Bản dịch
JA 536 — Chuyện Chúa Chim Kunàla (Tiền thân Kunàla)
4. Kuṇālajātaka
4114. ‘Ajjuna, Nakula, Bhīmasena,
Yudhiṭṭhila, và đức vua Sahadeva,
sau khi đã qua mặt năm người chồng này, người đàn bà
đã làm việc xấu xa cùng với gã lùn bị gù lưng.’
Này bạn Puṇṇamukha, tôi đã nhìn thấy nữ Sa-môn Saccatapāvī, trong lúc đang sống ở giữa bãi tha ma và cho đi bữa ăn thứ tư (năm ngày ăn một bữa), đã làm việc xấu xa cùng với con trai của người thợ kim hoàn.
Này bạn Puṇṇamukha, tôi đã nhìn thấy bà hoàng hậu tên Kākātī, vợ của Kim-sỉ-điểu chúa Venateyya, trong lúc đang sống ở giữa biển khơi, đã làm việc xấu xa cùng với nhạc công Naṭakuvera.
Này bạn Puṇṇamukha, tôi đã nhìn thấy cô công chúa xinh đẹp với lớp lông vàng ở bụng tên Kuruṅgadevī, trong lúc đang yêu Eḷakamāraka, đã làm việc xấu xa cùng với tướng quân Chaḷaṅgakumāra và người hầu Dhanantevāsi của vị tướng quân ấy.
4115. Tôi còn biết chuyện như vầy về người mẹ của Brahmadatta, sau khi ruồng bỏ vị vua xứ Kosala, đã làm việc xấu xa cùng với Pañcālacaṇḍa.
4116. Các nàng này và các nàng khác đã làm việc xấu xa;
vì thế, tôi không tin tưởng các nữ nhân, không ca ngợi họ.
Giống như đại địa cầu, quả đất, có sự yêu thích đồng đều,
là nơi cất giữ của cải, nơi chứa đựng thứ này thứ khác (tốt lẫn xấu),
có sự cam chịu tất cả, không có xao động, không bị chuyển dịch,
các nữ nhân là tương tự, người nam không nên tin tưởng các nàng.
4117. Giống như loài sư tử có thức ăn là máu và thịt,
là loại thú dữ, có năm chân (tính thêm cái miệng), vô cùng tàn nhẫn,
ra sức hành hạ rồi ăn thịt, thích thú việc hãm hại động vật khác,
các nữ nhân là tương tự, người nam không nên tin tưởng các nàng.
Quả thật, này bạn Puṇṇamukha, những người đàn bà này không phải là các gái điếm hay các kỹ nữ, bởi vì những người đàn bà này không có bản chất của gái điếm hay kỹ nữ, các nàng này được gọi là các dâm phụ, được gọi là các ác phụ.
Các nàng như là lũ trộm cướp có búi tóc đã được bện lại, như là rượu tẩm thuốc độc, như là thương buôn với lời nói ca ngợi (hàng hóa của mình), cong queo tựa như sừng của loài nai issa , tựa như loài rắn có hai lưỡi, tựa như cái hố đã được che đậy, tựa như vực thẳm ở đại dương khó lấp đầy, như là quỷ cái khó làm hài lòng, tựa như Diêm Vương chỉ có bắt đem đi, tựa như ngọn lửa có sự thiêu đốt mọi thứ, tựa như dòng sông có sự cuốn trôi tất cả, như là làn gió có sự di chuyển theo ý thích, như là núi Neru làm cho mọi thứ trở nên không còn khác biệt, như là giống cây độc hại thường xuyên kết trái. Hơn nữa, ở đây, còn có thêm lời nói rằng:
4118. ‘Giống như kẻ trộm cướp, giống như đã bị tẩm thuốc độc, như là thương buôn có sự ca ngợi, cong queo như là sừng của loài nai issa, giống như con rắn có hai lưỡi.
4119. Tựa như cái hố đã được che đậy, tựa như vực thẳm khó lấp đầy, như là quỷ cái khó làm hài lòng, tựa như Diêm Vương chỉ có bắt đem đi, giống như ngọn lửa, dòng sông có sự mang đi, tựa như làn gió có sự di chuyển theo ý thích.
4120. Và tựa như núi Neru làm cho không còn khác biệt, như là giống cây độc hại thường xuyên kết trái, những người đàn bà làm tiêu hoại của cải ở trong nhà và làm biến mất các loại báu vật.’
Này bạn Puṇṇamukha, bốn thứ này không nên để ở nhà của người khác: bò đực, bò sữa, cỗ xe, người vợ; bậc sáng suốt không nên để bốn loại phương tiện này rời khỏi nhà.
4121 . Bò đực, bò cái, cỗ xe,
và người vợ, không nên để ở gia tộc của thân quyến.
Không rành rẽ về cỗ xe, chúng phá hỏng cỗ xe.
Do việc kéo quá nặng, chúng giết chết con bò đực.
Do việc vắt sữa, chúng giết chết con bò cái.
Ở trong các gia tộc của thân quyến, người vợ bị hư hỏng.
Này bạn Puṇṇamukha, sáu thứ này là không có sự lợi ích, khi có công việc phải làm.
4122. Cây cung không có dây, và người vợ ở gia tộc của thân quyến,
chiếc thuyền ở bờ bên kia, và cỗ xe bị gãy trục,
bạn bè ở xa, và kẻ cộng sự ác xấu,
khi có công việc phải làm, chúng không có sự lợi ích.
Quả thật, này bạn Puṇṇamukha, nữ nhân khi dễ người chồng do tám sự việc: do nghèo khó, do bệnh tật, do già cả, do nghiện rượu, do ngu khờ, do xao lãng, cặm cụi trong mọi công việc, không trao tất cả tài sản (cho vợ). Quả thật, này bạn Puṇṇamukha, nữ nhân khi dễ người chồng do tám sự việc này. Hơn nữa, ở đây, còn có thêm lời nói rằng:
4123. ‘Các nữ nhân khi dễ người chồng nghèo khó, bệnh tật, già cả, nghiện rượu, bị xao lãng, có tình trạng ngu khờ, bị say đắm trong các công việc nên có sự lơ là, d0 việc ban cho mọi ước muốn (của vợ).’
Quả thật, này bạn Puṇṇamukha, nữ nhân mang lại sự xấu xa do chín sự việc: có thói quen đi đến vườn hoa, có thói quen đi đến vườn thượng uyển, có thói quen đi đến bến tắm ở sông, có thói quen đi đến nhà thân quyến, có thói quen đi đến nhà người khác, có thói quen gắn bó với gương soi, vải vóc, và việc trang điểm, thường uống chất say, có thói quen nhìn qua cửa số, thường đứng ở cửa ra vào. Quả thật, này bạn Puṇṇamukha, nữ nhân mang lại sự xấu xa do chín sự việc này. Hơn nữa, ở đây, còn có thêm lời nói rằng:
4124. ‘Có thói quen đi đến vườn hoa, vườn thượng uyển, bến sông, thân quyến, và nhà người khác, gắn bó với vải vóc, và việc trang điểm, là nữ nhân thường uống chất say,–
4125. –nàng có có thói quen nhìn qua cửa số, và thường đứng ở cửa ra vào; do chín sự việc này, các nữ nhân mang lại sự xấu xa.’
Quả thật, này bạn Puṇṇamukha, nữ nhân quyến rủ nam nhân bằng bốn mươi sự việc: ưỡn người lên, cúi xuống, làm dáng, (gãi nhẹ ở làn da), làm bộ e thẹn, bấm ngón tay này với ngón tay kia, gác chân này lên chân kia, vạch lên mặt đất bằng thanh gỗ, bảo gã trai tơ nhảy lên nhảy xuống, chơi giỡn và bảo gã trai tơ chơi giỡn, hôn và bảo gã trai tơ hôn, ăn và bảo gã trai tơ ăn, ban cho, van xin, nhái lại hành động, nói lớn tiếng, nói hạ giọng, nói công khai, nói lén lút, cười giỡn bằng các việc múa - hát - tấu nhạc - khóc lóc - làm dáng - trang điểm, nhìn chăm chú, lắc hông, lắc háng, phô bày bắp vế, che đậy bắp vế, khoe vú, khoe nách, khoe rún, nheo mắt, nhướng mày, cắn môi, (cắn lưỡi), liếm môi, nới lỏng xiêm y, buộc lại xiêm y, xõa tóc, buộc tóc; nữ nhân quyến rủ nam nhân bằng bốn mươi sự việc này.
Quả thật, này bạn Puṇṇamukha, nữ nhân hư đốn được nhận biết do hai mươi lăm sự việc: nàng ca ngợi việc vắng nhà của chồng, không nhớ nhung khi chồng vắng nhà, không vui mừng khi chồng trở về, nói lời chê bai chồng, không nói lời ca ngợi chồng, thực hiện điều bất lợi cho chồng, không thực hiện điều lợi ích cho chồng, làm việc không phải là bổn phận đối với chồng, không làm bổn phận đối với chồng, mặc đồ kín đáo đi ngủ, nằm quay mặt hướng khác, nằm trăn qua trở lại và còn quấy rối nữa, thở dài, kêu than khổ, đi tiêu tiểu thường xuyên, cư xử trái khoáy, nghe âm thanh của nam nhân khác thì chăm chú lắng nghe, lại còn phá của, giao du thân mật với các người láng giềng, lại còn quen thói đi ra ngoài, hay đi dạo ở đường phố, lại còn ngoại tình nữa, không tôn trọng chồng và có tâm tư xấu xa, thường xuyên đứng ở cửa ra vào, cho nhìn thấy các đồ lót, cơ thể, và bộ ngực, đi chỗ này chỗ nọ ngắm nhìn. Quả thật, này bạn Puṇṇamukha, nữ nhân hư đốn được nhận biết do hai mươi lăm sự việc này. Hơn nữa, ở đây, còn có thêm lời nói rằng:
4137 . Nàng Pañcapāpī là vợ của vua Baka và vua Pāvārika, hai vị vua đeo đuổi dục lạc tột đỉnh. Nàng đã làm điều tà hạnh với kẻ thuộc quyền sai khiến của chồng, vậy còn người nam nào khác nữa mà nữ nhân sẽ không cư xử vượt quá giới hạn?
4144 . Vào lúc các nàng, trong lúc xem xét, không nhìn thấy tài sản của người đàn ông có vẻ có thể thâu tóm, các nàng lánh xa người ấy ở mọi nơi, tựa như người đã vượt qua, đã đi đến bờ bên kia của dòng sông, xa lánh chiếc bè.
4145 . Nữ nhân giống như chất kết dính, tựa như ngọn lửa có sự thiêu đốt tất cả. Các nàng có sự phỉnh lừa chóng vánh, tựa như con sông có dòng nước chảy xiết. Bởi vì các nàng ấy hầu hạ người yêu mến lẫn người không yêu mến, giống như con thuyền ghé vào bến đò ở hạ nguồn và ở thượng nguồn.
4146 . Các nàng ấy không thuộc về một người, không thuộc về hai người, các nàng ấy tựa như cửa tiệm đã được trưng bày. Kẻ nào nghĩ rằng: ‘Các nàng ấy là thuộc về ta,’ kẻ ấy tưởng rằng có thể tóm gọn làn gió bằng cái lưới.
4147 . Giống như dòng sông, con đường, quán nước, phòng hội, lều nghỉ chân, các nữ nhân ở thế gian được gọi là như vậy, giới hạn của các nàng ấy không thể biết được.
4148. Thật vậy, các nàng ấy như là ngọn lửa tế thần, tương tự như đầu con rắn độc màu đen, tựa như bầy bò đối với cọng cỏ ở bên lề, chúng chỉ gặm những cọng ngon nhất.
4149 . Ngọn lửa tế thần, con voi, rắn độc màu đen,
người đã được làm lễ phong vương, và tất cả các nữ nhân,
năm hạng này, người nam thường xuyên thận trọng mới có thể giao thiệp.
Thật vậy, mọi ý định của những hạng ấy khó mà biết được.
4150 . Không nên thân cận với người nữ có sắc đẹp quá mức, với người nữ được nhiều người yêu thương, với người phụ nữ tài hoa, với nữ nhân là vợ của kẻ khác, với nữ nhân thân cận vì nguyên nhân tài sản; năm hạng nữ nhân này không nên thân cận.”
4152 . Dầu cho chàng sốt sắng, có thói quen hoạt động,
là người chồng từ lúc còn son trẻ, đáng yêu, và hợp ý,
các nàng vẫn từ bỏ chàng vào những lúc rủi ro và những lúc hữu sự;
chính vì thế, ta không tin tưởng các nữ nhân.
4153 . Người nam không nên tin tưởng nữ nhân (vì nghĩ rằng): ‘Nàng thích ta,’ không nên tin tưởng (vì nghĩ rằng): ‘Nàng khóc trong sự hiện diện của ta,’ bởi vì các nàng ấy hầu hạ người yêu mến lẫn người không yêu mến, giống như con thuyền ghé vào bến đò ở hạ nguồn và ở thượng nguồn.
4154 . Không nên tin tưởng tấm thảm trải bằng lá cũ,
không nên tin tưởng kẻ trộm cướp dầu là người bạn cũ,
không nên tin tưởng vị vua (nghĩ rằng): ‘Là bạn hữu của ta,’
không nên tin tưởng nữ nhân dầu nàng là mẹ của mười đứa con.
4155 . Không nên tin tưởng các nữ nhân là những người tạo ra lạc thú, có thói quen vượt qua lễ giáo, không tự kiềm chế. Người vợ dầu đã gắn bó và có sự yêu thương rất mực, cũng không nên tin tưởng nàng, bởi vì các nữ nhân thì tương tự như những bến tắm (là nơi công cộng của tất cả).
4156. Các nàng có thể giết, có thể chém, có thể cho người chém, thậm chí sau khi cắt đứt cổ họng, các nàng có thể uống máu tươi. Chớ nên đặt sự yêu thương ở những nữ nhân có dục vọng thấp kém, không tự kiềm chế, (vì các nàng ấy) giống như những bến tắm ở dòng sông.
