Bản dịch
JA 535 — Chuyện thực phẩm Thiên giới (Tiền thân Sudhàbhojana)
3. Sudhābhojanajātaka
4018 . Này Kosiya, ta nói điều ấy với ông. Ông hãy bố thí các vật thí và ông hãy hưởng thụ. Ông hãy bước lên đạo lộ cao thượng. Kẻ ăn một mình không đạt được hạnh phúc.”
4019 . “Kẻ nào một mình thọ dụng bữa ăn trong khi khách ngồi (xơi nước), việc cúng tế của kẻ này là rỗng không, việc gắng sức (tạo lập tài sản) cũng là rỗng không.
4020 . Này Kosiya, ta nói điều ấy với ông. Ông hãy bố thí các vật thí và ông hãy hưởng thụ. Ông hãy bước lên đạo lộ cao thượng. Kẻ ăn một mình không đạt được hạnh phúc.”
4021 . “Người nào không một mình thọ dụng bữa ăn trong khi khách ngồi (xơi nước), việc cúng tế của người ấy là chân thật, việc gắng sức (tạo lập tài sản) cũng là chân thật.
4022 . Này Kosiya, ta nói điều ấy với ông. Ông hãy bố thí các vật thí và ông hãy hưởng thụ. Ông hãy bước lên đạo lộ cao thượng. Kẻ ăn một mình không đạt được hạnh phúc.”
4024 . Người nào không một mình thọ dụng bữa ăn trong khi khách ngồi (xơi nước), việc cúng tế của người này là có kết quả, việc gắng sức (tạo lập tài sản) là có kết quả.
4025 . Này Kosiya, ta nói điều ấy với ông. Ông hãy bố thí các vật thí và ông hãy hưởng thụ. Ông hãy bước lên đạo lộ cao thượng. Kẻ ăn một mình không đạt được hạnh phúc.”
4026 . “Kẻ nào một mình thọ dụng bữa ăn trong khi khách ngồi (xơi nước), kẻ ấy nuốt vào chính cái lưỡi câu có sợi cước dài, có sự trói buộc.
4027 . Này Kosiya, ta nói điều ấy với ông. Ông hãy bố thí các vật thí và ông hãy hưởng thụ. Ông hãy bước lên đạo lộ cao thượng. Kẻ ăn một mình không đạt được hạnh phúc.”
4028 . Các vị Bà-la-môn này quả thật có giai cấp cao quý.
Và đây là con chó của các vị, nguyên nhân là thế nào?
Nó biến hóa thành cao, thấp, có màu sắc và ánh sáng.
Thưa các vị Bà-la-môn, các vị hãy giải thích cho chúng tôi các vị là ai?”
4037 . Ở trên đỉnh núi, ở ngọn núi cao quý Gandhamādana,
các nàng tiên nữ ấy vui sướng, được Thiên Chủ Sakka bảo vệ.
Rồi vị ẩn sĩ cao quý, bậc thông hiểu tất cả thế gian, đã đi đến,
cầm theo cành cây cao quý khéo trổ đầy hoa.
4054 . “Này Mātali, không đúng đắn đối với ta để thọ hưởng
mà không bố thí trước đã,’ như thế đối với ta là sự hành trì tối thượng.
Thêm nữa, việc ăn một mình không phải là sự cúng dường cao thượng;
người không có sự san sẻ không tìm thấy hạnh phúc (nhân thiên).
4055 . Những kẻ giết hại phụ nữ và những kẻ nào ngoại tình, những kẻ phản bội bạn bè và những kẻ nào chưởi rủa các bậc có sự hành trì tốt đẹp, và những kẻ có sự bỏn xẻn là thứ năm, tất cả những kẻ ấy là thấp thỏi. Vì thế, khi không bố thí, ngay cả nước uống ta cũng không thọ dụng.
4059 . “Hỡi vị Thiên nhân, nàng là ai mà chiếu sáng phương Đông?
Nàng được trang điểm tựa như ngôi sao Mai cao quý trong số các vì sao.
Hỡi cô nàng có thân thể tựa như khối vàng, ta hỏi nàng:
Nàng hãy báo cho ta biết nàng là vị Thiên nhân nào?”
4061 . Thưa bậc đại hiền trí, thiếp muốn người nào được sung sướng, thì người ấy được vui thích với tất cả các dục lạc. Thưa bậc ưu tú trong số các vị cúng tế thần lửa, xin ngài hãy nhận biết thiếp là ‘Nữ thần Sirī.’ Thưa bậc có trí tuệ cao quý, xin ngài hãy chia xẻ phần thức ăn của thần tiên cho thiếp đây.”
4063 . Ta nhìn thấy người lười biếng, ham ăn,
người có gia tộc vô cùng thấp kém, không có vóc dáng,
nhưng được nàng bảo hộ nên có sự vẻ vang, có dòng dõi;
gã sai bảo tôi tớ như là người có của cải, có sự sung sướng.
4065 . “Nàng là ai mà có răng nhọn trắng ngần, có các bông tai cẩn ngọc trai, có vòng đeo tay nhiều màu sắc, mặc y phục bóng láng bằng vàng? Nàng chiếu sáng rực rỡ sau khi khoác lên mảnh vải mang màu sắc của những hạt nước lấp lánh, sau khi cài vào chùm hoa màu đỏ rực như ngọn lửa cỏ kusa .
4079 . Tựa như loài dây leo kāḷā có chùm hoa với những lá màu đỏ vào mùa khô hạn run rẩy trước gió tựa như ngọn lửa, nàng là ai mà đứng nhìn xuống tựa như kẻ ngây ngô, dường như đang suy tính câu nói mà không thốt nên lời?”
4080 . “Thiếp là Hirī (liêm sỉ), nữ Thần được tôn vinh bởi loài người, luôn luôn có sự gần gũi với những chúng sanh không ác xấu. Do việc tranh cãi về phần thức ăn của thần tiên, thiếp đi đến gặp ngài. Thiếp đây không thể cầu xin ngay cả thức ăn của thần tiên ấy, (bởi vì) việc cầu xin đối với người nữ giống như việc phô bày phần kín đáo của cơ thể.”
4081 . “Hỡi nàng tiên có cơ thể xinh xắn, theo nguyên tắc, theo quy định, nàng sẽ nhận được, bởi vì điều ấy là nguyên tắc: Không do cầu xin mà có được thức ăn của thần tiên. Vì thế, ta thỉnh mời nàng là người không cầu xin. Nàng muốn loại nào trong thức ăn của thần tiên, ta sẽ cho nàng loại ấy.
4082 . Hỡi cô nàng có thân thể tựa như khối vàng, hôm nay nàng đây được ta thỉnh mời đến khu ẩn cư của ta, bởi vì nàng xứng đáng được cúng dường với tất cả các hương vị. Sau khi cúng dường nàng xong, ta cũng sẽ ăn thức ăn của thần tiên.”
4083 . Nàng tiên ấy đã được vị Kosiya có sự chói sáng (năng lực) cho phép,
nàng Hirī quả thật đã đi vào nơi ẩn cư đáng yêu;
(nơi ấy) có nước uống, có trái cây được cúng dường cao thượng,
luôn luôn có sự gần gũi với những chúng sanh không ác xấu.
4084 . Nơi này có nhiều lùm cây rậm đã được trổ hoa:
các cây xoài, các cây piyāla , các cây mít, các cây kiṃsukā ,
các cây sobhañjana , các cây lodda , rồi các cây padmaka nữa,
các cây keka , các cây bhaṅga và các cây tilaka đã được trổ hoa.
