Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
JA 536

Bản dịch

JA 536Chuyện Chúa Chim Kunàla (Tiền thân Kunàla)

4. Kuṇālajātaka

4114. ‘Ajjuna, Nakula, Bhīmasena,

Yudhiṭṭhila, và đức vua Sahadeva,

sau khi đã qua mặt năm người chồng này, người đàn bà

đã làm việc xấu xa cùng với gã lùn bị gù lưng.’

Này bạn Puṇṇamukha, tôi đã nhìn thấy nữ Sa-môn Saccatapāvī, trong lúc đang sống ở giữa bãi tha ma và cho đi bữa ăn thứ tư (năm ngày ăn một bữa), đã làm việc xấu xa cùng với con trai của người thợ kim hoàn.

Này bạn Puṇṇamukha, tôi đã nhìn thấy bà hoàng hậu tên Kākātī, vợ của Kim-sỉ-điểu chúa Venateyya, trong lúc đang sống ở giữa biển khơi, đã làm việc xấu xa cùng với nhạc công Naṭakuvera.

Này bạn Puṇṇamukha, tôi đã nhìn thấy cô công chúa xinh đẹp với lớp lông vàng ở bụng tên Kuruṅgadevī, trong lúc đang yêu Eḷakamāraka, đã làm việc xấu xa cùng với tướng quân Chaḷaṅgakumāra và người hầu Dhanantevāsi của vị tướng quân ấy.

4115. Tôi còn biết chuyện như vầy về người mẹ của Brahmadatta, sau khi ruồng bỏ vị vua xứ Kosala, đã làm việc xấu xa cùng với Pañcālacaṇḍa.

4116. Các nàng này và các nàng khác đã làm việc xấu xa;

vì thế, tôi không tin tưởng các nữ nhân, không ca ngợi họ.

Giống như đại địa cầu, quả đất, có sự yêu thích đồng đều,

là nơi cất giữ của cải, nơi chứa đựng thứ này thứ khác (tốt lẫn xấu),

có sự cam chịu tất cả, không có xao động, không bị chuyển dịch,

các nữ nhân là tương tự, người nam không nên tin tưởng các nàng.

4117. Giống như loài sư tử có thức ăn là máu và thịt,

là loại thú dữ, có năm chân (tính thêm cái miệng), vô cùng tàn nhẫn,

ra sức hành hạ rồi ăn thịt, thích thú việc hãm hại động vật khác,

các nữ nhân là tương tự, người nam không nên tin tưởng các nàng.

Quả thật, này bạn Puṇṇamukha, những người đàn bà này không phải là các gái điếm hay các kỹ nữ, bởi vì những người đàn bà này không có bản chất của gái điếm hay kỹ nữ, các nàng này được gọi là các dâm phụ, được gọi là các ác phụ.

Các nàng như là lũ trộm cướp có búi tóc đã được bện lại, như là rượu tẩm thuốc độc, như là thương buôn với lời nói ca ngợi (hàng hóa của mình), cong queo tựa như sừng của loài nai issa , tựa như loài rắn có hai lưỡi, tựa như cái hố đã được che đậy, tựa như vực thẳm ở đại dương khó lấp đầy, như là quỷ cái khó làm hài lòng, tựa như Diêm Vương chỉ có bắt đem đi, tựa như ngọn lửa có sự thiêu đốt mọi thứ, tựa như dòng sông có sự cuốn trôi tất cả, như là làn gió có sự di chuyển theo ý thích, như là núi Neru làm cho mọi thứ trở nên không còn khác biệt, như là giống cây độc hại thường xuyên kết trái. Hơn nữa, ở đây, còn có thêm lời nói rằng:

4118. ‘Giống như kẻ trộm cướp, giống như đã bị tẩm thuốc độc, như là thương buôn có sự ca ngợi, cong queo như là sừng của loài nai issa, giống như con rắn có hai lưỡi.

4119. Tựa như cái hố đã được che đậy, tựa như vực thẳm khó lấp đầy, như là quỷ cái khó làm hài lòng, tựa như Diêm Vương chỉ có bắt đem đi, giống như ngọn lửa, dòng sông có sự mang đi, tựa như làn gió có sự di chuyển theo ý thích.

4120. Và tựa như núi Neru làm cho không còn khác biệt, như là giống cây độc hại thường xuyên kết trái, những người đàn bà làm tiêu hoại của cải ở trong nhà và làm biến mất các loại báu vật.’