4157 . Nói dối đối với các nàng ấy giống như nói thật, nói thật đối với các nàng ấy giống như nói dối, tựa như bầy bò đối với cọng cỏ ở bên lề, chúng chỉ gặm những cọng ngon nhất.
4158 . Các nàng ấy cám dỗ (nam nhân) bằng cách đi, bằng việc nhìn, và bằng việc nở nụ cười, rồi với việc ăn bận xộc xệch, và với lời nói dịu dàng.
4164 . Các nàng ruồng bỏ người con trai gia đình danh giá không có tài sản cũng giống như ruồng bỏ kẻ dòng dõi hạ tiện, bởi vì các nữ nhân đeo đuổi, xiêu lòng vì nguyên nhân tài sản.”
4166 . Mọi dòng sông ở quả đất đều chảy về biển cả. Chúng không làm tràn đầy biển cả, bởi vì sự thiếu thốn (của biển cả) không được làm cho đầy đủ (do biển cả quá rộng lớn so với lượng nước được đổ vào).
4167 . Vị Bà-la-môn, sau khi học xong kinh Vệ Đà và truyền thống là thứ năm, mong muốn kiến thức càng nhiều hơn nữa, bởi vì sự thiếu thốn (của vị Bà-la-môn) không được làm cho đầy đủ.
4171 . Nam nhân có thể bắt giữ làn gió bằng cái lưới,
có thể tát cạn biển cả bằng một bàn tay,
có thể dập tắt âm thanh bằng cánh tay của mình,
là người có thể buông bỏ mọi yêu thương ở các nữ nhân.
4178 . Đối với các nàng ấy, không có kỷ cương, không có sự gìn giữ;
các nàng ấy ưa thích rượu thịt, không tự kiềm chế.
Các nàng ấy tóm thâu tài sản của nam nhân,
tựa như con cá khổng lồ nuốt trọn con cá kiếm ở biển khơi.
4189 . Kẻ ấy bị chê trách ở đời này và đời sau.
Kẻ có tâm hư hỏng, khi tiếp cận với nghiệp của mình,
đi đến chốn đọa đày với thời gian không xác định
tựa như cỗ xe được kéo bởi con lừa hư hỏng đi sai đường.
4192 . Các nam nhân nào thực hành Phạm hạnh, không có sự tầm cầu các nữ nhân, thì các việc vui đùa cùng những sự thích thú thuộc Thiên giới, cuộc sống Chuyển Luân Vương ở loài người, và các tiên nữ có sự cư ngụ ở Thiên cung bằng vàng không phải là khó đạt được.
4193 . Các nam nhân nào thực hành Phạm hạnh, không có sự tầm cầu các nữ nhân, thì cảnh giới tái sanh vượt qua khỏi Dục giới, sự hiện hữu ở Sắc giới, cùng với việc tái sanh ở chốn của những vị đã xa lìa luyến ái (Phạm Thiên giới) không phải là khó đạt được.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
536. Kuṇālajātakaṃ (4)
536. The Kuṇāla Jātaka (4)
536. Bổn sanh Kuṇāla (4)
Evamakkhāyati, evamanusūyati †. Sabbosadhadharaṇidhare nekapupphamālyavitate gaja-gavaja mahiṃsa-ruru-camara-pasada-khagga-gokaṇṇa-sīha-byaggha-dīpi-accha-koka-taraccha-uddāra-kadalimiga- biḷāra-sasa-kaṇṇikānucariteākiṇṇanelamaṇḍalamahāvarāhanāgakulakareṇu † -saṅghādhivuṭṭhe † issamiga- sākhamiga-sarabhamiga-eṇīmiga-vātamiga-pasadamiga-purisālu † -kimpurisa-yakkha-rakkhasanisevite amajjavamañjarīdhara-pahaṭṭha † -pupphaphusitaggā † nekapādapagaṇavitatekurara-cakora-vāraṇa-mayūra-parabhata- jīvañjīvaka-celāvakā-bhiṅkāra-karavīkamattavihaṅgagaṇa-satata † sampaghuṭṭheañjana-manosilā-haritāla- hiṅgulakahema-rajatakanakānekadhātusatavinaddhapaṭimaṇḍitappadese evarūpe khalu, bho, ramme vanasaṇḍe kuṇālo nāma sakuṇo paṭivasati ativiya citto ativiya cittapattacchadano.
Thus it is said, thus it is heard. In a delightful forest grove, on ground that bears all medicinal herbs, spread with many flowers and garlands; frequented by elephants, wild oxen, buffaloes, ruru deer, yaks, pasāda deer, rhinoceroses, gokaṇṇa deer, lions, tigers, leopards, bears, wolves, hyenas, otters, kadali deer, cats, hares, and kaṇṇikā deer; inhabited by throngs of young elephants, great boars, herds of elephants, and female elephants; frequented by issa deer, monkeys, sarabha deer, eṇī deer, vāta deer, pasāda deer, wild men, kimpurisas, yakkhas, and rakkhasas; spread with many kinds of trees with clusters of unopened buds and blossoms, their tops covered with flowers; constantly resounding with the cries of ospreys, partridges, vāraṇa birds, peacocks, cuckoos, jīvañjīvaka birds, celāvaka birds, bhiṅkāra birds, and flocks of intoxicated karavīka birds; in a region adorned with hundreds of various minerals like collyrium, red arsenic, orpiment, vermilion, gold, and silver—in such a delightful forest grove, sirs, dwells a bird named Kuṇāla, exceedingly beautiful, with exceedingly beautiful wings and plumage.
Được kể lại như vầy, được nghe lại như vầy: Này các Tỳ-kheo, quả thật, trong một khu rừng khả ái có những đặc tính như sau: trên mặt đất chứa đựng tất cả các loại dược thảo, trải rộng với nhiều loại hoa và vòng hoa; là nơi đi lại của voi, bò tót, trâu, nai ruru, bò yak, linh dương, tê giác, bò gokaṇṇa, sư tử, cọp, báo, gấu, chó sói, linh cẩu, rái cá, linh dương kadali, mèo, thỏ, và hươu kaṇṇikā; là nơi cư ngụ của vô số đàn voi con, voi lớn, và các loài voi khác; là nơi lui tới của gấu, khỉ, nai sarabha, nai eṇī, nai gió, linh dương, quỷ ăn thịt người, khẩn-na-la, dạ-xoa, và la-sát; được trang điểm bởi nhiều loại cây có ngọn cây được chạm đến bởi những bông hoa nở rộ mang theo những chùm nụ hoa; là nơi luôn vang vọng tiếng hót của các đàn chim say sưa như chim kurura, cakora, vāraṇa, công, cu cu, jīvañjīvaka, celāvakā, bhiṅkāra, và karavīka; có những vùng được trang hoàng bởi hàng trăm khoáng chất khác nhau như thuốc vẽ mắt, hùng hoàng, thư hoàng, chu sa, vàng, và bạc. Trong một khu rừng như vậy, một vua chim tên là Kuṇāla cư ngụ, có màu sắc vô cùng rực rỡ, có bộ lông cánh vô cùng rực rỡ che phủ.
Tasseva khalu, bho, kuṇālassa sakuṇassa aḍḍhuḍḍhāni itthisahassāni paricārikā dijakaññāyo. Atha khalu, bho, dve dijakaññāyo kaṭṭhaṃ mukhena ḍaṃsitvā † taṃ kuṇālaṃ sakuṇaṃ majjhe nisīdāpetvā uḍḍenti † – ‘‘mā naṃ kuṇālaṃ sakuṇaṃ addhānapariyāyapathe kilamatho ubbāhetthā’’ti †.
Indeed, sirs, that very bird Kuṇāla had three thousand five hundred female birds as attendants. Then, sirs, two female birds, holding a stick with their beaks, seated the bird Kuṇāla in the middle and flew, thinking: ‘May fatigue not afflict the bird Kuṇāla on his long journey.’
Này các Tỳ-kheo, quả thật, chính vua chim Kuṇāla ấy có ba ngàn năm trăm con chim mái làm thị tỳ. Khi ấy, này các Tỳ-kheo, hai con chim mái ngậm một thanh cây bằng mỏ, cho vua chim Kuṇāla ấy ngồi ở giữa, rồi bay đi, nghĩ rằng: ‘Mong rằng vua chim Kuṇāla của chúng ta không bị mệt mỏi trên con đường dài’.
Pañcasatā † dijakaññāyo heṭṭhato heṭṭhato uḍḍenti – † ‘‘sacāyaṃ kuṇālo sakuṇo āsanā paripatissati, mayaṃ taṃ pakkhehi paṭiggahessāmāti.
Five hundred female birds flew below them, thinking: ‘If this bird Kuṇāla should fall from his seat, we will catch him with our wings.’
Năm trăm con chim mái bay ở phía dưới, nghĩ rằng: ‘Nếu vua chim Kuṇāla này rơi khỏi chỗ ngồi, chúng tôi sẽ dùng cánh đỡ lấy ngài’.
Pañcasatā dijakaññāyo uparūpari uḍḍenti – † ‘‘mā naṃ kuṇālaṃ sakuṇaṃ ātapo paritāpesī’’ti †.
Five hundred female birds flew above him, thinking: ‘May the sun not scorch the bird Kuṇāla.’
Năm trăm con chim mái bay ở phía trên, nghĩ rằng: ‘Mong rằng ánh nắng mặt trời không làm vua chim Kuṇāla của chúng ta nóng bức’.
Pañcasatā pañcasatā † dijakaññāyo ubhatopassena uḍḍenti – † ‘‘mā naṃ kuṇālaṃ sakuṇaṃ sītaṃ vā uṇhaṃ vā tiṇaṃ vā rajo vā vāto vā ussāvo vā upapphusī’’ti.
Five hundred female birds flew on each side, thinking: ‘May neither cold nor heat, grass nor dust, wind nor dew touch the bird Kuṇāla.’
Năm trăm con chim mái ở mỗi bên bay ở hai bên, nghĩ rằng: ‘Mong rằng vua chim Kuṇāla của chúng ta không bị chạm phải bởi lạnh, nóng, cỏ, bụi, gió, hay sương’.
Pañcasatā dijakaññāyo purato purato uḍḍenti – ‘‘mā naṃ kuṇālaṃ sakuṇaṃ gopālakā vā pasupālakā vā tiṇahārakā vā kaṭṭhahārakā vā vanakammikā vā kaṭṭhena vā kaṭhalena vā † pāṇinā vā ( ) † leḍḍunā vā daṇḍena vā satthena vā sakkharāhi vā † pahāraṃ adaṃsu. Māyaṃ kuṇālo sakuṇo gacchehi vā latāhi vā rukkhehi vā sākhāhi vā † thambhehi vā pāsāṇehi vā balavantehi vā pakkhīhi saṅgamesī’’ti †.
Five hundred female birds flew ahead, thinking: ‘May no cowherds, shepherds, grass-cutters, wood-gatherers, or forest workers strike the bird Kuṇāla with a stick, a clod of earth, a staff, a weapon, or with pebbles. May this bird Kuṇāla not collide with bushes, vines, trees, branches, posts, rocks, or with powerful birds.’
Năm trăm con chim mái bay ở phía trước, nghĩ rằng: ‘Mong rằng những người chăn bò, chăn gia súc, cắt cỏ, đốn củi, hay làm việc trong rừng không dùng gỗ, cục đất, tay, gậy, vũ khí, hay sỏi đá để đánh vua chim Kuṇāla của chúng ta. Mong rằng vua chim Kuṇāla này không va chạm với bụi cây, dây leo, cây cối, cành cây, cột, đá, hay những con chim mạnh hơn’.
Pañcasatā dijakaññāyo pacchato pacchato uḍḍenti saṇhāhi sakhilāhi mañjūhi madhurāhi vācāhi samudācarantiyo – ‘‘māyaṃ kuṇālo sakuṇo āsane pariyukkaṇṭhī’’ti.
Five hundred female birds flew behind, addressing him with gentle, friendly, pleasant, and sweet words, thinking: ‘May this bird Kuṇāla not become weary on his seat.’
Năm trăm con chim mái bay ở phía sau, trò chuyện bằng những lời lẽ tinh tế, thân ái, du dương, và ngọt ngào, nghĩ rằng: ‘Mong rằng vua chim Kuṇāla của chúng ta không cảm thấy buồn chán trên chỗ ngồi’.
Pañcasatā dijakaññāyo disodisaṃ uḍḍenti anekarukkhavividhavikatiphalamāharantiyo – ‘‘māyaṃ kuṇālo sakuṇo khudāya parikilamitthā’’ti.
Five hundred female birds flew in all directions, bringing various choice fruits from many trees, thinking: ‘May this bird Kuṇāla not be afflicted by hunger.’
Năm trăm con chim mái bay đi khắp các phương hướng, mang về nhiều loại trái cây khác nhau từ nhiều loại cây, nghĩ rằng: ‘Mong rằng vua chim Kuṇāla của chúng ta không bị mệt mỏi vì đói’.
Atha khalu, bho, tā † dijakaññāyo taṃ kuṇālaṃ sakuṇaṃ ārāmeneva ārāmaṃ uyyāneneva uyyānaṃ nadītittheneva nadītitthaṃ pabbatasikhareneva pabbatasikharaṃ ambavaneneva ambavanaṃ jambuvaneneva jambuvanaṃ labujavaneneva labujavanaṃ nāḷikerasañcāriyeneva † nāḷikerasañcāriyaṃ khippameva abhisambhonti ratitthāya †.
Then, indeed, sirs, those female birds swiftly brought the bird Kuṇāla from park to park, from garden to garden, from river ford to river ford, from mountain peak to mountain peak, from mango grove to rose-apple grove, from breadfruit grove to coconut grove, for the sake of his delight.
Khi ấy, này các Tỳ-kheo, quả thật, những con chim mái ấy nhanh chóng đưa vua chim Kuṇāla đi từ khu vườn này đến khu vườn khác, từ công viên này đến công viên khác, từ bến sông này đến bến sông khác, từ đỉnh núi này đến đỉnh núi khác, từ rừng xoài này đến rừng xoài khác, từ rừng trâm này đến rừng trâm khác, từ rừng mít này đến rừng mít khác, từ rừng dừa này đến rừng dừa khác, để hưởng thụ dục lạc.