4085 . Nơi này có nhiều cây sa-la, các cây bông hường, các cây mận đỏ,
các cây bồ-đề, các cây đa, các cây cam thảo, và các cây sậy,
các cây bả đậu, các cây hoa kèn, các cây sindhuvāraka ,
các cây mucalinda và các cây ketaka với mùi thơm làm thích ý.
4086 . Các cây họ đậu, các cây veḷuka , các cây sậy, và các cây tinduka ,
các cây cao lương, các cây kê, rồi các cây đậu nành nữa,
các cây moca , các cây chuối, ở đây có nhiều lúa sāli (mọc ven hồ),
các cây lúa pavīhi , các cây liễu, và các cây lúa taṇḍula .
4087 . Và ở về phía bắc của nơi này có hồ sen an lành,
không gồ ghề, không hố sâu, tốt lành, không có mùi khó chịu.
4088 . Nơi ấy có nhiều thức ăn, các con cá có sự bình an cùng nhau nô đùa: các giống cá siṅgu , cá savaṅka , cá sakula , cá satavaṅka , cá hồng, và đông đúc loài cá āli , cá gaggaraka , cá pāṭhīna , và các cá nhỏ mồi của lũ quạ.
4094 . Khi ấy, nàng tiên Hirī đã đi đến ngồi ở chiếc ghế nệm, đang mong muốn mỏi thức ăn của thần tiên. Bậc đại hiền trí Kosiya, tóc bện, mặc y da dê, đã mau mắn đích thân trao thức ăn của thần tiên cùng với nước uống (được mang về) bằng những chiếc lá mới cho nàng tiên nữ ấy.
4095 . Nàng tiên ấy, sau khi nhận lấy thức ăn bằng cả hai bàn tay,
được hoan hỷ, đã nói với vị mang bện tóc rằng:
“Bây giờ, thiếp đã được ngài cúng dường,
thưa vị Bà-la-môn, người có sự chiến thắng nên đi đến Thiên giới.”
4096 . Được vị Kosiya có sự chói sáng (năng lực) cho phép, nàng tiên ấy, đắm say với sự kiêu hãnh về sắc đẹp, sau khi đi đến nơi hiện diện của đấng Ngàn Mắt, đã nói rằng: “Thưa Thiên Chủ Vāsava, đây là thức ăn của thần tiên. Xin ngài hãy ban cho thiếp sự chiến thắng.”
4097 . Vào lúc nàng đã đi đến ngồi vào chiếc ghế nệm mới, khi ấy, Thiên Chủ Sakka cũng đã cúng dường nàng ấy với chiếc ghế ấy. Và cùng với Thiên Chủ Inda, chư Thiên đã cúng dường đến nàng tiên nữ ưu tú. Được chư Thiên và nhân loại cúng dường, nàng tiên ấy đã chắp tay lại.
4099 . Mātali đã đưa cỗ xe ấy vượt lên nhằm mục đích lao đi dễ dàng.
Cỗ xe, trong lúc đang chói sáng, tương tự như một tòa nhà,
với càng xe bằng vàng đỏ Jambu giống như đã được đốt nóng,
đã được trang hoàng, đã được tô điểm bằng vàng và bảy loại bảo ngọc.
4106 . Các nàng trinh nữ được dòng họ bảo hộ,
các góa phụ, và các phụ nữ đã có chồng,
các nàng ấy, khi dục vọng và luyến ái ở các nam nhân sanh khởi,
chận đứng tâm của chính mình nhờ vào sự liêm sỉ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
535. Sudhābhojanajātakaṃ (3)
535. The Sudhābhojana Jātaka (3).
535. Chuyện Bổn Sanh Sudhābhojana (3)
192.
192.
192.
213.
213.
213.
‘‘Naguttame girivare gandhamādane, modanti tā devavarābhipālitā;
Athāgamā isivaro sabbalokagū, supupphitaṃ dumavarasākhamādiya.
On the supreme mountain, the excellent mountain Gandhamādana, those goddesses, protected by the best of gods, rejoice. Then came the foremost sage, who has surpassed all worlds, taking a branch of an excellent, well-flowered tree.
Trên ngọn núi quý Gandhamādana, những thiên nữ ấy, được vua trời bảo hộ, đang vui đùa. Bấy giờ, vị ẩn sĩ bậc nhất, người đi khắp thế gian, đã đến, tay cầm cành cây quý nở hoa đẹp.
214.
214.
214.
‘‘Suciṃ sugandhaṃ tidasehi sakkataṃ, pupphuttamaṃ amaravarehi sevitaṃ;
Aladdha maccehi va dānavehi vā, aññatra devehi tadārahaṃ hidaṃ †.
Pure, fragrant, revered by the Thirty-three, the finest flower, frequented by the best of immortals; unobtainable by mortals or by Dānavas, it is worthy only of the gods.
Thanh tịnh, thơm ngát, được chư thiên Ba Mươi Ba tôn kính, đóa hoa quý này được các vị trời thượng thủ lui tới. Ngoại trừ chư thiên, loài người hay các dānava không thể có được. Đóa hoa này chỉ xứng đáng với chư thiên.
215.
215.
215.
‘‘Tato catasso kanakattacūpamā, uṭṭhāya nāriyo pamadādhipā muniṃ;
Āsā ca saddhā ca sirī tato hirī, iccabravuṃ nāradadeva brāhmaṇaṃ.
Then four women, chief among females, with skin like gold—Āsā, Saddhā, Sirī, and then Hirī—arose and spoke thus to the sage, the divine brahmin Nārada:
Sau đó, bốn vị thiên nữ có làn da như vàng, là những bậc nữ vương, đứng dậy. Āsā, Saddhā, Sirī, và Hirī, đã nói lời này với chính vị ẩn sĩ, vị Bà-la-môn Nārada.
216.
216.
216.
‘‘Sace anuddiṭṭhaṃ tayā mahāmuni, pupphaṃ imaṃ pārichattassa brahme;
Dadāhi no sabbā gati te ijjhatu, tuvampi no hohi yatheva vāsavo.
If this Pāricchattaka flower has not been designated by you, O great sage, O Brahma, give it to us. May all your goals be achieved, and may you become for us just like Vāsava.
Hỡi vị Bà-la-môn, bậc đại ẩn sĩ! Nếu ngài chưa có ý định tặng đóa hoa này của cây Pāricchattaka cho ai, xin hãy cho chúng con. Mong mọi ý nguyện của ngài được thành tựu. Và mong ngài cũng sẽ như là Vāsava của chúng con.
217.
217.
217.
‘‘Taṃ yācamānābhisamekkha nārado, iccabravī saṃkalahaṃ udīrayi;
Na mayhamatthatthi imehi koci naṃ, yāyeva vo seyyasi sā piḷandhatha’’ †.
Considering them as they were requesting, Nārada spoke thus, uttering a contentious statement: 'I have no use for these; whichever of you is the most excellent, let her wear it.'
Nārada, sau khi xem xét những vị đang xin, đã nói lời này, đã nói lên lời gây tranh cãi: 'Đối với ta, những đóa hoa này không có mục đích gì. Trong số các vị, vị nào là ưu việt nhất, chính vị ấy hãy cài đóa hoa này.'
218.
218.
218.
‘‘Tvaṃ nottamevābhisamekkha nārada, yassicchasi tassā anuppavecchasu;
Yassā hi no nārada tvaṃ padassasi, sāyeva no hehiti seṭṭhasammatā’’.
You yourself should discern the best among us, Nārada. Give it to whomever you wish. For to whomever among us you give it, Nārada, she alone will be considered the foremost among us.