Này bạn Puṇṇamukha, bốn thứ này không nên để ở nhà của người khác: bò đực, bò sữa, cỗ xe, người vợ; bậc sáng suốt không nên để bốn loại phương tiện này rời khỏi nhà.

4121 . Bò đực, bò cái, cỗ xe,

và người vợ, không nên để ở gia tộc của thân quyến.

Không rành rẽ về cỗ xe, chúng phá hỏng cỗ xe.

Do việc kéo quá nặng, chúng giết chết con bò đực.

Do việc vắt sữa, chúng giết chết con bò cái.

Ở trong các gia tộc của thân quyến, người vợ bị hư hỏng.

Này bạn Puṇṇamukha, sáu thứ này là không có sự lợi ích, khi có công việc phải làm.

4122. Cây cung không có dây, và người vợ ở gia tộc của thân quyến,

chiếc thuyền ở bờ bên kia, và cỗ xe bị gãy trục,

bạn bè ở xa, và kẻ cộng sự ác xấu,

khi có công việc phải làm, chúng không có sự lợi ích.

Quả thật, này bạn Puṇṇamukha, nữ nhân khi dễ người chồng do tám sự việc: do nghèo khó, do bệnh tật, do già cả, do nghiện rượu, do ngu khờ, do xao lãng, cặm cụi trong mọi công việc, không trao tất cả tài sản (cho vợ). Quả thật, này bạn Puṇṇamukha, nữ nhân khi dễ người chồng do tám sự việc này. Hơn nữa, ở đây, còn có thêm lời nói rằng:

4123. ‘Các nữ nhân khi dễ người chồng nghèo khó, bệnh tật, già cả, nghiện rượu, bị xao lãng, có tình trạng ngu khờ, bị say đắm trong các công việc nên có sự lơ là, d0 việc ban cho mọi ước muốn (của vợ).’

Quả thật, này bạn Puṇṇamukha, nữ nhân mang lại sự xấu xa do chín sự việc: có thói quen đi đến vườn hoa, có thói quen đi đến vườn thượng uyển, có thói quen đi đến bến tắm ở sông, có thói quen đi đến nhà thân quyến, có thói quen đi đến nhà người khác, có thói quen gắn bó với gương soi, vải vóc, và việc trang điểm, thường uống chất say, có thói quen nhìn qua cửa số, thường đứng ở cửa ra vào. Quả thật, này bạn Puṇṇamukha, nữ nhân mang lại sự xấu xa do chín sự việc này. Hơn nữa, ở đây, còn có thêm lời nói rằng:

4124. ‘Có thói quen đi đến vườn hoa, vườn thượng uyển, bến sông, thân quyến, và nhà người khác, gắn bó với vải vóc, và việc trang điểm, là nữ nhân thường uống chất say,–

4125. –nàng có có thói quen nhìn qua cửa số, và thường đứng ở cửa ra vào; do chín sự việc này, các nữ nhân mang lại sự xấu xa.’

Quả thật, này bạn Puṇṇamukha, nữ nhân quyến rủ nam nhân bằng bốn mươi sự việc: ưỡn người lên, cúi xuống, làm dáng, (gãi nhẹ ở làn da), làm bộ e thẹn, bấm ngón tay này với ngón tay kia, gác chân này lên chân kia, vạch lên mặt đất bằng thanh gỗ, bảo gã trai tơ nhảy lên nhảy xuống, chơi giỡn và bảo gã trai tơ chơi giỡn, hôn và bảo gã trai tơ hôn, ăn và bảo gã trai tơ ăn, ban cho, van xin, nhái lại hành động, nói lớn tiếng, nói hạ giọng, nói công khai, nói lén lút, cười giỡn bằng các việc múa - hát - tấu nhạc - khóc lóc - làm dáng - trang điểm, nhìn chăm chú, lắc hông, lắc háng, phô bày bắp vế, che đậy bắp vế, khoe vú, khoe nách, khoe rún, nheo mắt, nhướng mày, cắn môi, (cắn lưỡi), liếm môi, nới lỏng xiêm y, buộc lại xiêm y, xõa tóc, buộc tóc; nữ nhân quyến rủ nam nhân bằng bốn mươi sự việc này.