Atha khalu, bho, kuṇālo sakuṇo tāhi dijakaññāhi divasaṃ paribyūḷho evaṃ apasādeti – ‘‘nassatha tumhe vasaliyo, vinassatha tumhe vasaliyo, coriyo dhuttiyo asatiyo lahucittāyo katassa appaṭikārikāyo anilo viya yenakāmaṃgamāyo’’ti.
Then, indeed, sirs, the bird Kuṇāla, having been attended upon by those female birds all day, would disparage them thus: ‘Perish, you wretches! Be destroyed, you wretches! You are thieves, rogues, unmindful, fickle-minded, ungrateful for kindness shown, going wherever you please like the wind!’
Khi ấy, này các Tỳ-kheo, quả thật, vua chim Kuṇāla, được những con chim mái ấy vây quanh suốt cả ngày, đã mắng nhiếc như vầy: ‘Hãy cút đi, hỡi những con tiện nữ! Hãy biến đi, hỡi những con tiện nữ! Các ngươi là những kẻ trộm cắp, những kẻ lừa đảo, những kẻ thất niệm, những kẻ có tâm trí nhẹ dạ, những kẻ không biết đền đáp ơn nghĩa, giống như gió, đi đến bất cứ nơi nào tùy thích’.
Tasseva khalu, bho, himavato pabbatarājassa puratthimadisābhāge susukhumasunipuṇagirippabhava † – haritupayantiyo.
Indeed, sirs, in the eastern region of that king of mountains, the Himālaya, there are rivers originating from the mountains, with exceedingly fine and pure water, flowing by green banks.
Này các Tỳ-kheo, quả thật, ở phía đông của chính vua núi Hy-mã-lạp ấy, có những dòng sông chảy từ núi, rất tinh tế và trong lành, có dòng nước xanh biếc.
Uppala paduma kumuda naḷina satapatta sogandhika mandālaka † sampativirūḷhasucigandha manuññamāvakappadese †.
In a region of delightful lakes, free of weeds, with pure and fragrant water, where blue lotuses, red lotuses, white water lilies, day lotuses, hundred-petaled lotuses, fragrant lotuses, and mandārava flowers flourish.
Tại một nơi có những cái hồ làm vui lòng với hương thơm trong sạch, lan tỏa tốt đẹp, nơi hoa súng xanh, hoa sen hồng, hoa súng trắng, hoa sen trắng, hoa sen trăm cánh, hoa sogandhika, và hoa mandālaka đang nở rộ.
Kuravaka-mucalinda-ketaka-vedisa-vañjula † -punnāgabakula-tilaka-piyaka-hasanasāla-saḷalacampaka asoka-nāgarukkha-tirīṭi-bhujapatta-lodda-candanoghavanekāḷāgaru-padmaka-piyaṅgu-devadārukacocagahane kakudhakuṭajaaṅkola-kaccikāra † -kaṇikāra-kaṇṇikāra-kanavera-koraṇḍaka-koviḷāra-kiṃsuka-yodhika vanamallika † -manaṅgaṇa-manavajja-bhaṇḍi-surucira-bhaginimālāmalyadhare jātisumanamadhugandhika- † dhanutakkāri † tālīsa-tagaramusīrakoṭṭha-kacchavitate atimuttakasaṃkusumitalatāvitatapaṭimaṇḍitappadese haṃsa-pilava-kādamba-kāraṇḍavābhinadite vijjādhara-siddha † -samaṇa-tāpasagaṇādhivuṭṭhe varadeva-yakkha-rakkhasa-dānava-gandhabba-kinnaramahoragānuciṇṇappadese evarūpe khalu, bho, ramme vanasaṇḍe puṇṇamukho nāma phussakokilo paṭivasati ativiya madhuragiro vilāsitanayano mattakkho †.
In such a delightful forest grove, with thickets of kuravaka, mucalinda, ketaka, vedisa, vañjula, punnāga, bakula, tilaka, piyaka, asana, sāla, pine, campaka, asoka, nāga, tirīṭi, birch, lodda, sandalwood, and aloe wood trees; with groves of padmaka, piyaṅgu, devadāru, and plantain trees; with kakudha, kuṭaja, aṅkola, kaccikāra, kaṇikāra, kaṇṇikāra, kanavera, koraṇḍaka, koviḷāra, kiṃsuka, yodhika, vanamallika, anaṅgana, anavajja, bhaṇḍi, and surucira trees, bearing garlands of bhaginimālā flowers; spread with thickets of jasmine, madhugandhika, dhanutakkāri, tālīsa, tagara, and musīra flowers; in a region adorned with a canopy of flowering atimuttaka creepers; resounding with the calls of swans, ducks, kādamba geese, and kāraṇḍava ducks; inhabited by hosts of sorcerers, accomplished ones, ascetics, and hermits; frequented by excellent devas, yakkhas, rakkhasas, dānavas, gandhabbas, kinnaras, and great serpents—in such a delightful forest grove, sirs, dwells a spotted cuckoo named Puṇṇamukha, with an exceedingly sweet voice, with graceful, intoxicated eyes.
Này chư Tỳ khưu, trong một khu rừng khả ái như thế, có các loại cây kuravaka, mucalinda, ketaka, vedisa, vañjula, punnāga, bakula, tilaka, piyaka, asana, sāla, salaḷa, campaka, asoka, nāga, tirīṭi, bhujapatta, lodda; có khu rừng toàn cây candana, kāḷāgaru, padmaka, piyaṅgu, devadāru; có lùm cây coca, kakudha, kuṭaja, aṅkola, kaccikāra, kaṇikāra, kaṇṇikāra, kanavera, koraṇḍaka, koviḷāra, kiṃsuka, yodhikā, vanamallikā, anaṅgaṇa, anavajja, bhaṇḍi; được trang hoàng với những vòng hoa bhaginimālā xinh đẹp; có các loại hoa jātisumana, madhugandhika, dhanutakkāri, tālīsa, tagara, musīra; được làm cho đẹp đẽ bởi các bụi cây; là nơi được trang điểm bởi các dây leo atimuttaka đang trổ hoa; là nơi vang dội tiếng kêu của ngỗng trời, chim pilava, vịt kādamba, và chim kāraṇḍava; là nơi cư ngụ của các nhóm vijjādhara, bậc thành tựu, sa-môn, và đạo sĩ; là nơi thường lui tới của các vị thiên, dạ-xoa, la-sát, dānava, gandhabba, kinnara, và mahoraga bậc cao; quả thật, trong một khu rừng khả ái như thế, có một con chim cu phussa tên là Puṇṇamukha, với tiếng hót vô cùng ngọt ngào, đôi mắt duyên dáng như người say, đang trú ngụ.
Tasseva khalu, bho, puṇṇamukhassa phussakokilassa aḍḍhuḍḍhāni itthisatāni paricārikā dijakaññāyo. Atha khalu, bho, dve dijakaññāyo kaṭṭhaṃ mukhena ḍaṃsitvā taṃ puṇṇamukhaṃ phussakokilaṃ majjhe nisīdāpetvā uḍḍenti – ‘‘mā naṃ puṇṇamukhaṃ phussakokilaṃ addhānapariyāyapathe kilamatho ubbāhetthā’’ti.
Indeed, O monks, that Phussa cuckoo named Puṇṇamukha had three hundred and fifty female birds as attendants. Then, O monks, two female birds, holding a stick in their beaks, seated that Phussa cuckoo named Puṇṇamukha in the middle and flew, thinking: ‘May weariness not afflict this Phussa cuckoo named Puṇṇamukha on the long journey.’
Này chư Tỳ khưu, quả thật, con chim cu phussa Puṇṇamukha ấy có ba trăm năm mươi con chim mái làm thị nữ. Rồi, này chư Tỳ khưu, quả thật, có hai con chim mái ngậm một thanh cây bằng mỏ, để cho con chim cu phussa Puṇṇamukha ấy ngồi ở giữa, rồi bay đi, với ý nghĩ rằng: ‘Mong rằng con chim cu phussa Puṇṇamukha của chúng ta không bị mệt mỏi trên cuộc hành trình dài.’
Paññāsa dijakaññāyo heṭṭhato heṭṭhato uḍḍenti – ‘‘sacāyaṃ puṇṇamukho phussakokilo āsanā paripatissati, mayaṃ taṃ pakkhehi paṭiggahessāmā’’ti.
Fifty female birds flew underneath, thinking: ‘If this Phussa cuckoo named Puṇṇamukha should fall from his seat, we will catch him with our wings.’
Năm mươi con chim mái bay ở phía dưới, với ý nghĩ rằng: ‘Nếu con chim cu phussa Puṇṇamukha này rơi khỏi chỗ ngồi, chúng ta sẽ dùng cánh để đỡ lấy nó.’
Paññāsa dijakaññāyo uparūpari uḍḍenti – ‘‘mā naṃ puṇṇamukhaṃ phussakokilaṃ ātapo paritāpesī’’ti.
Fifty female birds flew overhead, thinking: ‘May the sun not scorch this Phussa cuckoo named Puṇṇamukha.’
Năm mươi con chim mái bay ở phía trên, với ý nghĩ rằng: ‘Mong rằng ánh nắng mặt trời không làm phiền con chim cu phussa Puṇṇamukha của chúng ta.’
Paññāsa paññāsa dijakaññāyo ubhatopassena uḍḍenti – ‘‘mā naṃ puṇṇamukhaṃ phussakokilaṃ sītaṃ vā uṇhaṃ vā tiṇaṃ vā rajo vā vāto vā ussāvo vā upapphusī’’ti.
Fifty female birds flew on either side, thinking: ‘May neither cold nor heat, grass nor dust, wind nor dew touch this Phussa cuckoo named Puṇṇamukha.’
Năm mươi con chim mái bay ở hai bên, với ý nghĩ rằng: ‘Mong rằng lạnh, hay nóng, hay cỏ, hay bụi, hay gió, hay sương không chạm vào con chim cu phussa Puṇṇamukha của chúng ta.’
Paññāsa dijakaññāyo purato purato uḍḍenti – ‘‘mā naṃ puṇṇamukhaṃ phussakokilaṃ gopālakā vā pasupālakā vā tiṇahārakā vā kaṭṭhahārakā vā vanakammikā vā kaṭṭhena vā kathalāya vā pāṇinā vā leḍḍunā vā daṇḍena vā satthena vā sakkharāhi vā pahāraṃ adaṃsu. Māyaṃ puṇṇamukho phussakokilo gacchehi vā latāhi vā rukkhehi vā sākhāhi vā thambhehi vā pāsāṇehi vā balavantehi vā pakkhīhi saṅgāmesī’’ti.
Fifty female birds flew in front, thinking: ‘May no cowherds, shepherds, grass-cutters, wood-gatherers, or forest workers strike this Phussa cuckoo named Puṇṇamukha with a stick, a potsherd, a hand, a clod of earth, a staff, a weapon, or with pebbles. May this Phussa cuckoo named Puṇṇamukha not collide with shrubs, creepers, trees, branches, posts, rocks, or with powerful birds.’
Năm mươi con chim mái bay ở phía trước, với ý nghĩ rằng: ‘Mong rằng những người chăn bò, hay người chăn gia súc, hay người cắt cỏ, hay người lượm củi, hay người làm việc trong rừng không dùng cây, hay sỏi, hay tay, hay cục đất, hay gậy, hay vũ khí, hay đá cuội mà đánh con chim cu phussa Puṇṇamukha của chúng ta. Mong rằng con chim cu phussa Puṇṇamukha này không va chạm vào bụi cây, hay dây leo, hay cây cối, hay cành cây, hay cột trụ, hay đá, hay những con chim mạnh hơn.’
Paññāsa dijakaññāyo pacchato pacchato uḍḍenti saṇhāhi sakhilāhi mañjūhi madhurāhi vācāhi samudācarantiyo – ‘‘māyaṃ puṇṇamukho phussakokilo āsane pariyukkaṇṭhī’’ti.
Fifty female birds flew behind, conversing with soft, friendly, pleasant, and sweet words, thinking: ‘May this Phussa cuckoo named Puṇṇamukha not become weary in his seat.’
Năm mươi con chim mái bay ở phía sau, nói chuyện với những lời lẽ nhẹ nhàng, thân mật, dễ thương, và ngọt ngào, với ý nghĩ rằng: ‘Mong rằng con chim cu phussa Puṇṇamukha này không cảm thấy buồn chán ở chỗ ngồi.’
Paññāsa dijakaññāyo disodisaṃ uḍḍenti anekarukkhavividhavikatiphalamāharantiyo – ‘‘māyaṃ puṇṇamukho phussakokilo khudāya parikilamitthā’’ti.
Fifty female birds flew in all directions, bringing various kinds of fruits from many trees, thinking: ‘May this Phussa cuckoo named Puṇṇamukha not be afflicted by hunger.’
Năm mươi con chim mái bay đi các hướng, mang về nhiều loại trái cây khác nhau từ vô số cây cối, với ý nghĩ rằng: ‘Mong rằng con chim cu phussa Puṇṇamukha này không bị mệt mỏi vì đói.’
Atha khalu, bho, tā dijakaññāyo taṃ puṇṇamukhaṃ phussakokilaṃ ārāmeneva ārāmaṃ uyyāneneva uyyānaṃ nadītittheneva nadītitthaṃ pabbatasikhareneva pabbatasikharaṃ ambavaneneva ambavanaṃ jambuvaneneva jambuvanaṃ labujavaneneva labujavanaṃ nāḷikerasañcāriyeneva nāḷikerasañcāriyaṃ khippameva abhisambhonti ratitthāya.
Then, indeed, O monks, those female birds quickly conveyed that Phussa cuckoo named Puṇṇamukha from park to park, from garden to garden, from river ford to river ford, from mountain peak to mountain peak, from mango grove to mango grove, from rose-apple grove to rose-apple grove, from breadfruit grove to breadfruit grove, from coconut grove to coconut grove, for the sake of pleasure.