Hỡi Nārada, chính ngài hãy xem xét người ưu việt nhất. Ngài muốn cho vị nào, xin hãy trao cho vị ấy. Hỡi Nārada, ngài sẽ trao cho vị nào trong chúng con, chính vị ấy sẽ được xem là bậc nhất giữa chúng con.
219.
219.
219.
‘‘Akallametaṃ vacanaṃ sugatte, ko brāhmaṇo saṃkalahaṃ udīraye;
Gantvāna bhūtādhipameva pucchatha, sace na jānātha idhuttamādhamaṃ’’.
This statement is not suitable, O fair-bodied ones. What brahmin would utter a contentious statement? Go and ask the Lord of Beings himself, if you do not know who here is highest and lowest.
Hỡi các vị có thân hình xinh đẹp, lời nói này không thích hợp với ta. Vị Bà-la-môn nào lại nói lên lời gây tranh cãi? Nếu các vị không biết ai là người cao kẻ thấp ở đây, vậy hãy đi từ đây và hỏi chính vị Chúa tể của chúng sanh.
220.
220.
220.
‘‘Tā nāradena paramappakopitā, udīritā vaṇṇamadena mattā;
Sakāse † gantvāna sahassacakkhuno, pucchiṃsu bhūtādhipaṃ kā nu seyyasi’’.
They, greatly angered by Nārada's utterance, intoxicated with the pride of their beauty, went to the presence of the Thousand-Eyed One and asked the Lord of Beings, 'Who, indeed, is the most excellent?'
Những thiên nữ ấy, được Nārada nói, đã vô cùng tức giận, say sưa vì kiêu mạn về sắc đẹp. Họ đi đến nơi của vị có ngàn mắt và hỏi vị Chúa tể của chúng sanh: 'Thưa cha, trong chúng con, ai là người ưu việt nhất?'
221.
221.
221.
‘‘Tā disvā āyattamanā purindado, iccabravī devavaro katañjalī;
Sabbāva vo hotha sugatte sādisī, ko neva bhadde kalahaṃ udīrayi’’.
Seeing them, Purindada, the best of gods, with a troubled mind and with hands clasped in reverence, spoke thus: 'May all of you be similar, O fair-bodied ones. Who indeed, O good ones, has stirred up this quarrel?'
Vị trời thượng thủ Purindada, sau khi thấy họ, với tâm lo lắng, được chư thiên chắp tay, đã nói lời này: 'Hỡi các con có thân hình xinh đẹp, mong tất cả các con đều như nhau. Hỡi các con gái yêu quý, ai đã gây ra sự tranh cãi này ở đây?'
222.
222.
222.
‘‘Yo sabbalokaccarito † mahāmuni, dhamme ṭhito nārado † saccanikkamo;
So nobravi † girivare gandhamādane, gantvāna bhūtādhipameva pucchatha;
Sace na jānātha idhuttamādhamaṃ’’.
The great sage who has wandered through all worlds, Nārada, established in the Dhamma, truthful in his striving, he told us on the excellent mountain Gandhamādana: 'Go and ask the Lord of Beings himself, if you do not know who here is highest and lowest.'
Có vị đại ẩn sĩ tên là Nārada, người đi khắp thế gian, an trú trong Pháp, có sự nỗ lực chân chính. Vị ấy đã nói với chúng con trên ngọn núi quý Gandhamādana rằng: 'Nếu các vị không biết ai cao ai thấp ở đây, vậy hãy đi từ đây và hỏi chính vị Chúa tể của chúng sanh.'
223.
223.
223.
‘‘Asu † brahāraññacaro mahāmuni, nādatvā bhattaṃ varagatte bhuñjati;
Viceyya dānāni dadāti kosiyo, yassā hi so dassati sāva seyyasi’’.
That great sage, a wanderer in the great forest, does not eat food without having given, O fair-bodied ones. Kosiya gives gifts after careful consideration. Indeed, to whomever he gives, she will be the most excellent.
Hỡi các con có thân hình tuyệt vời! Có vị đại ẩn sĩ, người thường sống trong rừng lớn. Vị ấy không ăn vật thực mà không cho đi trước, chỉ ăn sau khi đã cho. Vị ẩn sĩ Kosiya bố thí sau khi đã suy xét kỹ. Quả thật, vị ấy sẽ cho vị nào, chính vị ấy là người ưu việt nhất.
224.
224.
224.
‘‘Asū hi yo sammati dakkhiṇaṃ disaṃ, gaṅgāya tīre himavantapassani †;
Sa kosiyo dullabhapānabhojano, tassa sudhaṃ pāpaya devasārathi’’.
That Kosiya who dwells in the southern direction, on the bank of the Ganges, on a slope of the Himālaya—he is one for whom food and drink are difficult to obtain. O divine charioteer, convey the divine food to him.
Này người đánh xe của chư thiên, vị ẩn sĩ Kosiyo đang sống ở phương nam, bên bờ sông Hằng, tại sườn núi Hy-mã-lạp. Vị Kosiyo ấy khó kiếm được đồ ăn thức uống, hãy mang cam lồ đến cho vị ấy.
225.
225.
225.
‘‘Sa † mātalī devavarena pesito, sahassayuttaṃ abhiruyha sandanaṃ;
Sukhippameva † upagamma assamaṃ, adissamāno munino sudhaṃ adā’’.
That Mātali, sent by the best of gods, having mounted the chariot yoked with a thousand horses, very quickly approached the hermitage; remaining unseen, he gave the divine food to the sage.
Vị Mātali ấy, được vua trời sai đi, đã leo lên cỗ xe được thắng một ngàn con ngựa; nhanh chóng đến am thất, và trong lúc tàng hình, đã dâng cam lồ cho vị ẩn sĩ.
226.
226.
226.
‘‘Udaggihuttaṃ upatiṭṭhato hi me, pabhaṅkaraṃ lokatamonuduttamaṃ;
Sabbāni bhūtāni adhicca † vāsavo, ko neva me pāṇisu kiṃ sudhodahi.
As I was attending to the fire sacrifice, worshipping the light-maker, the supreme dispeller of the world's darkness, who indeed has placed what divine food in my hands? Is it Vāsava, who surpasses all beings?
Trong khi ta đang thờ cúng lửa và mặt trời, bậc tối thượng xua tan bóng tối của thế gian, phải chăng là Vāsava, người vượt trên tất cả chúng sanh? Ai đã đặt cam lồ này vào tay ta?
227.
227.
227.
‘‘Saṅkhūpamaṃ setamatulyadassanaṃ, suciṃ sugandhaṃ piyarūpamabbhutaṃ;
Adiṭṭhapubbaṃ mama jātu cakkhubhi †, kā devatā pāṇisu kiṃ sudhodahi’’.
Like a conch, white, of incomparable appearance, pure, fragrant, of lovely form, and wondrous—never before seen by my eyes—what deity has placed this divine food in my hands?
Trắng như vỏ ốc, vẻ ngoài không gì sánh bằng, trong sạch, thơm ngát, hình tướng đáng yêu, thật kỳ diệu, chưa từng được mắt ta thấy bao giờ. Vị thiên nhân nào đã đặt cam lồ này vào tay ta?
228.
228.
228.
‘‘Ahaṃ mahindena mahesi pesito, sudhābhihāsiṃ turito mahāmuni;
Jānāsi maṃ mātali devasārathi, bhuñjassu bhattuttama mābhivārayi †.
I was sent by Mahinda, O great seeker. I have quickly brought the divine food, O great sage. Know me as Mātali, the divine charioteer. Partake of this excellent food; do not refuse it.