Quả thật, này bạn Puṇṇamukha, nữ nhân hư đốn được nhận biết do hai mươi lăm sự việc: nàng ca ngợi việc vắng nhà của chồng, không nhớ nhung khi chồng vắng nhà, không vui mừng khi chồng trở về, nói lời chê bai chồng, không nói lời ca ngợi chồng, thực hiện điều bất lợi cho chồng, không thực hiện điều lợi ích cho chồng, làm việc không phải là bổn phận đối với chồng, không làm bổn phận đối với chồng, mặc đồ kín đáo đi ngủ, nằm quay mặt hướng khác, nằm trăn qua trở lại và còn quấy rối nữa, thở dài, kêu than khổ, đi tiêu tiểu thường xuyên, cư xử trái khoáy, nghe âm thanh của nam nhân khác thì chăm chú lắng nghe, lại còn phá của, giao du thân mật với các người láng giềng, lại còn quen thói đi ra ngoài, hay đi dạo ở đường phố, lại còn ngoại tình nữa, không tôn trọng chồng và có tâm tư xấu xa, thường xuyên đứng ở cửa ra vào, cho nhìn thấy các đồ lót, cơ thể, và bộ ngực, đi chỗ này chỗ nọ ngắm nhìn. Quả thật, này bạn Puṇṇamukha, nữ nhân hư đốn được nhận biết do hai mươi lăm sự việc này. Hơn nữa, ở đây, còn có thêm lời nói rằng:

4137 . Nàng Pañcapāpī là vợ của vua Baka và vua Pāvārika, hai vị vua đeo đuổi dục lạc tột đỉnh. Nàng đã làm điều tà hạnh với kẻ thuộc quyền sai khiến của chồng, vậy còn người nam nào khác nữa mà nữ nhân sẽ không cư xử vượt quá giới hạn?

4144 . Vào lúc các nàng, trong lúc xem xét, không nhìn thấy tài sản của người đàn ông có vẻ có thể thâu tóm, các nàng lánh xa người ấy ở mọi nơi, tựa như người đã vượt qua, đã đi đến bờ bên kia của dòng sông, xa lánh chiếc bè.

4145 . Nữ nhân giống như chất kết dính, tựa như ngọn lửa có sự thiêu đốt tất cả. Các nàng có sự phỉnh lừa chóng vánh, tựa như con sông có dòng nước chảy xiết. Bởi vì các nàng ấy hầu hạ người yêu mến lẫn người không yêu mến, giống như con thuyền ghé vào bến đò ở hạ nguồn và ở thượng nguồn.

4146 . Các nàng ấy không thuộc về một người, không thuộc về hai người, các nàng ấy tựa như cửa tiệm đã được trưng bày. Kẻ nào nghĩ rằng: ‘Các nàng ấy là thuộc về ta,’ kẻ ấy tưởng rằng có thể tóm gọn làn gió bằng cái lưới.

4147 . Giống như dòng sông, con đường, quán nước, phòng hội, lều nghỉ chân, các nữ nhân ở thế gian được gọi là như vậy, giới hạn của các nàng ấy không thể biết được.

4148. Thật vậy, các nàng ấy như là ngọn lửa tế thần, tương tự như đầu con rắn độc màu đen, tựa như bầy bò đối với cọng cỏ ở bên lề, chúng chỉ gặm những cọng ngon nhất.

4149 . Ngọn lửa tế thần, con voi, rắn độc màu đen,

người đã được làm lễ phong vương, và tất cả các nữ nhân,

năm hạng này, người nam thường xuyên thận trọng mới có thể giao thiệp.

Thật vậy, mọi ý định của những hạng ấy khó mà biết được.

4150 . Không nên thân cận với người nữ có sắc đẹp quá mức, với người nữ được nhiều người yêu thương, với người phụ nữ tài hoa, với nữ nhân là vợ của kẻ khác, với nữ nhân thân cận vì nguyên nhân tài sản; năm hạng nữ nhân này không nên thân cận.”

4152 . Dầu cho chàng sốt sắng, có thói quen hoạt động,

là người chồng từ lúc còn son trẻ, đáng yêu, và hợp ý,

các nàng vẫn từ bỏ chàng vào những lúc rủi ro và những lúc hữu sự;

chính vì thế, ta không tin tưởng các nữ nhân.

