of the virtuous is far from that of the wicked.
Việc giao du với người hiền thì không bị tan vỡ, dù tồn tại bao lâu cũng vẫn như thế; còn việc giao du với kẻ ác thì mau chóng tan rã. Do đó, pháp của người hiền thì khác xa với kẻ ác.
491.
491.
491.
‘‘Na so rājā yo † ajeyyaṃ jināti, na so sakhā yo sakhāraṃ jināti;
Na sā bhariyā yā patino na vibheti, na te puttā † ye na bharanti jiṇṇaṃ.
He is no king who conquers the unconquerable; he is no friend who overcomes a friend. She is no wife who does not respect her husband; they are no children who do not support their aged parents.
Kẻ nào chinh phục điều không nên chinh phục thì không phải là vua; kẻ nào chinh phục bạn bè thì không phải là bạn; người nào không kính sợ chồng thì không phải là vợ; những ai không phụng dưỡng cha mẹ già thì không phải là con.
492.
492.
492.
‘‘Na sā sabhā yattha na santi santo, na te santo † ye na bhaṇanti dhammaṃ;
Rāgañca dosañca pahāya mohaṃ, dhammaṃ bhaṇantāva bhavanti santo.
That is no assembly wherein the virtuous are not found; they are not virtuous who do not speak the Dhamma. Only they who speak the Dhamma, having abandoned lust, hatred, and delusion, are truly virtuous.
Nơi nào không có người hiền, đó không phải là hội chúng. Những ai không nói lên Chánh pháp, đó không phải là người hiền. Những vị đã từ bỏ tham, sân, si và nói lên Chánh pháp, các vị ấy mới là người hiền.
493.
493.
493.
‘‘Nābhāsamānaṃ jānanti, missaṃ bālehi paṇḍitaṃ;
Bhāsamānañca jānanti, desentaṃ amataṃ padaṃ.
When a wise person, mingling with fools, does not speak, they do not recognize him as wise. But when he speaks, teaching the deathless state, then they know him.
Người ta không nhận ra bậc hiền trí, khi vị ấy im lặng giữa đám người ngu. Nhưng người ta sẽ nhận ra bậc hiền trí khi vị ấy lên tiếng, thuyết giảng về con đường bất tử.
494.
494.
494.
‘‘Bhāsaye jotaye dhammaṃ, paggaṇhe isinaṃ dhajaṃ;
Subhāsitaddhajā isayo, dhammo hi isinaṃ dhajo’’ti.
One should speak and illuminate the Dhamma; one should raise the banner of the seers. The seers have well-spoken words as their banner; truly, the Dhamma is the banner of the seers.
Hãy nói lên, hãy làm sáng tỏ Chánh pháp, hãy giương cao ngọn cờ của các bậc ẩn sĩ. Các bậc ẩn sĩ lấy lời khéo nói làm ngọn cờ; vì Chánh pháp chính là ngọn cờ của các bậc ẩn sĩ.
Mahāsutasomajātakaṃ pañcamaṃ.
The Mahāsutasoma Jātaka, the fifth.
Chuyện Bổn sanh Mahāsutasoma, thứ năm.
The Section of Eighty is concluded.
Phẩm Tám Mươi kệ được chấm dứt.
Tassuddānaṃ –
The summary thereof:
Phần tóm tắt:
Sumukho pana haṃsavaro ca mahā, sudhabhojaniko ca paro pavaro;
Sakuṇāladijādhipativhayano, sutasomavaruttamasavhayanoti.
And then Sumukha, and the great, excellent goose; and the other excellent one, Sudhābhojanika; the one named Kuṇāla, lord of birds; and the one named the most excellent Sutasoma.
Chuyện Sumukha, rồi đến chuyện thiên nga cao quý, chuyện Sudhābhojana, một chuyện khác tuyệt vời; chuyện được gọi theo tên vua chim Kuṇāla, và chuyện được gọi là Sutasoma cao quý và tối thượng.