Hỡi bậc Đại ẩn sĩ, bậc tìm cầu điều cao thượng, tôi được vua trời Mahinda sai đến, đã vội vàng mang cam lồ đến đây. Xin ngài hãy biết tôi là Mātali, người đánh xe của chư thiên. Xin hãy dùng món ăn tối thượng này, xin đừng từ chối.
229.
229.
229.
‘‘Bhuttā ca sā dvādasa hanti pāpake, khudaṃ pipāsaṃ aratiṃ daraklamaṃ †;
Kodhūpanāhañca vivādapesuṇaṃ, sītuṇhatandiñca rasuttamaṃ idaṃ’’.
And having been eaten, it destroys twelve evils: hunger, thirst, discontent, anxiety and fatigue, anger and resentment, quarrels and slander, cold, heat, and sloth. This is the supreme essence.
Khi được dùng, món ăn này diệt trừ mười hai điều xấu xa: đói, khát, bất mãn, lo âu, mệt mỏi, sân hận, oán thù, tranh cãi, nói đâm thọc, lạnh, nóng, và lười biếng. Đây là vị ngon tối thượng.
230.
230.
230.
‘‘Na kappatī mātali mayha bhuñjituṃ, pubbe adatvā iti me vatuttamaṃ;
Na cāpi ekāsnamarīyapūjitaṃ †, asaṃvibhāgī ca sukhaṃ na vindati’’.
It is not fitting for me to eat without having given beforehand, Mātali; such is my supreme vow. Nor is eating alone praised by the noble ones, and one who does not share does not find happiness.
Này Mātali, ta không thể dùng bữa mà chưa cho đi, đó là giới nguyện cao quý của ta. Việc ăn một mình không được các bậc Thánh tán thán, và người không chia sẻ sẽ không tìm thấy hạnh phúc.
231.
231.
231.
‘‘Thīghātakā ye cime pāradārikā, mittadduno ye ca sapanti subbate;
Sabbe ca te maccharipañcamādhamā, tasmā adatvā udakampi nāsniye †.
Those who harm women, those who commit adultery, those who betray friends, and those who curse the virtuous—all these, with stinginess as the fifth, are base. Therefore, without giving, I would not even consume water.
Những kẻ hãm hại phụ nữ, những kẻ ngoại tình, những kẻ phản bạn, và những kẻ nguyền rủa người có giới hạnh tốt đẹp; tất cả những kẻ đó, cùng với người keo kiệt là thứ năm, đều là những kẻ thấp hèn. Vì vậy, ta sẽ không dùng, dù chỉ là nước, nếu chưa cho đi.
232.
232.
232.
‘‘So hitthiyā vā purisassa vā pana, dassāmi dānaṃ vidusampavaṇṇitaṃ;
Saddhā vadaññū idha vītamaccharā, bhavanti hete sucisaccasammatā’’ †.
Therefore, to a woman or to a man, I shall give a gift praised by the wise. The faithful, the bountiful, those free from stinginess here, indeed become pure and esteemed by the truthful.
Ta sẽ bố thí cho người nam hay người nữ, sự bố thí được bậc hiền trí tán thán. Ở đời này, những người có đức tin, rộng lượng, không keo kiệt, những người ấy được xem là trong sạch và chân thật.
233.
233.
233.
‘‘Ato matā † devavarena pesitā, kaññā catasso kanakattacūpamā;
Āsā ca saddhā ca sirī tato hirī †, taṃ assamaṃ āgamu † yattha kosiyo.
Then, sent by the best of gods, four maidens with skin like gold—Āsā, Saddhā, Sirī, and then Hirī—came to that hermitage where Kosiya was.
Khi ấy, được vua trời sai đi, bốn vị thiếu nữ có làn da như vàng ròng, là Āsā (Hy Vọng), Saddhā (Đức Tin), Sirī (Phước Lành) và Hirī (Tàm Quý), đã đến am thất nơi có vị Kosiyo.
234.
234.
234.
‘‘Tā disvā sabbo paramappamodito †, subhena vaṇṇena sikhārivaggino;
Kaññā catasso caturo catuddisā, iccabravī mātalino ca sammukhā.
Seeing them—the four maidens from the four directions, with lovely complexions like flames of a fire—he was supremely delighted and spoke thus in Mātali's presence.
Thấy bốn vị thiếu nữ ở bốn phương, với vẻ đẹp rực rỡ như ngọn lửa, vị ấy vô cùng hoan hỷ và đã nói những lời này trước mặt Mātali.
235.
235.
235.
‘‘Purimaṃ disaṃ kā tvaṃ pabhāsi devate, alaṅkatā tāravarāva osadhī;
Pucchāmi taṃ kañcanavelliviggahe, ācikkha me tvaṃ katamāsi devatā.
Who are you, O goddess, who illuminates the eastern direction, adorned like the morning star, the best of stars? I ask you, O one with a body like a golden creeper, tell me, what deity are you?
Hỡi thiên nữ, người là ai đang tỏa sáng ở phương đông, được trang hoàng lộng lẫy như sao Mai, ngôi sao sáng nhất? Hỡi người có thân hình như dây leo vàng, ta hỏi người, hãy cho ta biết, người là vị thiên nữ nào?
236.
236.
236.
‘‘Sirāha devīmanujebhi † pūjitā, apāpasattūpanisevinī sadā;
Sudhāvivādena tavantimāgatā, taṃ maṃ sudhāya varapañña bhājaya.
I am Sirī, worshipped by gods and humans, always associating with beings free from evil. I have come to your presence because of the dispute over the divine food. Therefore, O one of excellent wisdom, share that divine food with me.
Tôi là nữ thần Sirī, được loài người tôn kính, luôn được những chúng sanh cao thượng thân cận. Tôi đến đây vì cuộc tranh luận về món cam lồ. Hỡi bậc trí tuệ cao siêu, xin hãy chia cho tôi phần cam lồ ấy.
237.
237.
237.
‘‘Yassāhamicchāmi sudhaṃ † mahāmuni, so † sabbakāmehi naro pamodati;
Sirīti maṃ jānahi jūhatuttama, taṃ maṃ sudhāya varapañña bhājaya’’.
The man whom I favor, O great sage, that man rejoices in all sensual pleasures. Know me as Sirī, O best of sacrificers. Therefore, O one of excellent wisdom, share the divine food with me.
Hỡi bậc Đại ẩn sĩ, người nào mà tôi ưa thích, người đó sẽ vui hưởng tất cả các dục lạc. Hỡi bậc tối thượng trong những người tế lửa, hãy biết tôi là Sirī. Hỡi bậc trí tuệ cao siêu, xin hãy chia cho tôi phần cam lồ ấy.
238.
238.
238.
‘‘Sippena vijjācaraṇena buddhiyā, narā upetā paguṇā sakammunā †;
Tayā vihīnā na labhanti kiñcanaṃ †, tayidaṃ na sādhu yadidaṃ tayā kataṃ.
People endowed with skill, knowledge-and-conduct, and intelligence, proficient in their own work; deprived of you, they obtain nothing. This is not good, this which is done by you.
Những người có tay nghề, kiến thức, phẩm hạnh, và trí tuệ, thành thạo trong công việc của mình; nhưng nếu không có ngươi, họ chẳng nhận được gì. Điều này không tốt, việc mà ngươi đã làm.
239.
239.
239.
‘‘Passāmi posaṃ alasaṃ mahagghasaṃ, sudukkulīnampi arūpimaṃ naraṃ;
Tayānugutto siri jātimāmapi †, peseti dāsaṃ viya bhogavā sukhī.
I see a man who is lazy, a glutton, even one of very low birth and ugly. Guarded by you, O Sirī, he employs even a man of high birth, who is wealthy and happy, like a slave.