4153 . Người nam không nên tin tưởng nữ nhân (vì nghĩ rằng): ‘Nàng thích ta,’ không nên tin tưởng (vì nghĩ rằng): ‘Nàng khóc trong sự hiện diện của ta,’ bởi vì các nàng ấy hầu hạ người yêu mến lẫn người không yêu mến, giống như con thuyền ghé vào bến đò ở hạ nguồn và ở thượng nguồn.

4154 . Không nên tin tưởng tấm thảm trải bằng lá cũ,

không nên tin tưởng kẻ trộm cướp dầu là người bạn cũ,

không nên tin tưởng vị vua (nghĩ rằng): ‘Là bạn hữu của ta,’

không nên tin tưởng nữ nhân dầu nàng là mẹ của mười đứa con.

4155 . Không nên tin tưởng các nữ nhân là những người tạo ra lạc thú, có thói quen vượt qua lễ giáo, không tự kiềm chế. Người vợ dầu đã gắn bó và có sự yêu thương rất mực, cũng không nên tin tưởng nàng, bởi vì các nữ nhân thì tương tự như những bến tắm (là nơi công cộng của tất cả).

4156. Các nàng có thể giết, có thể chém, có thể cho người chém, thậm chí sau khi cắt đứt cổ họng, các nàng có thể uống máu tươi. Chớ nên đặt sự yêu thương ở những nữ nhân có dục vọng thấp kém, không tự kiềm chế, (vì các nàng ấy) giống như những bến tắm ở dòng sông.

4157 . Nói dối đối với các nàng ấy giống như nói thật, nói thật đối với các nàng ấy giống như nói dối, tựa như bầy bò đối với cọng cỏ ở bên lề, chúng chỉ gặm những cọng ngon nhất.

4158 . Các nàng ấy cám dỗ (nam nhân) bằng cách đi, bằng việc nhìn, và bằng việc nở nụ cười, rồi với việc ăn bận xộc xệch, và với lời nói dịu dàng.

4164 . Các nàng ruồng bỏ người con trai gia đình danh giá không có tài sản cũng giống như ruồng bỏ kẻ dòng dõi hạ tiện, bởi vì các nữ nhân đeo đuổi, xiêu lòng vì nguyên nhân tài sản.”

4166 . Mọi dòng sông ở quả đất đều chảy về biển cả. Chúng không làm tràn đầy biển cả, bởi vì sự thiếu thốn (của biển cả) không được làm cho đầy đủ (do biển cả quá rộng lớn so với lượng nước được đổ vào).

4167 . Vị Bà-la-môn, sau khi học xong kinh Vệ Đà và truyền thống là thứ năm, mong muốn kiến thức càng nhiều hơn nữa, bởi vì sự thiếu thốn (của vị Bà-la-môn) không được làm cho đầy đủ.

4171 . Nam nhân có thể bắt giữ làn gió bằng cái lưới,

có thể tát cạn biển cả bằng một bàn tay,

có thể dập tắt âm thanh bằng cánh tay của mình,

là người có thể buông bỏ mọi yêu thương ở các nữ nhân.

4178 . Đối với các nàng ấy, không có kỷ cương, không có sự gìn giữ;

các nàng ấy ưa thích rượu thịt, không tự kiềm chế.

Các nàng ấy tóm thâu tài sản của nam nhân,

tựa như con cá khổng lồ nuốt trọn con cá kiếm ở biển khơi.

4189 . Kẻ ấy bị chê trách ở đời này và đời sau.

Kẻ có tâm hư hỏng, khi tiếp cận với nghiệp của mình,

đi đến chốn đọa đày với thời gian không xác định

tựa như cỗ xe được kéo bởi con lừa hư hỏng đi sai đường.

4192 . Các nam nhân nào thực hành Phạm hạnh, không có sự tầm cầu các nữ nhân, thì các việc vui đùa cùng những sự thích thú thuộc Thiên giới, cuộc sống Chuyển Luân Vương ở loài người, và các tiên nữ có sự cư ngụ ở Thiên cung bằng vàng không phải là khó đạt được.

4193 . Các nam nhân nào thực hành Phạm hạnh, không có sự tầm cầu các nữ nhân, thì cảnh giới tái sanh vượt qua khỏi Dục giới, sự hiện hữu ở Sắc giới, cùng với việc tái sanh ở chốn của những vị đã xa lìa luyến ái (Phạm Thiên giới) không phải là khó đạt được.