Rồi, này chư Tỳ khưu, quả thật, những con chim mái ấy nhanh chóng đưa con chim cu phussa Puṇṇamukha ấy đi từ công viên này đến công viên khác, từ khu vườn này đến khu vườn khác, từ bến sông này đến bến sông khác, từ đỉnh núi này đến đỉnh núi khác, từ rừng xoài này đến rừng xoài khác, từ rừng trâm này đến rừng trâm khác, từ rừng mít này đến rừng mít khác, từ rặng dừa này đến rặng dừa khác, để cho nó được vui thú.
Atha khalu, bho, puṇṇamukho phussakokilo tāhi dijakaññāhi divasaṃ paribyūḷho evaṃ pasaṃsati – ‘‘sādhu, sādhu, bhaginiyo, etaṃ kho, bhaginiyo, tumhākaṃ patirūpaṃ kuladhītānaṃ, yaṃ tumhe bhattāraṃ paricareyyāthā’’ti.
Then, indeed, O monks, the Phussa cuckoo named Puṇṇamukha, being attended upon by those female birds all day, praised them thus: ‘Excellent, excellent, sisters! This, sisters, is fitting for you, daughters of good family, that you should attend upon your husband.’
Rồi, này chư Tỳ khưu, quả thật, con chim cu phussa Puṇṇamukha, được những con chim mái ấy vây quanh suốt ngày, đã tán dương như vầy: ‘Lành thay, lành thay, các chị em! Này các chị em, điều này quả là xứng đáng với các chị em, những người con gái nhà lành, rằng các chị em nên chăm sóc cho chồng của mình.’
Atha khalu, bho, puṇṇamukho phussakokilo yena kuṇālo sakuṇo tenupasaṅkami. Addasaṃsu kho kuṇālassa sakuṇassa paricārikā dijakaññāyo taṃ puṇṇamukhaṃ phussakokilaṃ dūratova āgacchantaṃ; disvāna yena puṇṇamukho phussakokilo tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā taṃ puṇṇamukhaṃ phussakokilaṃ etadavocuṃ – ‘‘ayaṃ, samma puṇṇamukha, kuṇālo sakuṇo ativiya pharuso ativiya pharusavāco, appevanāma tavampi āgamma piyavācaṃ labheyyāmā’’ti. ‘‘Appevanāma, bhaginiyo’’ti vatvā yena kuṇālo sakuṇo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā kuṇālena sakuṇena saddhiṃ paṭisammoditvā ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinno kho puṇṇamukho phussakokilo taṃ kuṇālaṃ sakuṇaṃ etadavoca – ‘‘kissa tvaṃ, samma kuṇāla, itthīnaṃ sujātānaṃ kuladhītānaṃ sammāpaṭipannānaṃ micchāpaṭipanno’si †? Amanāpabhāṇīnampi kira, samma kuṇāla, itthīnaṃ manāpabhāṇinā bhavitabbaṃ, kimaṅga pana manāpabhāṇīna’’nti!
Then, O monks, the Phussa cuckoo named Puṇṇamukha approached the Kuṇāla bird. The attendant female birds of the Kuṇāla bird saw the Phussa cuckoo named Puṇṇamukha coming from afar. Having seen him, they approached the Phussa cuckoo named Puṇṇamukha and said this: ‘Friend Puṇṇamukha, this Kuṇāla bird is extremely harsh and speaks very roughly. Perhaps on your account we might receive a kind word.’ ‘Perhaps, sisters,’ he said, and approached the Kuṇāla bird. Having approached and exchanged friendly greetings with the Kuṇāla bird, he sat down to one side. Seated to one side, the Phussa cuckoo named Puṇṇamukha said this to the Kuṇāla bird: ‘Why, friend Kuṇāla, are you wrongly disposed towards women who are of good birth, daughters of good family, and well-conducted? It is said, friend Kuṇāla, that one should speak pleasantly even to women who speak unpleasantly, how much more so to those who speak pleasantly!’
Rồi, này chư Tỳ khưu, quả thật, con chim cu phussa Puṇṇamukha đã đi đến chỗ con chim Kuṇāla. Các con chim mái thị nữ của chim Kuṇāla đã nhìn thấy con chim cu phussa Puṇṇamukha ấy đang đi đến từ xa; sau khi thấy, chúng đã đi đến chỗ con chim cu phussa Puṇṇamukha; sau khi đến, chúng đã nói với con chim cu phussa Puṇṇamukha ấy điều này: ‘Này bạn Puṇṇamukha, con chim Kuṇāla này rất thô lỗ, lời nói rất cộc cằn, biết đâu nhờ bạn mà chúng tôi có thể được nghe lời nói dễ thương.’ Sau khi nói: ‘Biết đâu được, các chị em,’ nó đã đi đến chỗ con chim Kuṇāla; sau khi đến, nó đã trao đổi lời chào hỏi thân mật với chim Kuṇāla rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, con chim cu phussa Puṇṇamukha đã nói với con chim Kuṇāla ấy điều này: ‘Tại sao, này bạn Kuṇāla, bạn lại có hành vi sai trái đối với những người nữ có dòng dõi tốt, con gái nhà lành, và có hạnh kiểm tốt đẹp? Này bạn Kuṇāla, nghe nói rằng người ta nên nói lời dễ thương ngay cả với những người nữ nói lời không dễ thương, huống hồ là với những người nói lời dễ thương!’
Evaṃ vutte, kuṇālo sakuṇo taṃ puṇṇamukhaṃ phussakokilaṃ evaṃ apasādesi – ‘‘nassa tvaṃ, samma jamma vasala, vinassa tvaṃ, samma jamma vasala, ko nu tayā viyatto jāyājinenā’’ti. Evaṃ apasādito ca pana puṇṇamukho phussakokilo tatoyeva † paṭinivatti.
When this was said, the Kuṇāla bird rebuked that Phussa cuckoo named Puṇṇamukha thus: ‘Be gone, you wretch, you outcast! Perish, you wretch, you outcast! Who is as clever as you, conquered by your wife?’ And being thus rebuked, the Phussa cuckoo named Puṇṇamukha turned back from that very spot.
Khi được nói như vậy, con chim Kuṇāla đã xua đuổi con chim cu phussa Puṇṇamukha ấy như vầy: ‘Hãy cút đi, hỡi tên khốn hạ tiện! Hãy biến đi, hỡi tên khốn hạ tiện! Có ai khôn ngoan như ngươi, kẻ bị vợ chinh phục chứ?’ Bị xua đuổi như vậy, con chim cu phussa Puṇṇamukha đã quay trở về ngay từ nơi đó.
Atha khalu, bho, puṇṇamukhassa phussakokilassa aparena samayena nacirasseva † kharo ābādho uppajji lohitapakkhandikā. Bāḷhā vedanā vattanti māraṇantikā †. Atha khalu, bho, puṇṇamukhassa phussakokilassa paricārikānaṃ dijakaññānaṃ etadahosi – ‘‘ābādhiko kho ayaṃ puṇṇamukho phussakokilo, appevanāma imamhā ābādhā vuṭṭhaheyyā’’ti ekaṃ adutiyaṃ ohāya yena kuṇālo sakuṇo tenupasaṅkamiṃsu. Addasā kho kuṇālo sakuṇo tā dijakaññāyo dūratova āgacchantiyo, disvāna tā dijakaññāyo etadavoca – ‘‘kahaṃ pana tumhaṃ vasaliyo bhattā’’ti? ‘‘Ābādhiko kho, samma kuṇāla, puṇṇamukho phussakokilo appevanāma tamhā ābādhā vuṭṭhaheyyā’’ti. Evaṃ vutte, kuṇālo sakuṇo tā dijakaññāyo evaṃ apasādesi – ‘‘nassatha tumhe vasaliyo, vinassatha tumhe vasaliyo, coriyo dhuttiyo asatiyo lahucittāyo katassa appaṭikārikāyo anilo viya yenakāmaṃgamāyo’’ti; vatvā yena puṇṇamukho phussakokilo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṃ puṇṇamukhaṃ phussakokilaṃ etadavoca – ‘‘haṃ, samma, puṇṇamukhā’’ti. ‘‘Haṃ, samma, kuṇālā’’ti.
Then, O monks, after some time, not long after, a severe illness arose for the Phussa cuckoo named Puṇṇamukha: dysentery. Strong, deathly pains occurred. Then, O monks, it occurred to the attendant female birds of the Phussa cuckoo named Puṇṇamukha: ‘This Phussa cuckoo named Puṇṇamukha is ill; perhaps he might recover from this illness.’ Leaving him alone and without a companion, they approached the Kuṇāla bird. The Kuṇāla bird saw those female birds coming from afar, and having seen them, said this to them: ‘Where, you wretches, is your husband?’ ‘Friend Kuṇāla, the Phussa cuckoo named Puṇṇamukha is ill; perhaps he might recover from that illness.’ When this was said, the Kuṇāla bird rebuked those female birds thus: ‘Be gone, you wretches! Perish, you wretches! You thieves, you rogues, you faithless, fickle-minded ones, ungrateful for what has been done, going wherever you please like the wind!’ Having said this, he approached the Phussa cuckoo named Puṇṇamukha. Having approached, he said to the Phussa cuckoo named Puṇṇamukha: ‘Well, friend Puṇṇamukha?’ ‘Well, friend Kuṇāla?’
Này các Tỳ khưu, rồi thì không lâu sau đó, một căn bệnh nặng, bệnh lỵ ra máu, đã phát sanh đến cho chim cu Phussakokila tên Puṇṇamukha. Những cảm thọ đau đớn, dữ dội, gần chết khởi lên. Này các Tỳ khưu, rồi thì các nàng chim mái, là những người hầu cận của chim cu Phussakokila tên Puṇṇamukha, đã có ý nghĩ này: ‘Chim cu Phussakokila tên Puṇṇamukha này quả thật đang bị bệnh, biết đâu chừng nó không qua khỏi được căn bệnh này.’ (Nghĩ vậy), họ đã bỏ lại nó một mình, không người bạn đồng hành, và đã đi đến nơi có chim Kuṇāla. Chim Kuṇāla đã thấy các nàng chim mái ấy đang đi đến từ xa. Thấy vậy, đã nói với các nàng chim mái ấy lời này: ‘Này các tiện nữ, chồng của các ngươi đâu rồi?’ ‘Thưa hiền giả Kuṇāla, chim cu Phussakokila tên Puṇṇamukha quả thật đang bị bệnh, biết đâu chừng nó không qua khỏi được căn bệnh ấy.’ Khi được nói vậy, chim Kuṇāla đã quở trách các nàng chim mái ấy như vầy: ‘Hãy cút đi, các tiện nữ! Hãy biến đi, các tiện nữ! Các ngươi là những kẻ trộm cắp, những kẻ lừa đảo, những kẻ không chánh niệm, những kẻ có tâm ý nhẹ dạ, những kẻ không biết đền ơn đáp nghĩa, những kẻ đi đến bất cứ đâu tùy thích như là gió.’ Nói xong, nó đã đi đến nơi có chim cu Phussakokila tên Puṇṇamukha; đến nơi, đã nói với chim cu Phussakokila tên Puṇṇamukha ấy lời này: ‘Này hiền giả Puṇṇamukha, bạn còn sống chứ?’ ‘Này hiền giả Kuṇāla, tôi còn sống.’
Atha khalu, bho kuṇālo sakuṇo taṃ puṇṇamukhaṃ phussakokilaṃ pakkhehi ca mukhatuṇḍakena ca pariggahetvā vuṭṭhāpetvā nānābhesajjāni pāyāpesi. Atha khalu, bho, puṇṇamukhassa phussakokilassa so ābādho paṭippassambhīti. Atha khalu, bho, kuṇālo sakuṇo taṃ puṇṇamukhaṃ phussakokilaṃ gilānavuṭṭhitaṃ † aciravuṭṭhitaṃ gelaññā etadavoca –
Then, O monks, the Kuṇāla bird, having embraced that Phussa cuckoo named Puṇṇamukha with his wings and beak, helped him up and had him drink various medicines. Then, O monks, that illness of the Phussa cuckoo named Puṇṇamukha subsided. Then, O monks, the Kuṇāla bird said this to that Phussa cuckoo named Puṇṇamukha, who had recovered from sickness, recently recovered from his affliction:
Này các Tỳ khưu, rồi thì chim Kuṇāla đã ôm lấy chim cu Phussakokila tên Puṇṇamukha ấy bằng đôi cánh và mỏ, đỡ dậy, và cho uống nhiều loại thuốc khác nhau. Này các Tỳ khưu, rồi thì căn bệnh ấy của chim cu Phussakokila tên Puṇṇamukha đã được lắng dịu. Này các Tỳ khưu, rồi thì chim Kuṇāla đã nói với chim cu Phussakokila tên Puṇṇamukha ấy, người vừa mới khỏi bệnh, vừa mới bình phục sau cơn đau, lời này:
‘‘Diṭṭhā mayā, samma puṇṇamukha, kaṇhā dvepitikā pañcapatikāya chaṭṭhe purise cittaṃ paṭibandhantiyā, yadidaṃ kabandhe † pīṭhasappimhīti. Bhavati ca panuttarettha † vākyaṃ –
‘I have seen, friend Puṇṇamukha, Kaṇhā, who had two fathers and five husbands, setting her heart on a sixth man, that is, on a headless trunk, a cripple. And on this matter, there is this supreme saying:
‘Này hiền giả Puṇṇamukha, tôi đã thấy nàng Kaṇhā, người có hai cha và năm chồng, đã đem lòng quyến luyến người đàn ông thứ sáu, đó là người gù lưng, thân hình không cân đối. Và về điều này, có câu kệ vô song sau đây:
290.
290.
290.
‘‘Athajjuno nakulo bhīmaseno †, yudhiṭṭhilo sahadevo † ca rājā;
Ete patī pañca matticca nārī, akāsi khujjavāmanakena † pāpa’’nti.
‘Then Arjuna, Nakula, Bhīmasena, Yudhiṭṭhila, and King Sahadeva—transgressing these five husbands, the woman committed an evil deed with a hunchbacked dwarf.’
‘Ajjuna, Nakula, Bhīmasena, Yudhiṭṭhila, và vua Sahadeva; người phụ nữ ấy đã vượt qua năm người chồng này, và đã làm điều ác với một người gù và lùn.’
‘‘Diṭṭhā mayā, samma puṇṇamukha, saccatapāpī † nāma samaṇī susānamajjhe vasantī catutthabhattaṃ pariṇāmayamānā surādhuttakena † pāpamakāsi.