Ta thấy một người đàn ông lười biếng, tham ăn, thuộc dòng dõi thấp kém và xấu xí, nhưng được ngươi bảo hộ, hỡi Sirī, lại sai khiến như một người hầu kẻ có dòng dõi cao quý, giàu có và hạnh phúc.
240.
240.
240.
‘‘Taṃ taṃ asaccaṃ avibhajjaseviniṃ, jānāmi mūḷhaṃ vidurānupātiniṃ;
Na tādisī arahati āsanūdakaṃ, kuto sudhā gaccha na mayha ruccasi’’.
“I know you to be untruthful, associating without discernment, deluded, and following after the unwise. Such a one is not worthy of even a seat and water, let alone ambrosia. Go, for you do not please me.”
Ta biết ngươi là kẻ không chân thật, kết giao không phân biệt, ngu si, và không theo bậc hiền trí. Một kẻ như vậy không xứng đáng được mời ngồi và dâng nước, huống chi là cam lồ. Hãy đi đi, ta không ưa ngươi.
241.
241.
241.
‘‘Kā sukkadāṭhā paṭimukkakuṇḍalā, cittaṅgadā kambuvimaṭṭhadhārinī;
Osittavaṇṇaṃ paridayha sobhasi, kusaggirattaṃ apiḷayha mañjariṃ.
“Who are you, with teeth so white, wearing earrings, adorned with decorated armlets, and bearing polished golden ornaments? You shine, clad in a lustrous garment, wearing a flower spray red as a flame-tipped blade of kusa grass.”
Người là ai, có hàm răng trắng, đeo hoa tai, vòng tay rực rỡ và trang sức bằng vàng bóng loáng? Người thật rạng rỡ khi khoác lên mình y phục màu vàng óng và cài một chùm hoa đỏ như ngọn cỏ kusa.
242.
242.
242.
‘‘Migīva bhantā saracāpadhārinā, virādhitā mandamiva udikkhasi;
Ko te dutīyo idha mandalocane, na bhāyasi ekikā kānane vane’’.
“Like a doe, startled and wounded by an archer with his bow, you gaze about so gently. Who is your companion here, O gentle-eyed one? Are you not afraid, all alone in this great forest?”
Giống như con nai cái hoảng sợ, bị người thợ săn mang cung tên bắn trượt, người nhìn quanh một cách e dè. Hỡi người có đôi mắt tròn xinh, ai là bạn đồng hành của người ở đây? Người không sợ hãi khi ở một mình trong khu rừng rậm này sao?
243.
243.
243.
‘‘Na me dutīyo idha matthi kosiya, masakkasārappabhavamhi devatā;
Āsā sudhāsāya tavantimāgatā, taṃ maṃ sudhāya varapañña bhājaya’’.
“I have no companion here, O Kosiya. I am a goddess from Masakkasāra. I, Hope, have come to your presence for the sake of ambrosia. Therefore, O one of excellent wisdom, please grant me a share of the ambrosia.”
Hỡi ngài Kosiyo, tôi không có bạn đồng hành ở đây. Tôi là một vị thiên nữ đến từ cõi trời Masakkasāra. Tôi là Āsā (Hy Vọng), đến đây vì mong muốn có được cam lồ. Hỡi bậc trí tuệ cao siêu, xin hãy chia cho tôi phần cam lồ ấy.
244.
244.
244.
‘‘Āsāya yanti vāṇijā dhanesino, nāvaṃ samāruyha parenti aṇṇave;
Te tattha sīdanti athopi ekadā, jīnādhanā enti vinaṭṭhapābhatā.
“For the sake of hope, merchants seeking wealth go forth; boarding a ship, they journey across the ocean. There they sink, or else at times they return with their wealth lost and their cargo ruined.”
Vì hy vọng, những thương nhân tìm kiếm của cải đã lên thuyền và đi ra biển cả. Họ bị chìm ở đó, hoặc có lúc trở về với tài sản mất mát, hàng hóa bị hủy hoại.
245.
245.
245.
‘‘Āsāya khettāni kasanti kassakā, vapanti bījāni karontupāyaso;
Ītīnipātena avuṭṭhitāya † vā, na kiñci vindanti tato phalāgamaṃ.
“For the sake of hope, farmers plow their fields; they sow the seeds and skillfully tend to their work. But through the onset of blight or through drought, they obtain no harvest therefrom.”
Vì hy vọng, những người nông dân cày ruộng, họ gieo hạt và làm việc theo mùa. Nhưng vì thiên tai hoặc hạn hán, họ không thu được chút hoa lợi nào từ đó.
246.
246.
246.
‘‘Athattakārāni karonti bhattusu, āsaṃ purakkhatvā narā sukhesino;
Te bhatturatthā atigāḷhitā puna, disā panassanti aladdha kiñcanaṃ.
“Putting hope before them, men who seek happiness perform services for their masters. For their masters' sake they are sorely oppressed, and then flee to all quarters, having gained nothing at all.”
Rồi những người tìm kiếm hạnh phúc, đặt hy vọng lên hàng đầu, đã phục vụ cho chủ của mình. Họ bị áp bức vì lợi ích của chủ, rồi lại bỏ trốn tứ tán mà không nhận được gì.
247.
247.
247.
‘‘Hitvāna † dhaññañca dhanañca ñātake, āsāya saggādhimanā sukhesino;
Tapanti lūkhampi tapaṃ cirantaraṃ, kumaggamāruyha † parenti duggatiṃ.
“For the sake of hope, those who seek happiness abandon grain, wealth, and kin. With minds set on heaven, they practice even harsh austerities for a very long time; yet, having taken a wrong path, they proceed to a woeful state.”
Từ bỏ ngũ cốc, của cải và bà con, vì hy vọng, những người tìm kiếm hạnh phúc hướng tâm về cõi trời, họ thực hành khổ hạnh khắc nghiệt trong một thời gian dài. Nhưng đi vào con đường sai lầm, họ lại đến cõi khổ.
248.
248.
248.
‘‘Āsā visaṃvādikasammatā ime, āse sudhāsaṃ † vinayassu attani;
Na tādisī arahati āsanūdakaṃ, kuto sudhā gaccha na mayha ruccasi’’.
“O Hope, you are known to be a deceiver of these beings. Remove this desire for ambrosia from yourself! Such a one is not worthy of even a seat and water, let alone ambrosia. Go, for you do not please me.”
Hy vọng được xem là kẻ lừa dối. Hỡi Āsā, hãy từ bỏ hy vọng về món cam lồ trong lòng ngươi. Một kẻ như vậy không xứng đáng được mời ngồi và dâng nước, huống chi là cam lồ. Hãy đi đi, ta không ưa ngươi.
249.
249.
249.
‘‘Daddallamānā yasasā yasassinī, jighaññanāmavhayanaṃ disaṃ pati;
Pucchāmi taṃ kañcanavelliviggahe, ācikkha me tvaṃ katamāsi devatā’’.
“Shining with glory, O glorious one, lady of the quarter called by the inferior name, the West! I ask you, O one with a body like a golden creeper: tell me, which goddess are you?”
Hỡi người lừng lẫy, đang tỏa sáng với danh tiếng ở phương được gọi bằng cái tên thấp kém nhất (phương Tây). Hỡi người có thân hình như dây leo vàng, ta hỏi người, hãy cho ta biết, người là vị thiên nữ nào?
250.
250.
250.
‘‘Saddhāha devīmanujehi † pūjitā, apāpasattūpanisevinī sadā;
Sudhāvivādena tavantimāgatā, taṃ maṃ sudhāya varapañña bhājaya’’.
