Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
JA 535

Bản dịch

JA 535Chuyện thực phẩm Thiên giới (Tiền thân Sudhàbhojana)

3. Sudhābhojanajātaka

4018 . Này Kosiya, ta nói điều ấy với ông. Ông hãy bố thí các vật thí và ông hãy hưởng thụ. Ông hãy bước lên đạo lộ cao thượng. Kẻ ăn một mình không đạt được hạnh phúc.”

4019 . “Kẻ nào một mình thọ dụng bữa ăn trong khi khách ngồi (xơi nước), việc cúng tế của kẻ này là rỗng không, việc gắng sức (tạo lập tài sản) cũng là rỗng không.

4020 . Này Kosiya, ta nói điều ấy với ông. Ông hãy bố thí các vật thí và ông hãy hưởng thụ. Ông hãy bước lên đạo lộ cao thượng. Kẻ ăn một mình không đạt được hạnh phúc.”

4021 . “Người nào không một mình thọ dụng bữa ăn trong khi khách ngồi (xơi nước), việc cúng tế của người ấy là chân thật, việc gắng sức (tạo lập tài sản) cũng là chân thật.

4022 . Này Kosiya, ta nói điều ấy với ông. Ông hãy bố thí các vật thí và ông hãy hưởng thụ. Ông hãy bước lên đạo lộ cao thượng. Kẻ ăn một mình không đạt được hạnh phúc.”

4024 . Người nào không một mình thọ dụng bữa ăn trong khi khách ngồi (xơi nước), việc cúng tế của người này là có kết quả, việc gắng sức (tạo lập tài sản) là có kết quả.

4025 . Này Kosiya, ta nói điều ấy với ông. Ông hãy bố thí các vật thí và ông hãy hưởng thụ. Ông hãy bước lên đạo lộ cao thượng. Kẻ ăn một mình không đạt được hạnh phúc.”

4026 . “Kẻ nào một mình thọ dụng bữa ăn trong khi khách ngồi (xơi nước), kẻ ấy nuốt vào chính cái lưỡi câu có sợi cước dài, có sự trói buộc.

4027 . Này Kosiya, ta nói điều ấy với ông. Ông hãy bố thí các vật thí và ông hãy hưởng thụ. Ông hãy bước lên đạo lộ cao thượng. Kẻ ăn một mình không đạt được hạnh phúc.”

4028 . Các vị Bà-la-môn này quả thật có giai cấp cao quý.

Và đây là con chó của các vị, nguyên nhân là thế nào?

Nó biến hóa thành cao, thấp, có màu sắc và ánh sáng.

Thưa các vị Bà-la-môn, các vị hãy giải thích cho chúng tôi các vị là ai?”

4037 . Ở trên đỉnh núi, ở ngọn núi cao quý Gandhamādana,

các nàng tiên nữ ấy vui sướng, được Thiên Chủ Sakka bảo vệ.

Rồi vị ẩn sĩ cao quý, bậc thông hiểu tất cả thế gian, đã đi đến,

cầm theo cành cây cao quý khéo trổ đầy hoa.

4054 . “Này Mātali, không đúng đắn đối với ta để thọ hưởng

mà không bố thí trước đã,’ như thế đối với ta là sự hành trì tối thượng.

Thêm nữa, việc ăn một mình không phải là sự cúng dường cao thượng;

người không có sự san sẻ không tìm thấy hạnh phúc (nhân thiên).

4055 . Những kẻ giết hại phụ nữ và những kẻ nào ngoại tình, những kẻ phản bội bạn bè và những kẻ nào chưởi rủa các bậc có sự hành trì tốt đẹp, và những kẻ có sự bỏn xẻn là thứ năm, tất cả những kẻ ấy là thấp thỏi. Vì thế, khi không bố thí, ngay cả nước uống ta cũng không thọ dụng.

4059 . “Hỡi vị Thiên nhân, nàng là ai mà chiếu sáng phương Đông?

Nàng được trang điểm tựa như ngôi sao Mai cao quý trong số các vì sao.

Hỡi cô nàng có thân thể tựa như khối vàng, ta hỏi nàng:

Nàng hãy báo cho ta biết nàng là vị Thiên nhân nào?”

4061 . Thưa bậc đại hiền trí, thiếp muốn người nào được sung sướng, thì người ấy được vui thích với tất cả các dục lạc. Thưa bậc ưu tú trong số các vị cúng tế thần lửa, xin ngài hãy nhận biết thiếp là ‘Nữ thần Sirī.’ Thưa bậc có trí tuệ cao quý, xin ngài hãy chia xẻ phần thức ăn của thần tiên cho thiếp đây.”

4063 . Ta nhìn thấy người lười biếng, ham ăn,

người có gia tộc vô cùng thấp kém, không có vóc dáng,

nhưng được nàng bảo hộ nên có sự vẻ vang, có dòng dõi;

gã sai bảo tôi tớ như là người có của cải, có sự sung sướng.

4065 . “Nàng là ai mà có răng nhọn trắng ngần, có các bông tai cẩn ngọc trai, có vòng đeo tay nhiều màu sắc, mặc y phục bóng láng bằng vàng? Nàng chiếu sáng rực rỡ sau khi khoác lên mảnh vải mang màu sắc của những hạt nước lấp lánh, sau khi cài vào chùm hoa màu đỏ rực như ngọn lửa cỏ kusa .

4079 . Tựa như loài dây leo kāḷā có chùm hoa với những lá màu đỏ vào mùa khô hạn run rẩy trước gió tựa như ngọn lửa, nàng là ai mà đứng nhìn xuống tựa như kẻ ngây ngô, dường như đang suy tính câu nói mà không thốt nên lời?”