‘I have seen, friend Puṇṇamukha, a female ascetic named Saccatapā, living in the middle of a charnel ground. While subsisting on a meal every fourth day, she committed an evil deed with a drunkard.’
‘Này hiền giả Puṇṇamukha, tôi đã thấy một nữ tu tên Saccatapāpī, sống giữa nghĩa địa, đang trải qua ngày thứ tư nhịn ăn, đã làm điều ác với một kẻ nghiện rượu.
‘‘Diṭṭhā mayā, samma puṇṇamukha, kākavatī † nāma devī samuddamajjhe vasantī bhariyā venateyyassa naṭakuverena pāpamakāsi.
‘I have seen, friend Puṇṇamukha, the queen named Kākavatī, dwelling in the middle of the ocean. The wife of Venateyya, she committed an evil deed with the dancer Kuvera.’
‘Này hiền giả Puṇṇamukha, tôi đã thấy hoàng hậu tên Kākvatī, sống giữa đại dương, là vợ của Venateyya, đã làm điều ác với Naṭakuvera.
Diṭṭhā mayā, samma puṇṇamukha, kuruṅgadevī † nāma lomasuddarī † eḷikakumāraṃ † kāmayamānā chaḷaṅgakumāradhanantevāsinā pāpamakāsi.
‘I have seen, friend Puṇṇamukha, the doe-queen named Kuruṅgadevī, with her beautiful fleece. Desiring the ram-prince, she committed an evil deed with Dhanantevāsin, the disciple of Prince Chaḷaṅga.’
‘Này hiền giả Puṇṇamukha, tôi đã thấy công chúa tên Kuruṅgadevī, người có làn da mịn màng, trong khi đang yêu hoàng tử Eḷika, đã làm điều ác với Dhanantevāsin, học trò của Chaḷaṅgakumāra.
Evañhetaṃ mayā ñātaṃ, brahmadattassa mātaraṃ † ohāya kosalarājaṃ pañcālacaṇḍena pāpamakāsi.
Thus have I known this: Brahmadatta’s mother, having abandoned the Kosala king, committed a wicked act with Pañcālacaṇḍa.
‘Tôi cũng đã biết điều này như vậy: mẹ của vua Brahmadatta, sau khi từ bỏ vua Kosala, đã làm điều ác với Pañcālacaṇḍa.
291.
291.
291.
‘‘Etā ca aññā ca akaṃsu pāpaṃ, tasmāhamitthīnaṃ na vissase nappasaṃse;
Mahī yathā jagati samānarattā, vasundharā itarītarāpatiṭṭhā †;
Sabbasahā aphandanā akuppā, tathitthiyo tāyo na vissase naro.
These and others have committed wicked acts; therefore, I neither trust nor praise women. Just as the earth, the world, is impartial, the bearer of wealth, a foundation for the high and the low, all-enduring, unshakeable, and imperturbable—so too are women. Therefore, a man should not trust them.
‘Những người này và những người khác đã làm điều ác, vì thế ta không tin tưởng, không tán dương phụ nữ. Giống như đất (Mahī), nơi nương tựa của chúng sanh (jagati), có cùng một sự quyến luyến (samānarattā), nơi chứa đựng kho báu (vasundharā), nơi trú ngụ của cả người cao quý và thấp hèn; chịu đựng tất cả, không lay chuyển, không tức giận, cũng vậy là phụ nữ, người đàn ông không nên tin tưởng họ.
292.
292.
292.
‘‘Sīho yathā lohitamaṃsabhojano, vāḷamigo pañcāvudho † suruddho;
Pasayhakhādī parahiṃsane rato, tathitthiyo tāyo na vissase naro.
Just as a lion that feeds on blood and flesh, a fierce beast armed with five weapons, exceedingly ferocious, one that devours by force, delighting in harming others—so too are women. Therefore, a man should not trust them.
‘Giống như sư tử, loài ăn thịt và máu, một con thú hoang dã có năm vũ khí, rất hung dữ; kẻ ăn bằng vũ lực, thích làm hại kẻ khác, cũng vậy là phụ nữ, người đàn ông không nên tin tưởng họ.
‘‘Na khalu †, samma puṇṇamukha, vesiyo nāriyo gamaniyo, na hetā bandhakiyo nāma, vadhikāyo nāma etāyo, yadidaṃ vesiyo nāriyo gamaniyo’’ti.
Indeed, friend Puṇṇamukha, they are not merely courtesans, women, or gadabouts, nor are they simply called unchaste; in truth, they are called murderesses—these who are known as courtesans, women, and gadabouts.
‘Này hiền giả Puṇṇamukha, quả thật họ không được gọi là Vesī, Nārī, Gamanī, hay Bandhakī; họ được gọi là những kẻ sát nhân, tức là những người (được gọi là) Vesī, Nārī, Gamanī.’
‘‘Coro † viya veṇikatā, madirāva † diddhā † vāṇijo † viya vācāsanthutiyo, issasiṅghamiva viparivattāyo †, uragāmiva dujivhāyo, sobbhamiva paṭicchannā, pātālamiva duppūrā rakkhasī viya duttosā, yamovekantahāriyo, sikhīriva sabbabhakkhā, nadīriva sabbavāhī, anilo viya yenakāmaṃcarā, neru viya avisesakarā, visarukkho viya niccaphalitāyo’’ti. Bhavati ca panuttarettha vākyaṃ –
Like thieves with braided hair, like poisoned liquor, like merchants with flattering words, as quick to change as a bear is swift, like snakes they are double-tongued, like a concealed pit, like the abyss they are hard to fill, like a demoness they are hard to satisfy, like Yama they surely take all, like fire they are all-devouring, like a river they carry all away, like the wind they go where they please, like Mount Neru they make no distinction, like a poison tree they are ever-fruiting. And here, moreover, is a further verse:
‘Giống như kẻ trộm, họ bện tóc; giống như rượu độc; giống như thương nhân, họ tán dương bằng lời nói; giống như con gấu, họ thay đổi nhanh chóng; giống như loài rắn, họ có hai lưỡi; giống như hố phân, họ được che đậy; giống như vực thẳm, họ khó được lấp đầy; giống như nữ quỷ, họ khó làm hài lòng; giống như thần chết, họ chắc chắn sẽ mang đi; giống như lửa, họ thiêu đốt tất cả; giống như sông, họ cuốn trôi tất cả; giống như gió, họ đi đến bất cứ đâu tùy thích; giống như núi Neru, họ không phân biệt; giống như cây độc, họ luôn luôn ra quả.’ Và về điều này, có câu kệ vô song sau đây:
293.
293.
293.
‘‘Yathā coro yathā diddho, vāṇijova vikatthanī;
Issasiṅghamiva parivattā †, dujivhā † urago viya.
Like a thief, like poisoned liquor, like a merchant who boasts; as quick to change as a bear is swift, double-tongued like a snake.
‘Giống như kẻ trộm, giống như (rượu) độc, giống như thương nhân, khoe khoang; giống như gấu, thay đổi nhanh chóng, giống như rắn, có hai lưỡi.
294.
294.
294.
‘‘Sobbhamiva paṭicchannā, pātālamiva duppurā;
Rakkhasī viya duttosā, yamovekantahāriyo.
Like a concealed pit, hard to fill as the netherworld, like a demoness hard to satisfy, like Yama who surely takes all away.
‘Giống như hố phân, được che đậy, giống như vực thẳm, khó lấp đầy; giống như nữ quỷ, khó làm hài lòng, giống như thần chết, chắc chắn mang đi.
295.
295.
295.
†
Just as fire (spreads), a river's current, And wind moves freely; And like Mount Meru, there is no distinction, And like a poison tree, (always) bearing fruit; They destroy wealth in the house, A woman who brings endless jewels.
‘‘Yathā sikhī nadī vāto, nerunāva samāgatā.
Like fire, a river, and the wind, they are indiscriminate like Mount Neru.
‘Giống như lửa, sông, gió, họ cũng giống như núi Neru.
Visarukkho viya niccaphalā, nāsayanti ghare bhogaṃ;
Ratanantakaritthiyo’’ti †.
Like a poison tree ever-fruiting, they destroy the wealth in the home; women are the destroyers of treasures.
‘Giống như cây độc, luôn ra quả, họ phá hủy tài sản trong nhà; phụ nữ là những kẻ hủy hoại châu báu.’
‘‘Cattārimāni, samma puṇṇamukha, yāni (vatthūni kicce jāte anatthacarāni bhavanti; tāni) † parakule na vāsetabbāni – goṇaṃ dhenuṃ yānaṃ bhariyā. Cattāri etāni paṇḍito dhanāni † gharā na vippavāsaye.
These four things, friend Puṇṇamukha, should not be allowed to dwell in another’s household: a bull, a milch cow, a vehicle, and a wife. A wise person should not let these four possessions be away from home.
‘Này hiền giả Puṇṇamukha, có bốn điều này, khi có việc cần, chúng trở nên bất lợi; không nên để chúng ở nhà người khác: bò đực, bò cái, xe cộ, và vợ. Người trí không nên để bốn tài sản này xa nhà.
296.
296.
296.
‘Goṇaṃ dhenuñca yānañca, bhariyaṃ ñātikule na vāsaye;
Bhañjanti rathaṃ ayānakā, ativāhena hananti puṅgavaṃ;
Dohena hananti vacchakaṃ, bhariyā ñātikule padussatī’’’ti.
One should not let an ox, a milch cow, a vehicle, or a wife dwell in the household of relatives. Unskilled drivers break a cart; by overloading they kill a bull; by over-milking they harm the calf; and a wife in the household of relatives becomes corrupted.
‘Bò đực, bò cái, và xe cộ, không nên để ở nhà người khác, và không nên để vợ ở nhà bà con; những người không có xe sẽ làm hỏng xe, họ làm hại con bò đực vì bắt nó kéo quá nặng; họ làm hại con bê vì vắt sữa (quá nhiều), và vợ ở nhà bà con sẽ bị hư hỏng.’
‘‘Cha imāni, samma puṇṇamukha, yāni (vatthūni) † kicce jāte anatthacarāni bhavanti –
These six things, friend Puṇṇamukha, when a need arises, become sources of misfortune—
‘Này hiền giả Puṇṇamukha, có sáu điều này, khi có việc cần, chúng trở nên bất lợi:
297.
297.
297.
‘Aguṇaṃ dhanu ñātikule ca bhariyā, pāraṃ nāvā akkhabhaggañca yānaṃ;
Dūre mitto pāpasahāyako ca, kicce jāte anatthacarāni bhava’’’nti.
A bow without a string, a wife in the household of relatives, a boat on the far shore, a vehicle with a broken axle, a distant friend, and an evil companion—when a need arises, these become sources of misfortune.
‘Cây cung không có dây, vợ ở nhà bà con, thuyền ở bờ bên kia, xe bị gãy trục; bạn ở xa, và bạn xấu; sáu điều này, khi có việc cần, chúng trở nên bất lợi.’
‘‘Aṭṭhahi khalu, samma puṇṇamukha, ṭhānehi itthī sāmikaṃ avajānāti. Daliddatā, āturatā, jiṇṇatā, surāsoṇḍatā, muddhatā, pamattatā, sabbakiccesu anuvattanatā, sabbadhanaanuppadānena – imehi khalu, samma puṇṇamukha, aṭṭhahi ṭhānehi itthī sāmikaṃ avajānāti. Bhavati ca panuttarettha vākyaṃ –
Indeed, friend Puṇṇamukha, a woman despises her husband for eight reasons: because he is poor, sick, old, a drunkard, foolish, or negligent; because of his compliance to her in all matters; and because he gives her all his wealth. For these eight reasons, friend Puṇṇamukha, a woman despises her husband. And here, moreover, is a further verse:
“Này bạn Puṇṇamukha, thật vậy, do tám trường hợp mà người phụ nữ coi thường chồng. Do nghèo khó, do bệnh tật, do già nua, do nghiện rượu, do ngu si, do say sưa, do chiều theo trong mọi công việc, do cho tất cả tài sản – này bạn Puṇṇamukha, thật vậy, do tám trường hợp này mà người phụ nữ coi thường chồng. Và lại nữa, có câu kệ cao thượng về điều này:”
298.
298.
298.
‘Daliddaṃ āturañcāpi, jiṇṇakaṃ surasoṇḍakaṃ;
Pamattaṃ muddhapattañca, sabbakiccesu † hāpanaṃ;
Sabbakāmappadānena †, avajānāti † sāmika’’’nti.
She despises her husband if he is poor, sick, old, a drunkard, negligent, or has become foolish; if he neglects his duties in all matters, and by his giving of all she desires.
“‘(Người vợ) coi thường chồng mình, khi người ấy nghèo khó, bệnh tật, già nua, nghiện rượu; say sưa và trở nên ngu si, bỏ bê mọi công việc; và do cho tất cả những gì (vợ) muốn.’”
‘‘Navahi khalu, samma puṇṇamukha, ṭhānehi itthī padosamāharati. Ārāmagamanasīlā ca hoti, uyyānagamanasīlā ca hoti, nadītitthagamanasīlā ca hoti, ñātikulagamanasīlā ca hoti, parakulagamanasīlā ca hoti, ādāsadussamaṇḍanānuyogamanuyuttasīlā ca hoti, majjapāyinī ca hoti, nillokanasīlā ca hoti, sadvāraṭhāyinī † ca hoti – imehi khalu, samma puṇṇamukha, navahi ṭhānehi itthī padosamāharatīti. Bhavati ca panuttarettha vākyaṃ –
Indeed, friend Puṇṇamukha, a woman brings about corruption through nine reasons. She is disposed to visiting pleasure gardens, disposed to visiting parks, disposed to visiting riverbanks, disposed to visiting the households of relatives, disposed to visiting the households of others, disposed to being devoted to adorning herself with mirrors and fine clothes, she is a drinker of intoxicants, she is disposed to gazing about, and she is disposed to standing at the doorway—indeed, friend Puṇṇamukha, a woman brings about corruption through these nine reasons. And here, moreover, is a further verse:
“Này bạn Puṇṇamukha, thật vậy, do chín trường hợp mà người phụ nữ mang đến lỗi lầm. Nàng có thói quen đi đến các tịnh xá, có thói quen đi đến các công viên, có thói quen đi đến các bến sông, có thói quen đi đến nhà bà con, có thói quen đi đến nhà người khác, có thói quen chuyên tâm vào việc soi gương, trang điểm y phục và trang sức, là người uống rượu, có thói quen nhìn ngó ra ngoài, và có thói quen đứng ở cửa – này bạn Puṇṇamukha, thật vậy, do chín trường hợp này mà người phụ nữ mang đến lỗi lầm. Và lại nữa, có câu kệ cao thượng về điều này:”
299.