“I am Saddhā, the goddess Faith, honored by humankind and ever attended by virtuous beings. I have come to your presence on account of the dispute over the ambrosia. Therefore, O one of excellent wisdom, please grant me a share of the ambrosia.”
Tôi là nữ thần Saddhā (Đức Tin), được loài người tôn kính, luôn được những chúng sanh cao thượng thân cận. Tôi đến đây vì cuộc tranh luận về món cam lồ. Hỡi bậc trí tuệ cao siêu, xin hãy chia cho tôi phần cam lồ ấy.
251.
251.
251.
‘‘Dānaṃ damaṃ cāgamathopi saṃyamaṃ, ādāya saddhāya karonti hekadā;
Theyyaṃ musā kūṭamathopi pesuṇaṃ, karonti heke puna viccutā tayā.
“Through faith, some at times practice generosity, self-control, renunciation, and also restraint. But others, having fallen away from you, then commit theft, falsehood, fraud, and also slander.”
Có lúc, một số người nhờ có đức tin mà thực hành bố thí, tự chủ, xả ly và tiết chế. Nhưng rồi, một số khác, bị ngươi làm cho sa ngã, lại thực hành trộm cắp, nói dối, gian lận và nói đâm thọc.
252.
252.
252.
‘‘Bhariyāsu poso sadisīsu pekkhavā †, sīlūpapannāsu patibbatāsupi;
Vinetvāna † chandaṃ kulitthiyāsupi †, karoti saddhaṃ puna † kumbhadāsiyā.
“A man with desire, turning away from his own wives—though they be his equals, endowed with virtue, and faithful to their husband—and even from other women of good family, will then place his faith in the word of a mere water-carrying slave.”
Một người đàn ông có những người vợ tương xứng, có giới hạnh, chung thủy, và cả những phụ nữ quý phái, nhưng lại từ bỏ ham muốn đối với họ, rồi lại đặt niềm tin vào một nữ tỳ.
253.
253.
253.
‘‘Tvameva saddhe paradārasevinī, pāpaṃ karosi kusalampi riñcasi;
Na tādisī arahati āsanūdakaṃ, kuto sudhā gaccha na mayha ruccasi’’.
“O Saddhā, it is you who causes one to resort to another's wife! You commit evil and abandon the wholesome. Such a one is not worthy of even a seat and water, let alone ambrosia. Go, for you do not please me.”
Hỡi Saddhā, chính ngươi khiến người ta ngoại tình. Ngươi làm điều ác và từ bỏ điều thiện. Một kẻ như vậy không xứng đáng được mời ngồi và dâng nước, huống chi là cam lồ. Hãy đi đi, ta không ưa ngươi.
254.
254.
254.
‘‘Jighaññarattiṃ aruṇasmimūhate, yā dissati uttamarūpavaṇṇinī;
Tathūpamā maṃ paṭibhāsi devate, ācikkha me tvaṃ katamāsi accharā.
“At the end of the night, as the dawn is rising, she who is seen is of the most excellent form and beauty. You appear to me just like her, O goddess. Tell me, which celestial nymph are you?”
“Này thiên nữ, vào lúc cuối đêm, khi rạng đông ló dạng, vị nữ nhân có dung sắc tuyệt vời kia được nhìn thấy; đối với tôi, nàng cũng hiện ra tương tự như vậy. Xin hãy cho tôi biết, nàng là vị thiên nữ nào?”
255.
255.
255.
‘‘Kālā nidāgheriva aggijāriva †, anileritā lohitapattamālinī;
Kā tiṭṭhasi mandamigāvalokayaṃ †, bhāsesamānāva giraṃ na muñcasi’’.
“Like a dark cloud in the hot season, like a flame fanned by the wind, wearing a garland of red leaves—who are you that stands there, gazing like a gentle doe? You seem as if you wish to speak, yet you utter no word.”
“Như dây leo sậm màu trong mùa nóng, như ngọn lửa được gió thổi bùng, nàng trang điểm vòng hoa lá đỏ. Nàng là ai đang đứng đó, với ánh nhìn như của con nai hiền, dường như muốn nói mà chẳng thốt nên lời?”
256.
256.
256.
‘‘Hirāha devīmanujehi pūjitā, apāpasattūpanisevinī sadā;
Sudhāvivādena tavantimāgatā, sāhaṃ na sakkomi sudhampi yācituṃ;
Kopīnarūpā viya yācanitthiyā’’.
“I am Hirī, the goddess of conscience, honored by humankind and ever attended by virtuous beings. I have come to your presence on account of the dispute over the ambrosia. Yet I, that very person, am unable to ask for the ambrosia, for a woman's begging is like a thing of shame.”
“Tôi là thiên nữ Hirī, được loài người tôn kính, luôn được các bậc hiền thiện gần gũi. Vì cuộc tranh luận về món ăn chư thiên, tôi đã đến đây tìm ngài. Nhưng tôi không thể mở lời xin món ăn ấy, vì đối với người nữ, việc cầu xin cũng giống như là kẻ không biết hổ thẹn.”
257.
257.
257.
‘‘Dhammena ñāyena sugatte lacchasi, eso hi dhammo na hi yācanā sudhā;
Taṃ taṃ ayācantimahaṃ nimantaye, sudhāya yañcicchasi tampi dammi te.
“O one of fair form, you shall receive it through principle and right method. For this is the rule: ambrosia is not won by begging. Since you do not beg, it is you whom I invite. Whatever ambrosia you desire, that ambrosia I shall give to you.”
“Này vị thiên nữ có thân hình xinh đẹp, nàng biết hổ thẹn đúng theo chánh pháp, đúng theo lẽ phải. Đây quả là một đức tánh tốt, vì món ăn chư thiên không thể có được do cầu xin. Vì nàng không cầu xin, nên ta mời nàng. Món ăn chư thiên nào nàng mong muốn, ta sẽ trao tặng cho nàng.”
258.
258.
258.
‘‘Sā tvaṃ mayā ajja sakamhi assame, nimantitā kañcanavelliviggahe;
Tuvañhi me sabbarasehi pūjiyā, taṃ pūjayitvāna sudhampi asniye’’.
“You, O one with a body like a golden creeper, are invited by me today to my own hermitage. For you are worthy of being honored by me with all flavors. Having honored you, I too shall partake of the ambrosia.”
“Này nàng có thân hình như dây leo vàng, hôm nay nàng được ta mời đến am thất của ta. Nàng xứng đáng được ta cúng dường với tất cả mọi hương vị. Sau khi cúng dường nàng, ta cũng sẽ dùng món ăn chư thiên ấy.”
259.
259.
259.
‘‘Sā kosiyenānumatā jutīmatā, addhā hiri rammaṃ pāvisi yassamaṃ;
Udakavantaṃ † phalamariyapūjitaṃ, apāpasattūpanisevitaṃ sadā.
“Permitted by the radiant Kosiya, Hirī then entered the delightful hermitage, a place endowed with water and fruit, honored by the noble, and ever frequented by virtuous beings.”
“Được vị ẩn sĩ Kosiya rạng ngời cho phép, thiên nữ Hirī quả đã bước vào am thất khả ái, nơi có đầy đủ nước và hoa trái, được các bậc thánh nhân tôn kính, và luôn được các bậc hiền thiện lui tới.”
260.
260.
260.
‘‘Rukkhaggahānā bahukettha pupphitā, ambā piyālā panasā ca kiṃsukā;
Sobhañjanā loddamathopi padmakā, kekā ca bhaṅgā tilakā supupphitā.