4080 . “Thiếp là Hirī (liêm sỉ), nữ Thần được tôn vinh bởi loài người, luôn luôn có sự gần gũi với những chúng sanh không ác xấu. Do việc tranh cãi về phần thức ăn của thần tiên, thiếp đi đến gặp ngài. Thiếp đây không thể cầu xin ngay cả thức ăn của thần tiên ấy, (bởi vì) việc cầu xin đối với người nữ giống như việc phô bày phần kín đáo của cơ thể.”

4081 . “Hỡi nàng tiên có cơ thể xinh xắn, theo nguyên tắc, theo quy định, nàng sẽ nhận được, bởi vì điều ấy là nguyên tắc: Không do cầu xin mà có được thức ăn của thần tiên. Vì thế, ta thỉnh mời nàng là người không cầu xin. Nàng muốn loại nào trong thức ăn của thần tiên, ta sẽ cho nàng loại ấy.

4082 . Hỡi cô nàng có thân thể tựa như khối vàng, hôm nay nàng đây được ta thỉnh mời đến khu ẩn cư của ta, bởi vì nàng xứng đáng được cúng dường với tất cả các hương vị. Sau khi cúng dường nàng xong, ta cũng sẽ ăn thức ăn của thần tiên.”

4083 . Nàng tiên ấy đã được vị Kosiya có sự chói sáng (năng lực) cho phép,

nàng Hirī quả thật đã đi vào nơi ẩn cư đáng yêu;

(nơi ấy) có nước uống, có trái cây được cúng dường cao thượng,

luôn luôn có sự gần gũi với những chúng sanh không ác xấu.

4084 . Nơi này có nhiều lùm cây rậm đã được trổ hoa:

các cây xoài, các cây piyāla , các cây mít, các cây kiṃsukā ,

các cây sobhañjana , các cây lodda , rồi các cây padmaka nữa,

các cây keka , các cây bhaṅga và các cây tilaka đã được trổ hoa.

4085 . Nơi này có nhiều cây sa-la, các cây bông hường, các cây mận đỏ,

các cây bồ-đề, các cây đa, các cây cam thảo, và các cây sậy,

các cây bả đậu, các cây hoa kèn, các cây sindhuvāraka ,

các cây mucalinda và các cây ketaka với mùi thơm làm thích ý.

4086 . Các cây họ đậu, các cây veḷuka , các cây sậy, và các cây tinduka ,

các cây cao lương, các cây kê, rồi các cây đậu nành nữa,

các cây moca , các cây chuối, ở đây có nhiều lúa sāli (mọc ven hồ),

các cây lúa pavīhi , các cây liễu, và các cây lúa taṇḍula .

4087 . Và ở về phía bắc của nơi này có hồ sen an lành,

không gồ ghề, không hố sâu, tốt lành, không có mùi khó chịu.

4088 . Nơi ấy có nhiều thức ăn, các con cá có sự bình an cùng nhau nô đùa: các giống cá siṅgu , cá savaṅka , cá sakula , cá satavaṅka , cá hồng, và đông đúc loài cá āli , cá gaggaraka , cá pāṭhīna , và các cá nhỏ mồi của lũ quạ.

4094 . Khi ấy, nàng tiên Hirī đã đi đến ngồi ở chiếc ghế nệm, đang mong muốn mỏi thức ăn của thần tiên. Bậc đại hiền trí Kosiya, tóc bện, mặc y da dê, đã mau mắn đích thân trao thức ăn của thần tiên cùng với nước uống (được mang về) bằng những chiếc lá mới cho nàng tiên nữ ấy.

4095 . Nàng tiên ấy, sau khi nhận lấy thức ăn bằng cả hai bàn tay,

được hoan hỷ, đã nói với vị mang bện tóc rằng:

“Bây giờ, thiếp đã được ngài cúng dường,

thưa vị Bà-la-môn, người có sự chiến thắng nên đi đến Thiên giới.”

4096 . Được vị Kosiya có sự chói sáng (năng lực) cho phép, nàng tiên ấy, đắm say với sự kiêu hãnh về sắc đẹp, sau khi đi đến nơi hiện diện của đấng Ngàn Mắt, đã nói rằng: “Thưa Thiên Chủ Vāsava, đây là thức ăn của thần tiên. Xin ngài hãy ban cho thiếp sự chiến thắng.”

4097 . Vào lúc nàng đã đi đến ngồi vào chiếc ghế nệm mới, khi ấy, Thiên Chủ Sakka cũng đã cúng dường nàng ấy với chiếc ghế ấy. Và cùng với Thiên Chủ Inda, chư Thiên đã cúng dường đến nàng tiên nữ ưu tú. Được chư Thiên và nhân loại cúng dường, nàng tiên ấy đã chắp tay lại.

4099 . Mātali đã đưa cỗ xe ấy vượt lên nhằm mục đích lao đi dễ dàng.

Cỗ xe, trong lúc đang chói sáng, tương tự như một tòa nhà,

với càng xe bằng vàng đỏ Jambu giống như đã được đốt nóng,

đã được trang hoàng, đã được tô điểm bằng vàng và bảy loại bảo ngọc.

4106 . Các nàng trinh nữ được dòng họ bảo hộ,

các góa phụ, và các phụ nữ đã có chồng,

các nàng ấy, khi dục vọng và luyến ái ở các nam nhân sanh khởi,

chận đứng tâm của chính mình nhờ vào sự liêm sỉ.