299.
299.
‘Ārāmasīlā ca † uyyānaṃ, nadī ñāti parakulaṃ;
Ādāsadussamaṇḍanamanuyuttā, yā citthī majjapāyinī.
The woman who is disposed to visiting pleasure gardens, parks, rivers, relatives, and other families; who is devoted to adorning herself with mirrors and fine clothes; and who is a drinker of intoxicants;
“‘Người có thói quen đến tịnh xá và công viên, bến sông, nhà bà con, nhà người khác; người chuyên tâm soi gương, trang điểm y phục và trang sức, và người phụ nữ nào uống rượu.”
300.
300.
300.
‘Yā ca nillokanasīlā, yā ca sadvāraṭhāyinī;
Navahetehi ṭhānehi, padosamāharanti itthiyo’’’ti.
...and she who is disposed to gazing about, and she who is disposed to standing at the doorway—by these nine reasons, women bring about corruption.
“‘Và người nào có thói quen nhìn ngó, và người nào có thói quen đứng ở cửa; do chín trường hợp này, những người phụ nữ mang đến lỗi lầm.’”
‘‘Cattālīsāya † khalu, samma puṇṇamukha, ṭhānehi itthī purisaṃ accācarati †. Vijambhati, vinamati, vilasati, vilajjati, nakhena nakhaṃ ghaṭṭeti, pādena pādaṃ akkamati, kaṭṭhena pathaviṃ vilikhati †, dārakaṃ ullaṅghati ullaṅghāpeti †, kīḷati kīḷāpeti, cumbati cumbāpeti, bhuñjati bhuñjāpeti, dadāti, yācati, katamanukaroti, uccaṃ bhāsati, nīcaṃ bhāsati, aviccaṃ bhāsati, viviccaṃ bhāsati, naccena gītena vāditena rodanena † vilasitena vibhūsitena jagghati, pekkhati, kaṭiṃ cāleti, guyhabhaṇḍakaṃ sañcāleti, ūruṃ vivarati, ūruṃ pidahati, thanaṃ dasseti, kacchaṃ dasseti, nābhiṃ dasseti, akkhiṃ nikhanati, bhamukaṃ ukkhipati, oṭṭhaṃ upalikhati †, jivhaṃ nillāleti, dussaṃ muñcati, dussaṃ paṭibandhati, sirasaṃ muñcati, sirasaṃ bandhati – imehi khalu, samma puṇṇamukha, cattālīsāya ṭhānehi itthī purisaṃ accācarati.
Indeed, friend Puṇṇamukha, a woman transgresses against a man in forty ways: she yawns, she bends down, she acts gracefully, she feigns shyness, she scrapes one nail with another, she steps on his foot with her foot, she scratches the ground with a stick, she lifts up a child or has one lifted up, she plays or has one play, she kisses or has one kissed, she eats or has one eat, she gives, she asks, she imitates what is done, she speaks loudly, she speaks softly, she speaks openly, she speaks in private, she laughs with dancing, singing, music, weeping, gracefulness, or adornment, she gazes, she sways her hips, she moves her private parts, she exposes her thigh, she covers her thigh, she shows her breast, she shows her armpit, she shows her navel, she winks her eye, she raises her eyebrows, she licks her lip, she puts out her tongue, she loosens her garment, she fastens her garment, she undoes her hair, she ties up her hair—indeed, friend Puṇṇamukha, in these forty ways a woman transgresses against a man.
“Này bạn Puṇṇamukha, thật vậy, do bốn mươi trường hợp mà người phụ nữ ngoại tình với người đàn ông. Nàng vươn vai, uốn mình, làm duyên, làm bộ e thẹn, lấy móng tay cọ vào móng tay, lấy chân dẫm lên chân, lấy que củi vạch xuống đất, nâng đứa trẻ lên rồi bảo người khác nâng lên, chơi đùa rồi bảo người khác chơi đùa, hôn rồi bảo người khác hôn, ăn rồi bảo người khác ăn, cho, xin, bắt chước hành động đã làm, nói lớn tiếng, nói nhỏ tiếng, nói công khai, nói riêng tư, cười lớn tiếng qua điệu múa, bài hát, tiếng nhạc, tiếng khóc, dáng vẻ làm duyên, sự trang điểm, nhìn chằm chằm, lắc hông, lay động bộ phận kín, mở đùi ra, khép đùi lại, để lộ ngực, để lộ nách, để lộ rốn, nháy mắt, nhướn mày, liếm môi, thè lưỡi, cởi y phục, mặc lại y phục, xõa tóc, búi tóc – này bạn Puṇṇamukha, thật vậy, do bốn mươi trường hợp này mà người phụ nữ ngoại tình với người đàn ông.”
‘‘Pañcavīsāya † khalu, samma puṇṇamukha, ṭhānehi itthī paduṭṭhā veditabbā bhavati. Sāmikassa pavāsaṃ vaṇṇeti, pavuṭṭhaṃ na sarati, āgataṃ nābhinandati, avaṇṇaṃ tassa bhaṇati, vaṇṇaṃ tassa na bhaṇati, anatthaṃ tassa carati, atthaṃ tassa na carati, akiccaṃ tassa karoti, kiccaṃ tassa na karoti, paridahitvā sayati, parammukhī nipajjati, parivattakajātā kho pana hoti kuṅkumiyajātā, dīghaṃ assasati, dukkhaṃ vedayati, uccārapassāvaṃ abhiṇhaṃ gacchati, vilomamācarati, parapurisasaddaṃ sutvā kaṇṇasotaṃ vivaramodahati †, nihatabhogā kho pana hoti, paṭivissakehi santhavaṃ karoti, nikkhantapādā kho pana hoti, visikhānucārinī aticārinī kho pana hoti, niccaṃ † sāmike agāravā paduṭṭhamanasaṅkappā, abhiṇhaṃ dvāre tiṭṭhati, kacchāni aṅgāni thanāni dasseti, disodisaṃ gantvā pekkhati – imehi khalu, samma puṇṇamukha, pañcavīsāya † ṭhānehi itthī paduṭṭhā veditabbā bhavati. Bhavati ca panuttarettha vākyaṃ –
Indeed, friend Puṇṇamukha, a corrupted woman is to be known by twenty-five signs. She praises her husband’s absence, does not remember him when he is away, does not rejoice when he returns, speaks ill of him, does not speak well of him, acts against his welfare, does not act for his welfare, does what ought not be done for him, does not do what ought to be done for him, sleeps fully clothed, lies down facing away from him, is restless and fidgety, sighs deeply, feels distressed, frequently goes to relieve herself, behaves perversely, opens her ear and listens intently upon hearing another man's voice, is a squanderer of wealth, makes friends with the neighbors, is always going out, roams the streets, is unfaithful, is constantly disrespectful to her husband, has corrupt thoughts and intentions, frequently stands at the door, exposes her armpits, limbs, and breasts, and goes about looking in all directions—indeed, friend Puṇṇamukha, by these twenty-five signs a corrupted woman is to be known. And here, moreover, is a further verse:
“Này bạn Puṇṇamukha, thật vậy, do hai mươi lăm trường hợp mà người phụ nữ hư hỏng cần được biết đến. Nàng tán dương việc chồng đi xa, không nhớ đến người chồng đang ở xa, không vui mừng khi chồng trở về, nói xấu người chồng ấy, không nói tốt về người chồng ấy, làm điều bất lợi cho người chồng ấy, không làm điều lợi ích cho người chồng ấy, làm việc không nên làm cho người chồng ấy, không làm việc nên làm cho người chồng ấy, mặc quần áo chỉnh tề rồi ngủ, nằm quay lưng lại, trở nên trằn trọc, bồn chồn, thở dài, cảm thấy đau khổ, thường xuyên đi đại tiểu tiện, hành xử trái ngược, nghe tiếng người đàn ông khác liền vểnh tai lắng nghe, trở thành người phá hoại tài sản, thân mật với những người hàng xóm (nam), trở thành người hay đi ra ngoài, hay đi lang thang ngoài đường, trở thành người ngoại tình, luôn không kính trọng chồng, có tâm ý và suy nghĩ xấu xa, thường xuyên đứng ở cửa, để lộ nách, các bộ phận cơ thể, và ngực, đi đây đó và nhìn ngó – này bạn Puṇṇamukha, thật vậy, do hai mươi lăm trường hợp này mà người phụ nữ hư hỏng cần được biết đến. Và lại nữa, có câu kệ cao thượng về điều này:”
301.
301.
301.
‘Pavāsaṃ tassa vaṇṇeti, gataṃ tassa na socati †;
Disvāna patimāgataṃ † nābhinandati;
Bhattāravaṇṇaṃ na kadāci bhāsati, ete paduṭṭhāya bhavanti lakkhaṇā.
She praises his absence, she does not grieve for him when he is gone; seeing her husband returned, she does not rejoice; she never speaks of her husband’s virtues—these are the signs of a corrupted woman.
“‘Nàng tán dương việc đi xa của chồng, không buồn rầu khi chồng đã đi; thấy chồng trở về, nàng không vui mừng; không bao giờ nói lời tán dương chồng, đó là những dấu hiệu của người vợ hư hỏng.”
302.
302.
302.
‘Anatthaṃ tassa carati asaññatā, atthañca hāpeti akiccakārinī;
Paridahitvā sayati parammukhī, ete paduṭṭhāya bhavanti lakkhaṇā.
Unrestrained, she acts against his welfare; doing what ought not be done, she diminishes his welfare; she sleeps fully clothed, lying with her back to him—these are the signs of a corrupted woman.
“‘Không tự chủ, nàng làm điều bất lợi cho chồng, và làm tổn hại lợi ích, là người làm việc không nên làm; mặc quần áo chỉnh tề, nàng nằm ngủ quay lưng lại, đó là những dấu hiệu của người vợ hư hỏng.”
303.
303.
303.
‘Parivattajātā ca † bhavati kuṅkumī, dīghañca assasati dukkhavedinī;
Uccārapassāvamabhiṇhaṃ gacchati, ete paduṭṭhāya bhavanti lakkhaṇā.
She becomes restless and fidgety; feeling distressed, she sighs deeply; she frequently goes to relieve herself of urine and feces—these are the signs of a corrupted woman.
“‘Nàng trở nên trằn trọc và bồn chồn, cảm thấy đau khổ và thở dài; thường xuyên đi đại tiểu tiện, đó là những dấu hiệu của người vợ hư hỏng.”
304.
304.
304.
‘‘Vilomamācarati akiccakārinī, saddaṃ nisāmeti parassa bhāsato;
Nihatabhogā ca karoti santhavaṃ, ete paduṭṭhāya bhavanti lakkhaṇā.
She engages in perverse conduct, doing what ought not to be done; she listens to the voice of another man speaking; she destroys wealth and forms intimacies. These are the signs of a corrupted woman.
“‘Nàng hành xử trái ngược, làm việc không nên làm, lắng nghe tiếng nói của người đàn ông khác; phá hoại tài sản và tạo sự thân mật (với người khác), đó là những dấu hiệu của người vợ hư hỏng.’”
305.
305.
305.
‘Kicchena laddhaṃ kasirābhataṃ † dhanaṃ, vittaṃ vināseti dukkhena sambhataṃ;
Paṭivissakehi ca karoti santhavaṃ, ete paduṭṭhāya bhavanti lakkhaṇā.
She destroys wealth acquired with difficulty, brought forth through hardship, and amassed with suffering; and she forms intimacies with neighbors. These are the signs of a corrupted woman.
“‘Nàng phá hoại tài sản có được một cách khó khăn, của cải mang về một cách cực nhọc, được tích lũy một cách khổ sở; và tạo sự thân mật với những người hàng xóm (nam), đó là những dấu hiệu của người vợ hư hỏng.”
306.
306.
306.
‘Nikkhantapādā visikhānucārinī, niccañca sāmimhi † paduṭṭhamānasā;
Aticārinī hoti apetagāravā †, ete paduṭṭhāya bhavanti lakkhaṇā.
Her feet are ever wandering, she roams the streets, her mind is constantly corrupted towards her husband; she is an adulteress and is devoid of respect. These are the signs of a corrupted woman.
“‘Nàng có chân hay đi ra ngoài, hay đi lang thang ngoài đường, và luôn có tâm ý xấu xa đối với chồng; trở thành người ngoại tình, thiếu sự kính trọng, đó là những dấu hiệu của người vợ hư hỏng.”
307.
307.
307.
‘Abhikkhaṇaṃ tiṭṭhati dvāramūle, thanāni kacchāni ca dassayantī;
Disodisaṃ pekkhati bhantacittā, ete paduṭṭhāya bhavanti lakkhaṇā.
She frequently stands at the doorway, revealing her breasts and armpits; with a wandering mind, she gazes in every direction. These are the signs of a corrupted woman.
“‘Nàng thường xuyên đứng ở cửa, để lộ ngực và nách; với tâm dao động, nàng nhìn ngó khắp nơi, đó là những dấu hiệu của người vợ hư hỏng.”
308.
308.
308.
‘Sabbā nadī vaṅkagatī †, sabbe kaṭṭhamayā vanā;
Sabbitthiyo kare pāpaṃ, labhamāne nivātake.
All rivers are winding; all forests are made of wood; all women would commit evil, should they find a secluded place.
“‘Tất cả các con sông đều có dòng chảy quanh co, tất cả các khu rừng đều làm bằng gỗ; tất cả phụ nữ sẽ làm điều ác, khi có được nơi kín đáo.”
309.
309.
309.