“Here many flowering trees of the forest grove were in full bloom: mangoes, piyālas, jackfruits, and kiṃsukas; sobhañjanas, loddas, and also padmakas; kekas, bhaṅgas, and tilakas, all beautifully blossomed.”
“Tại nơi đây, có nhiều lùm cây đang trổ hoa: xoài, piyāla, mít, và kiṃsuka; sobhañjanā, lodda, và cả padmaka; kekā, bhaṅgā, và tilakā, tất cả đều nở hoa rực rỡ.”
261.
261.
261.
‘‘Sālā karerī bahukettha jambuyo, assatthanigrodhamadhukavetasā †;
Uddālakā pāṭali sinduvārakā †, manuññagandhā mucalindaketakā.
“Here were many sāl trees and karerīs, many jambu trees, assatthas, nigrodhas, madhukas, and vetasas; uddālakas, pāṭalis, and sinduvārakas; and the sweet-scented mucalindas and ketakas.”
“Tại nơi đây, có nhiều cây sālā, karerī, và jambu; cây bồ đề, đa, madhuka, và vetasā; uddālakā, pāṭali, và sinduvārakā; mucalinda và ketakā, tỏa hương thơm ngát.”
262.
262.
262.
‘‘Hareṇukā veḷukā keṇu † tindukā, sāmākanīvāramathopi cīnakā;
Mocā kadalī bahukettha sāliyo, pavīhayo ābhūjino ca † taṇḍulā.
“Here grew hareṇukā, veḷukā, keṇu, and tinduka plants; sāmāka, nīvāra, and also cīnaka grains; wild and cultivated plantains; and here were many kinds of fine rice, paddy, self-grown grains, and husked rice.”
“Tại nơi đây, có hareṇukā, tre, keṇu, và tinduka; lúa hoang sāmāka, nīvāra, và cả cīnaka; chuối rừng, chuối nhà, và nhiều loại lúa gạo hảo hạng, lúa thường, ābhūjino, và gạo đã xay.”
263.
263.
263.
‘‘Tassevuttarapassena †, jātā pokkharaṇī sivā;
Akakkasā apabbhārā, sādhu appaṭigandhikā.
“And on its northern side was a natural, auspicious lotus pond, with smooth, gentle banks, pleasant, and with no offensive odor.”
“Và ở phía bắc của am thất ấy, có một hồ sen tự nhiên, an lành; bờ hồ bằng phẳng, không dốc, nước hồ trong lành, không mùi hôi.”
264.
264.
264.
‘‘Tattha macchā sanniratā, khemino bahubhojanā;
Siṅgū savaṅkā saṃkulā †, satavaṅkā ca rohitā;
Āḷigaggarakākiṇṇā, pāṭhīnā kākamacchakā.
“Therein fish dwelled, secure and well-fed, delighting in that place: siṅgū, savaṅkā, and rohitā fish; it was teeming with āḷis, gaggaras, pāṭhīnas, and kākamacchakas.”
“Ở đó, các loài cá sống vui vẻ, an toàn và có nhiều thức ăn. Có cá siṅgū, savaṅkā, saṃkulā, satavaṅkā, và rohitā; hồ đầy cá āḷigaggara, pāṭhīnā, và kākamacchakā.”
265.
265.
265.
‘‘Tattha pakkhī sanniratā, khemino bahubhojanā;
Haṃsā koñcā mayūrā ca, cakkavākā ca kukkuhā;
Kuṇālakā bahū citrā, sikhaṇḍī jīvajīvakā.
“Therein birds dwelled, secure and well-fed, delighting in that place: swans, herons, and peacocks; ruddy geese and cuckoos; many colorful kuṇālakas, crested birds, and partridges.”
“Ở đó, các loài chim sống vui vẻ, an toàn và có nhiều thức ăn. Có thiên nga, diệc, công, và vịt trời; chim cu, nhiều loài chim sặc sỡ, chim có mào, và chim jīvajīvaka.”
266.
266.
266.
‘‘Tattha pānāya māyanti, nānā migagaṇā bahū;
Sīhā byagghā varāhā ca, acchakokataracchayo.
“Many herds of various beasts would come there to drink: lions and tigers, boars, bears, and hyenas.”
“Đến nơi đó để uống nước, có nhiều đàn thú đủ loại: sư tử, cọp, heo rừng, gấu, và linh cẩu.”
267.
267.
267.
‘‘Palāsādā gavajā ca, mahiṃsā † rohitā rurū;
Eṇeyyā ca varāhā ca, gaṇino nīkasūkarā;
Kadalimigā bahukettha, biḷārā sasakaṇṇikā †.
“Rhinoceroses and gayals, buffaloes, rohita deer and ruru deer; eṇeyya deer and boars, herd-dwelling swine; and here were many kadali deer, wild cats, and hares.”
“Tê giác, bò rừng, trâu, hươu đỏ, và nai ruru; linh dương đen, heo rừng, bò tót, và lợn nīka; tại đây có nhiều hươu chuối, mèo, và thỏ.”
268.
268.
268.
‘‘Chamāgirī pupphavicitrasanthatā, dijābhighuṭṭhā dijasaṅghasevitā’’.
“The grounds and hills were carpeted with colorful flowers, resounding with the calls of birds and frequented by their flocks.”
“Những tảng đá bằng phẳng như mặt đất, được trải thảm hoa đa sắc, vang tiếng chim hót, là nơi đàn chim thường lui tới.”
269.
269.
269.
‘‘Sā suttacā nīladumābhilambitā, vijju mahāmegharivānupajjatha;
Tassā susambandhasiraṃ kusāmayaṃ, suciṃ sugandhaṃ ajinūpasevitaṃ;
Atricca † kocchaṃ hirimetadabravi, ‘nisīda kalyāṇi sukhayidamāsanaṃ’.
“She of fair complexion, as lovely as if suspended from a dark-leaved tree, entered like a flash of lightning from a great cloud. For her, at the leaf-hut's door, he spread out a much-desired seat of kusa grass with a well-tied top, clean, fragrant, and adorned with black antelope skin, and said this to Hirī: ‘Be seated, O fair one; this seat is comfortable.’”
“Nàng, với làn da mịn màng, tựa vào thân cây sẫm màu, rồi bước vào như tia chớp từ đám mây lớn. Vị ẩn sĩ trải ra một tấm đệm ngồi tuyệt hảo, được bện kỹ bằng cỏ kusa, sạch sẽ, thơm tho, phủ tấm da thú, và nói với Hirī rằng: ‘Này nàng xinh đẹp, xin hãy ngồi xuống, đây là chỗ ngồi thoải mái’.”
270.
270.
270.
‘‘Tassā tadā kocchagatāya kosiyo, yadicchamānāya jaṭājinandharo †;
Navehi pattehi sayaṃ sahūdakaṃ, sudhābhihāsī turito mahāmuni.
“Then, for her who was seated on the grass mat and desiring it, Kosiya, the great sage who wore matted hair and an antelope skin, himself quickly brought the ambrosia with water in fresh leaves.”
“Khi nàng đang ngồi trên tấm đệm theo như ý muốn, vị đại ẩn sĩ Kosiya, người có búi tóc và mặc da thú, đã nhanh chóng tự tay mình dùng những chiếc lá tươi, mang đến cho nàng món ăn chư thiên cùng với nước.”
271.
271.
271.
‘‘Sā taṃ paṭiggayha ubhohi pāṇibhi, iccabravi attamanā jaṭādharaṃ;
‘Handāhaṃ etarahi pūjitā tayā, gaccheyyaṃ brahme tidivaṃ jitāvinī’.