‘Sace labhetha khaṇaṃ vā raho vā, nivātakaṃ vāpi labhetha tādisaṃ;
Sabbāva itthī kayiruṃ nu † pāpaṃ, aññaṃ alattha † pīṭhasappināpi saddhiṃ.
If they should find an opportunity, a secret place, or such a secluded spot, all women would indeed commit evil; finding no other, they would do so even with a cripple.
“‘Nếu có được cơ hội, hoặc nơi vắng vẻ, hoặc có được một nơi kín đáo như thế; tất cả phụ nữ chắc chắn sẽ làm điều ác; nếu không tìm được người nào khác, (họ sẽ làm) ngay cả với một người tàn phế.’”
310.
310.
310.
314.
314.
314.
‘Luddhānaṃ † lahucittānaṃ, akataññūna dubbhinaṃ;
Nādevasatto puriso, thīnaṃ saddhātumarahati.
Of women who are greedy, fickle-minded, ungrateful, and treacherous to friends, a man not possessed by passion ought not to place his trust.
Một người đàn ông không bị vị trời ái dục chiếm hữu thì không nên tin tưởng vào lời nói của những người nữ tham lam, tâm ý nhẹ dạ, vong ơn, và phản trắc.
315.
315.
315.
329.
329.
329.
‘‘Na vissase sākhapurāṇasanthataṃ, na vissase mittapurāṇacoraṃ;
Na vissase rājānaṃ sakhā † mamanti, na vissase itthi dasanna mātaraṃ.
Do not trust an old acquaintance; do not trust a former friend who is a thief; do not trust a king who says, 'I am your friend'; do not trust a woman, even if she is the mother of ten.
Chớ nên tin tưởng vào chỗ ở tạm bợ đã cũ, chớ nên tin tưởng vào tên trộm từng là bạn cũ, chớ nên tin tưởng vào vị vua khi nghĩ rằng: 'Ngài là bạn của ta', chớ nên tin tưởng vào người phụ nữ, dù là mẹ của mười người con.
330.
330.
330.
‘‘Na vissase rāmakarāsu nārisu, accantasīlāsu asaññatāsu;
Accantapemānugatassa bhariyā, na vissase titthasamā hi nāriyo.
Do not trust women who give pleasure to fools, who are of transgressive habits, and who are unrestrained. Do not trust a wife, even one followed with the deepest love, for women are indeed like river fords.
Chớ nên tin tưởng nơi những người nữ làm vui lòng kẻ ngu si, những người có thói quen quá đáng, không tự chủ. Chớ nên tin tưởng người vợ đi theo với tình yêu thương tột bậc, vì rằng những người nữ giống như bến nước.
331.
331.
331.
‘‘Haneyyuṃ chindeyyuṃ chedāpeyyumpi †, kaṇṭhepi † chetvā rudhiraṃ piveyyuṃ;
Mā dīnakāmāsu asaññatāsu, bhāvaṃ kare gaṅgatitthūpamāsu.
They might kill, they might cut, or have one cut down; having slit a throat, they might even drink the blood. Do not form affection for those of base desires, the unrestrained, who are like the fords of the Ganges.
Họ có thể giết, có thể cắt, hoặc sai người cắt. Cắt cổ rồi, họ có thể uống cả máu. Chớ nên có tình cảm với những kẻ có ham muốn thấp hèn, không tự chủ, những kẻ giống như bến nước sông Hằng.
332.
332.
332.
‘‘Musā tāsaṃ yathā saccaṃ, saccaṃ tāsaṃ yathā musā;
Gāvo bahitiṇasseva, omasanti varaṃ varaṃ.
To them, a lie is like the truth, and their truth is like a lie. Just as cows graze on whatever they find outside the fence, they seek out one man after another.
Đối với họ, lời nói dối giống như sự thật, và sự thật của họ giống như lời nói dối. Giống như những con bò ở ngoài đồng cỏ, họ tìm kiếm và ăn hết thứ tốt này đến thứ tốt khác.
333.
333.
333.
‘‘Gatenetā palobhenti, pekkhitena mhitena ca;
Athopi dunnivatthena, mañjunā bhaṇitena ca.
They entice with their gait, with their glance, and with their smile; and also with immodest dress and with sweet speech.
Họ quyến rũ bằng dáng đi, bằng cái nhìn, và bằng nụ cười; lại còn bằng cách ăn mặc không đúng đắn, và bằng lời nói ngọt ngào.
334.
334.
334.
‘‘Coriyo kathinā † hetā, vāḷā ca lapasakkharā;
Na tā kiñci na jānanti, yaṃ manussesu vañcanaṃ.
They are indeed harsh thieves, fierce and sweet of speech; there is no deceit among humans that they do not know.
Họ là những kẻ trộm cắp, cứng rắn, hung dữ và lời nói ngọt như đường. Không có sự lừa dối nào giữa loài người mà họ không biết đến.
335.
335.
335.
‘‘Asā lokitthiyo nāma, velā tāsaṃ na vijjati;
Sārattā ca pagabbhā ca, sikhī sabbaghaso yathā.
Indeed, women in this world are insatiable; for them, no boundary is found. They are impassioned and audacious, like an all-devouring fire.
Phụ nữ trong thế gian quả là hạng thấp kém, không có giới hạn nào cho họ. Họ đầy tham ái và táo bạo, giống như ngọn lửa thiêu rụi tất cả.
336.
336.
336.
‘‘Natthitthīnaṃ piyo nāma, appiyopi na vijjati;
Sevanti hetā piyamappiyañca, nāvā yathā orakūlaṃ parañca.
For women, there is truly no one dear, nor is there anyone not dear. They consort with both the loved and the unloved, just as a boat serves this shore and the other.
Đối với phụ nữ, không có ai gọi là người thương, cũng không có ai là người không thương. Họ gần gũi cả người thương lẫn kẻ không thương, giống như chiếc thuyền phục vụ cả bờ bên này lẫn bờ bên kia.
337.
337.
337.
‘‘Natthitthīnaṃ piyo nāma, appiyopi na vijjati;
Dhanattā † paṭivallanti, latāva dumanissitā.
For women, there is truly no one dear, nor is there anyone not dear; for the sake of wealth they entwine themselves, like a creeper dependent on a tree.
Đối với phụ nữ, không có ai gọi là người thương, cũng không có ai là người không thương. Vì của cải, họ quấn quýt lấy người khác, giống như dây leo nương tựa vào cây.
338.
338.
338.
‘‘Hatthibandhaṃ assabandhaṃ, gopurisañca maṇḍalaṃ †;
Chavaḍāhakaṃ pupphachaḍḍakaṃ, sadhanamanupatanti nāriyo.
Women run after the elephant-keeper, the horse-groom, the cowherd, and any group of men; the corpse-burner, the garbage-sweeper, and any man with wealth.
Người giữ voi, người giữ ngựa, người chăn bò, người thiêu xác, người hốt rác, và bất kỳ nhóm đàn ông nào có của cải, phụ nữ đều đi theo.
339.
339.
339.
‘‘Kulaputtampi jahanti akiñcanaṃ, chavakasamasadisampi †;
Anugacchanti † anupatanti, dhanahetu hi nāriyo’’ti †.
They abandon even a man of good family if he is destitute; yet they will follow and run after even a man like a corpse-eater, for women indeed act for the sake of wealth.
“Phụ nữ từ bỏ cả người con trai nhà lành không tài sản; quả thật, vì của cải, họ đi theo, họ đeo đuổi cả người (giàu có) giống như kẻ hạ tiện.”
Atha khalu, bho, nārado devabrāhmaṇo ānandassa gijjharājassa ādimajjhakathāpariyosānaṃ viditvā tāyaṃ velāyaṃ imā gāthāyo abhāsi –
Then indeed, sirs, Nārada the divine brahmin, having understood the beginning, middle, and end of the discourse of Ānanda the vulture king, at that time recited these verses:
Này các Tỳ khưu, khi ấy, quả thật, vị Phạm thiên Nārada, sau khi biết được phần đầu, phần giữa, và phần cuối của các câu kệ của vua kên kên Ānanda, vào lúc ấy đã nói lên những câu kệ này:
340.
340.
340.
‘‘Cattārome na pūrenti, te me suṇātha bhāsato;
Samuddo brāhmaṇo rājā, itthī cāpi dijampati.
These four can never be filled—listen to me as I speak of them: the ocean, a brahmin, a king, and a woman; and also the lord of birds.
“Này chúa tể loài chim, có bốn điều này không bao giờ được lấp đầy, hãy nghe ta nói về chúng: Biển cả, vị Bà-la-môn, đức vua, và cả người phụ nữ.”
341.
341.
341.
‘‘Saritā sāgaraṃ yanti, yā kāci pathavissitā;
Tā samuddaṃ na pūrenti, ūnattā hi na pūrati.
All the rivers that are on the earth flow to the ocean, yet they do not fill the ocean; for it is never filled, being ever deficient.
“Tất cả những con sông nào trên mặt đất đều chảy ra biển cả; nhưng chúng không thể lấp đầy biển cả, quả thật vì còn thiếu nên không đầy.”
342.
342.
342.
‘‘Brāhmaṇo ca adhīyāna, vedamakkhānapañcamaṃ;
Bhiyyopi sutamiccheyya, ūnattā hi na pūrati.
A brahmin, having studied the Vedas with the historical narratives as the fifth, would still desire more learning; for due to incompleteness, he is not filled.
“Và vị Bà-la-môn, sau khi học thuộc các kinh Vệ-đà cùng với bộ thứ năm là các truyện kể, vẫn còn mong muốn học hỏi thêm nữa; quả thật vì còn thiếu nên không đầy.”
343.
343.
343.
‘‘Rājā ca pathaviṃ sabbaṃ, sasamuddaṃ sapabbataṃ;
Ajjhāvasaṃ vijinitvā, anantaratanocitaṃ;
Pāraṃ samuddaṃ pattheti, ūnattā hi na pūrati.
A king, having conquered the entire earth with its oceans and mountains, his dwelling place filled with countless treasures, still longs for the ocean beyond; for due to incompleteness, he is not filled.
“Và đức vua, sau khi chinh phục toàn bộ trái đất cùng với biển cả và núi non, nơi mình trị vì, chứa đầy vô số châu báu, vẫn còn khao khát biển cả bên kia; quả thật vì còn thiếu nên không đầy.”
344.
344.
344.
‘‘Ekamekāya itthiyā, aṭṭhaṭṭha patino siyā;
Sūrā ca balavanto ca, sabbakāmarasāharā;
Kareyya navame chandaṃ, ūnattā hi na pūrati.
For each and every woman, there might be eight husbands, heroic and strong, providers of all sensual pleasures; yet she would still form a desire for a ninth; for due to incompleteness, she is not filled.
“Mỗi một người phụ nữ, dù có đến tám người chồng, vừa dũng mãnh, vừa mạnh mẽ, và mang lại mọi lạc thú của các dục, nàng vẫn sẽ khởi lên ham muốn với người thứ chín; quả thật vì còn thiếu nên không đầy.”
345.
345.
345.
‘‘Sabbitthiyo sikhiriva sabbabhakkhā, sabbitthiyo nadīriva sabbavāhī;
Sabbitthiyo kaṇṭakānaṃva sākhā, sabbitthiyo dhanahetu vajanti.
All women are like fire, all-devouring; all women are like a river, all-sweeping. All women are like a thorny branch; all women go for the sake of wealth.
“Tất cả phụ nữ đều như ngọn lửa, thiêu đốt tất cả; tất cả phụ nữ đều như dòng sông, cuốn trôi tất cả; tất cả phụ nữ đều như cành cây có gai; tất cả phụ nữ đều đi theo vì của cải.”
346.
346.
346.
‘‘Vātañca jālena naro parāmase, osiñcaye † sāgaramekapāṇinā;
Sakena hatthena kareyya ghosaṃ †, yo sabbabhāvaṃ pamadāsu osaje.
That man who would entrust his entire being to women might as well try to catch the wind with a net, bail out the ocean with a single hand, or make a sound with his own hand.
“Người nào đặt trọn vẹn niềm tin vào phụ nữ, người ấy cũng giống như cố gắng dùng lưới để bắt gió, dùng một tay để tát cạn biển cả, hay dùng một bàn tay của mình để tạo ra tiếng động.”
347.
347.
347.
‘‘Corīnaṃ bahubuddhīnaṃ, yāsu saccaṃ sudullabhaṃ;
Thīnaṃ bhāvo durājāno, macchassevodake gataṃ.
Of these thievish women of many wiles, among whom truth is exceedingly hard to find, their nature is difficult to know, like the path of a fish in the water.
“Bản chất của phụ nữ, những kẻ trộm cắp nhiều mưu mẹo, nơi mà sự thật rất khó tìm, thì khó biết được, giống như đường đi của cá trong nước.”
348.
348.
348.
‘‘Analā mudusambhāsā, duppūrā tā nadīsamā;
Sīdanti naṃ viditvāna, ārakā parivajjaye.
Insatiable, soft-spoken, and hard to fill are they, like rivers. Knowing that they cause one to sink, one should avoid them from afar.
“Không bao giờ biết đủ, lời nói mềm mỏng, họ khó được làm cho thỏa mãn, giống như những dòng sông. Họ làm cho người ta chìm đắm; biết được điều này, nên tránh xa họ.”
349.
349.
349.
‘‘Āvaṭṭanī mahāmāyā, brahmacariyavikopanā;
Sīdanti naṃ viditvāna, ārakā parivajjaye.
They are bewitching, of great illusion, destroyers of the holy life. Knowing that they cause one to sink, one should avoid them from afar.
“Họ là những kẻ quyến rũ, đầy ảo thuật, là những kẻ phá hoại phạm hạnh. Họ làm cho người ta chìm đắm; biết được điều này, nên tránh xa họ.”
350.
350.
350.
‘‘Yaṃ etā † upasevanti, chandasā vā dhanena vā;
Jātavedova saṇṭhānaṃ, khippaṃ anudahanti na’’nti.
Whomever they associate with, whether through desire or for wealth, they quickly burn him up, just as fire consumes its own fuel.
“Bất cứ người nào mà họ gần gũi, dù là vì ham muốn hay vì của cải, họ cũng nhanh chóng thiêu rụi người ấy, giống như ngọn lửa thiêu rụi chính nơi nó tựa vào.”
Atha khalu, bho, kuṇālo sakuṇo nāradassa devabrāhmaṇassa ādimajjhakathāpariyosānaṃ viditvā tāyaṃ velāyaṃ imā gāthāyo abhāsi –
Then indeed, sirs, the bird Kuṇāla, having understood the beginning, middle, and end of the discourse of the divine brahmin Nārada, at that time spoke these verses:
Này các Tỳ khưu, khi ấy, quả thật, chim Kuṇāla, sau khi biết được phần đầu, phần giữa, và phần cuối của các câu kệ của vị Phạm thiên Nārada, vào lúc ấy đã nói lên những câu kệ này:
351.
351.
351.
‘‘Sallape nisitakhaggapāṇinā, paṇḍito api pisācadosinā;
Uggatejamuragampi āside, eko ekāya pamadāya nālape †.
A wise man might converse with a person holding a sharpened sword, or even with a wrathful demon; he might even handle a serpent of fiery venom, but he should not converse alone with a woman.
“Người trí có thể nói chuyện với người cầm gươm sắc bén, hay thậm chí với một con quỷ dữ; có thể cầm lấy cả con rắn có nọc độc kinh người, nhưng một người đàn ông không nên nói chuyện riêng với một người phụ nữ.”
352.
352.
352.
‘‘Lokacittamathanā hi nāriyo, naccagītabhaṇitamhitāvudhā;
Bādhayanti anupaṭṭhitassatiṃ †, dīpe rakkhasigaṇova † vāṇije.
For women are the churners of the world's mind, armed with dance, song, speech, and smiles; they afflict the man whose mindfulness is unestablished, like a horde of ogres afflicting merchants on an island.
“Quả thật, phụ nữ là những kẻ khuấy động tâm trí của thế gian, vũ khí của họ là nhảy múa, ca hát, nói năng, và mỉm cười; họ áp bức người không có chánh niệm, giống như một bầy quỷ la-sát trên đảo (áp bức) các thương nhân.”
353.
353.
353.
‘‘Natthi tāsaṃ vinayo na saṃvaro, majjamaṃsaniratā † asaññatā;
Tā gilanti purisassa pābhataṃ, sāgareva makaraṃ timiṅgalo †.
They have no discipline and no restraint; delighting in intoxicants and flesh, they are uncontrolled. They swallow a man's wealth, just as the Timiṅgala in the ocean swallows the Makara.
“Họ không có kỷ luật, không có sự chế ngự, thích thú rượu và thịt, không được kiểm soát. Họ nuốt chửng tài sản của người đàn ông, giống như con cá Timiṅgala trong đại dương nuốt chửng con cá Makara.”
354.
354.
354.
‘‘Pañcakāmaguṇasātagocarā, uddhatā aniyatā asaññatā;
Osaranti pamadā pamādinaṃ, loṇatoyavatiyaṃva āpakā.
Their pasture is the pleasure of the five strands of sensual desire; they are arrogant, fickle, and unrestrained. Women flow towards the heedless man, just as rivers flow into the salt sea.
“Với cảnh giới là sự thỏa thích trong năm loại dục lạc, họ là những người dao động, không ổn định, không tự chủ. Phụ nữ tiếp cận những người buông lung, giống như các dòng sông chảy vào đại dương nước mặn.”
355.
355.
355.
‘‘Yaṃ naraṃ upalapenti † nāriyo, chandasā va ratiyā dhanena vā;
Jātavedasadisampi tādisaṃ, rāgadosavadhiyo † dahanti naṃ.
Whatever man women entice, whether with desire, pleasure, or wealth, they burn him, even if he is like unto Jātaveda, for they are slayers through passion and hatred.
“Bất cứ người đàn ông nào mà phụ nữ có được, dù là vì ham muốn, vì khoái lạc, hay vì của cải, họ cũng thiêu đốt người ấy, dù người ấy có giống như ngọn lửa. Họ, những kẻ hành hình bằng tham ái và sân hận, thiêu đốt người ấy.”
356.
356.
356.
‘‘Aḍḍhaṃ ñatvā purisaṃ mahaddhanaṃ, osaranti sadhanā sahattanā;
Rattacittamativeṭhayanti naṃ, sāla māluvalatāva kānane.
Knowing a man to be prosperous and of great wealth, they approach him with greed and violence; they entwine him whose mind is impassioned, like a māluvā creeper entwining a sāl tree in the forest.
“Khi biết một người đàn ông giàu có và nhiều của cải, họ tiếp cận với tài sản và thân thể của mình; họ quấn chặt lấy người có tâm tham ái, giống như dây leo māluvā quấn lấy cây sāla trong rừng.”
357.
357.
357.
‘‘Tā upenti vividhena chandasā, citrabimbamukhiyo alaṅkatā;
Uhasanti † pahasanti nāriyo, sambarova † satamāyakovidā.
Adorned, with faces like painted images, they approach with various wiles. The women laugh loudly and smile gently, like Sambara, skilled in a hundred illusions.
“Được trang điểm, với khuôn mặt như tranh vẽ, họ tiếp cận với nhiều cách quyến rũ khác nhau. Phụ nữ cười lớn, rồi lại mỉm cười, giống như ảo thuật gia Sambara, bậc thầy của trăm ngàn mưu mẹo.”
358.
358.
358.
‘‘Jātarūpamaṇimuttabhūsitā, sakkatā patikulesu nāriyo;
Rakkhitā aticaranti sāmikaṃ, dānavaṃva hadayantarassitā †.
Adorned with gold, gems, and pearls, honored in their husbands' families, women, though guarded, are unfaithful to their lord, like she who dwelt within the Dānava.
“Được trang sức bằng vàng, ngọc và châu báu, được tôn trọng trong gia đình chồng, dù được canh giữ, phụ nữ vẫn ngoại tình với chồng mình, giống như người phụ nữ ở trong tim của quỷ Dānava đã (ngoại tình) với quỷ Dānava.”
359.
359.
359.
‘‘Tejavāpi hi naro vicakkhaṇo, sakkato bahujanassa pūjito;
Nārinaṃ vasagato na bhāsati, rāhunā upahatova candimā.
For even a man who is powerful and discerning, respected and revered by the multitude, does not shine when he has fallen under the sway of women, just like the moon afflicted by Rāhu.
“Quả thật, ngay cả một người đàn ông có uy lực và sáng suốt, được nhiều người kính trọng và tôn vinh, khi đã rơi vào quyền lực của phụ nữ, cũng không còn tỏa sáng, giống như mặt trăng bị Rāhu che khuất.”
360.
360.
360.
‘‘Yaṃ kareyya kupito diso disaṃ, duṭṭhacitto vasamāgataṃ ariṃ †;
Tena bhiyyo byasanaṃ nigacchati, nārinaṃ vasagato apekkhavā.
Whatever disaster an angry enemy with a malevolent heart might inflict upon another enemy who has come into his power, a man with attachments who has fallen under the sway of women comes to a disaster even greater than that.
“Điều tai hại mà một kẻ thù giận dữ, với tâm địa độc ác, có thể gây ra cho kẻ thù đã rơi vào tay mình, thì người có lòng ham muốn, khi đã rơi vào quyền lực của phụ nữ, còn đi đến một sự hủy hoại lớn hơn thế nữa.”
361.
361.
361.
‘‘Kesalūnanakhachinnatajjitā, pādapāṇikasadaṇḍatāḷitā;
Hīnamevupagatā hi nāriyo, tā ramanti kuṇapeva makkhikā.
Though threatened by having their hair plucked and nails cut, though beaten with feet, hands, and sticks, women still resort to what is base; for they delight in the base, just as flies delight in a corpse.
“Dù bị dọa nạt bằng cách nhổ tóc, cắt móng, dù bị đánh đập bằng chân, tay, và gậy gộc, phụ nữ quả thật vẫn tìm đến những điều thấp hèn; họ vui thích trong sự thấp hèn, giống như ruồi bọ trong xác chết.”
362.
362.
362.
‘‘Tā kulesu visikhantaresu vā, rājadhāninigamesu vā puna †;
Oḍḍitaṃ namucipāsavākaraṃ †, cakkhumā parivajje sukhatthiko.
They, in families or on the streets, or again in royal cities and towns, are the very snare of Namuci, set and waiting. The one with eyes, who seeks for happiness, should avoid it.
“Trong các gia đình, hay ở các ngã đường, hay trong các kinh thành và thị trấn, bẫy rập của Namuci (Ma vương) lại được giăng ra. Người có mắt, tìm cầu hạnh phúc, nên tránh xa nó.”
363.
363.
363.
‘‘Ossajitva kusalaṃ tapoguṇaṃ, yo anariyacaritāni mācari;
Devatāhi nirayaṃ nimissati, chedagāmimaṇiyaṃva vāṇijo.
Whoever, having abandoned the wholesome quality of austerity, practices ignoble conduct, is led by the deities to hell, like a merchant who acquires a worthless gem.
“Người nào từ bỏ thiện pháp và đức hạnh của sự tu khổ hạnh, và thực hành những hạnh kiểm không cao thượng, người ấy sẽ bị các vị trời dẫn xuống địa ngục, giống như người thương nhân đổi một viên ngọc quý giá lấy một hòn đá vô giá trị.”
364.
364.
364.
‘‘So idha garahito parattha ca, dummatī upahato † sakammunā;
That fool is blamed here and in the next world, afflicted by his own deed.
“Người ngu si ấy, bị hủy hoại bởi chính hành động của mình, bị khiển trách ở đời này và cả ở đời sau;”
Gacchatī aniyato gaḷāgaḷaṃ, duṭṭhagadrabharathova uppathe.
Unsteady, he goes from one state of misery to another, like a cart with a stubborn donkey on the wrong path.
“Không bị ràng buộc, người ấy đi từ vực thẳm này đến vực thẳm khác, giống như một cỗ xe với con lừa xấu đi vào con đường sai lạc.”
365.
365.
365.
‘‘So upeti nirayaṃ patāpanaṃ, sattisimbalivanañca āyasaṃ;
Āvasitvā tiracchānayoniyaṃ, petarājavisayaṃ na muñcati †.
He goes to the Patāpana hell and the iron forest of silk-cotton trees with sword-like thorns; having dwelt in the animal realm, he is not freed from the domain of the king of ghosts.
“Người ấy đi đến địa ngục Patāpana, và đến khu rừng gòn gai bằng sắt có lá như gươm. Sau khi sống trong cảnh giới súc sinh, người ấy không được giải thoát khỏi cảnh giới của vua loài ngạ quỷ.”
366.
366.
366.
‘‘Dibyakhiḍḍaratiyoṃ ca nandane, cakkavatticaritañca mānuse;
Nāsayanti pamadā pamādinaṃ, duggatiñca paṭipādayanti naṃ.
The divine sports and delights in the Nandana grove, and the conduct of a Wheel-turning Monarch among humans—these things women destroy for the heedless man, and they lead him to a woeful state.
Tại vườn Nandana, những người phụ nữ phá hoại các thú vui đùa giỡn ở cõi trời và hạnh phúc của Chuyển Luân Vương ở cõi người của kẻ phóng dật, và cũng đưa người ấy đến khổ cảnh.
367.
367.
367.
‘‘Dibyakhiḍḍaratiyo na dullabhā, cakkavatticaritañca mānuse;
Soṇṇabyamhanilayā † ca accharā, ye caranti pamadāhanatthikā.
Divine sports and delights are not hard to obtain, nor is the conduct of a Wheel-turning Monarch among humans, nor are celestial nymphs in golden mansions, for those who live having no need of women.
Đối với những ai thực hành phạm hạnh, không còn ham muốn phụ nữ, thì những thú vui đùa giỡn ở cõi trời không khó đạt được, hạnh phúc của Chuyển Luân Vương ở cõi người cũng không khó đạt được, và các tiên nữ ở trong cung điện bằng vàng cũng không khó đạt được.
368.
368.
368.
‘‘Kāmadhātusamatikkamā gati, rūpadhātuyā bhāvo † na dullabho;
Vītarāgavisayūpapattiyā, ye caranti pamadāhanatthikā.
The destiny that transcends the sense-sphere and existence in the form-sphere are not difficult to attain for those who live having no need of women, thereby reaching the domain of the passionless.
Đối với những ai thực hành phạm hạnh, không còn ham muốn phụ nữ, thì cảnh giới vượt qua Dục giới, sự hiện hữu trong Sắc giới không khó đạt được, nhờ tái sanh vào cảnh giới của người đã ly tham.
369.
369.
369.
‘‘Sabbadukkhasamatikkamaṃ sivaṃ, accantamacalitaṃ asaṅkhataṃ;
Nibbutehi sucihī na dullabhaṃ, ye caranti pamadāhanatthikā’’ti.
The transcendence of all suffering, the secure, the ultimate, the unshakable, the unconditioned—this is not difficult to attain for those who are quenched and pure, who live having no need of women.
Đối với những ai thực hành phạm hạnh, không còn ham muốn phụ nữ, những người đã tịch tịnh, đã trong sạch, thì (Niết-bàn) là sự vượt qua mọi khổ đau, an lành, hoàn toàn không lay động, vô vi, cũng không khó đạt được.
370.
370.
370.
‘‘Kuṇālohaṃ tadā āsiṃ, udāyī phussakokilo;
Ānando gijjharājāsi, sāriputto ca nārado;
Parisā buddhaparisā, evaṃ dhāretha jātaka’’nti.
I was Kuṇāla at that time, Udāyī was the Phussa cuckoo, Ānanda was the vulture king, and Sāriputta was Nārada. The assembly then is the Buddha's assembly now. Thus should you remember the Jātaka.
Khi ấy, Ta là chim Kuṇāla, Udāyī là chim cu Phussa, Ānanda là vua kên kên, và Sāriputta là đạo sĩ Nārada. Chúng hội (khi ấy) là Phật tử chúng (hiện nay). Hãy ghi nhớ câu chuyện tiền thân như vậy.
Kuṇālajātakaṃ catutthaṃ.
The Kuṇāla Jātaka, the Fourth.
Chuyện Tiền Thân Kuṇāla, phần thứ tư.