“Receiving it with both hands, she, with a gladdened heart, spoke thus to the matted-haired ascetic: ‘Indeed, now that I have been honored by you, O holy one, I shall return to the celestial realm, victorious.’”
“Nàng đón nhận món ăn bằng cả hai tay, lòng đầy hoan hỷ, và thưa với vị ẩn sĩ có búi tóc: ‘Thưa ngài, giờ đây con đã được ngài cúng dường, với tư cách là người chiến thắng, con xin trở về cõi trời Ba Mươi Ba’.”
272.
272.
272.
‘‘Sā kosiyenānumatā jutīmatā, udīritā † vaṇṇamadena mattā;
Sakāse gantvāna sahassacakkhuno, ayaṃ sudhā vāsava dehi me jayaṃ.
“Permitted by the radiant Kosiya, she, elated and intoxicated with the pride of her beauty, went into the presence of the Thousand-Eyed One and declared: ‘Here is the ambrosia, O Vāsava! Grant me the victory!’”
“Được vị ẩn sĩ Kosiya rạng ngời cho phép, nàng, trong niềm kiêu hãnh vì sắc đẹp của mình, đã đến trước mặt vị trời ngàn mắt và thưa rằng: ‘Thưa Vāsava, đây là món ăn chư thiên, xin hãy ban cho con sự chiến thắng’.”
273.
273.
273.
‘‘Tamena † sakkopi tadā apūjayi, sahindadevā † surakaññamuttamaṃ;
Sā pañjalī devamanussapūjitā, navamhi kocchamhi yadā upāvisi’’.
“Then Sakka himself, together with the gods, paid homage to her, that most excellent celestial maiden. Honored by gods and humans, with hands respectfully joined, she took her seat upon a new grass mat.”
“Khi ấy, Sakka cùng với các vị trời đã tôn vinh vị thiên nữ tuyệt vời ấy. Khi nàng, người được chư thiên và loài người tôn kính, chắp tay cung kính ngồi xuống trên tấm đệm mới, họ đã cúng dường nàng.”
274.
274.
274.
‘‘Tameva saṃsī † punadeva mātaliṃ, sahassanetto tidasānamindo;
Gantvāna vākyaṃ mama brūhi kosiyaṃ, āsāya saddhā † siriyā ca kosiya;
Hirī sudhaṃ kena malattha hetunā.
“Then the Thousand-Eyed One, lord of the Thirty-Three gods, again instructed Mātali: ‘Go and speak my words to Kosiya: “O Kosiya, for what reason was it that Hirī obtained the ambrosia, and not Āsā, Saddhā, or Sirī?”’”
“Vị trời ngàn mắt, vua của cõi trời Ba Mươi Ba, lại một lần nữa nói với Mātali: ‘Hãy đi và nói lại lời của ta với Kosiya: Này Kosiya, so với Āsā, Saddhā, và Sirī, vì lý do gì mà Hirī đã nhận được món ăn chư thiên?’”
275.
275.
275.
‘‘Taṃ su vatthaṃ udatārayī rathaṃ, daddallamānaṃ upakāriyasādisaṃ †.
Jambonadīsaṃ tapaneyyasannibhaṃ †, alaṅkataṃ kañcanacittasannibhaṃ.
“Then he brought forth that chariot, blazing like a celestial mansion, made of Jambu-river gold, like unto pure gold, adorned, and like a varied golden jewel.”
“Chàng đã cho chuẩn bị cỗ xe được trang bị tốt, rực rỡ, tráng lệ như một cung điện, làm bằng vàng Jambu, lấp lánh như vàng ròng, được trang hoàng, đẹp như một bức tranh vàng.”
276.
276.
276.
‘‘Suvaṇṇacandettha bahū nipātitā, hatthī gavassā kikibyagghadīpiyo †;
Eṇeyyakā laṅghamayettha pakkhino †, migettha veḷuriyamayā yudhā yutā.
“Many golden moons were affixed to it, along with figures of elephants, cattle, horses, jays, tigers, and leopards. There were antelopes and leaping birds, and beasts made of beryl, yoked as if for battle.”
“Trên đó, có nhiều hình mặt trăng bằng vàng được gắn vào; có hình voi, bò, ngựa, kinnara, cọp, và báo; có hình linh dương, và các loài chim; có hình các loài thú bằng ngọc lưu ly, được sắp đặt như đang giao chiến.”
277.
277.
277.
‘‘Tatthassarājaharayo ayojayuṃ, dasasatāni susunāgasādise;
Alaṅkate kañcanajāluracchade, āveḷine saddagame asaṅgite.
“To it they yoked a thousand royal Sindhu horses, bay in color, like young elephants, adorned with golden nets upon their chests, with ear ornaments, moving by voice alone, and proceeding without hindrance.”
“Họ đã thắng vào xe một ngàn con tuấn mã, to lớn như voi con, được trang hoàng, phủ lưới vàng, đeo trang sức, di chuyển theo hiệu lệnh bằng âm thanh, và không bị cản trở.”
278.
278.
278.
‘‘Taṃ yānaseṭṭhaṃ abhiruyha mātali, disā imāyo † abhinādayittha;
Nabhañca selañca vanappatiniñca †, sasāgaraṃ pabyadhayittha † mediniṃ.
“Mounting that most excellent of vehicles, Mātali made all these directions resound. He caused the sky, the mountains, the great forest trees, and the earth with its oceans to tremble.”
“Mātali, sau khi lên cỗ xe tuyệt vời ấy, đã làm vang dội khắp các phương trời. Chàng đã làm rung chuyển cả bầu trời, núi non, cây cối trong rừng, và cả mặt đất cùng với biển cả.”
279.
279.
279.
‘‘Sa khippameva upagamma assamaṃ, pāvāramekaṃsakato katañjalī;
Bahussutaṃ vuddhaṃ vinītavantaṃ, iccabravī mātali devabrāhmaṇaṃ.
Quickly approaching the hermitage, with his outer robe over one shoulder and with hands joined in reverence, Mātali spoke thus to the learned, venerable, and disciplined divine brahmin:
“Chàng nhanh chóng đến am thất, khoác y choàng qua một bên vai, chắp tay cung kính, và Mātali đã thưa với vị ẩn sĩ thánh thiện, người uyên bác, đáng kính, và có giới hạnh.”
280.
280.
280.
‘‘Indassa vākyaṃ nisāmehi kosiya, dūto ahaṃ pucchati taṃ purindado;
Āsāya saddhā siriyā ca kosiya, hirī sudhaṃ kena malattha hetunā’’.
“Hear the word of Indra, O Kosiya. I am his messenger; Purindada asks you: ‘O Kosiya, for what reason did Hirī obtain the ambrosia, rather than Āsā, Saddhā, and Sirī?’”
“‘Xin hãy lắng nghe lời của Indra, thưa Kosiya. Tôi là sứ giả của ngài, và Purindada hỏi ngài rằng: Này Kosiya, so với Āsā, Saddhā, và Sirī, vì lý do gì mà Hirī đã nhận được món ăn chư thiên?’”
281.
281.
281.
‘‘Andhā sirī maṃ paṭibhāti mātali, saddhā aniccā pana devasārathi;
Āsā visaṃvādikasammatā hi me, hirī ca ariyamhi guṇe patiṭṭhitā’’.
“Sirī seems blind to me, O Mātali; and Saddhā, O divine charioteer, is fickle. Āsā, for her part, is known to me as a promise-breaker, whereas Hirī is established in noble virtue.”
“Này Mātali, đối với ta, Sirī dường như mù quáng. Này người đánh xe của chư thiên, Saddhā thì lại hay thay đổi. Āsā thì ta cho là kẻ lừa dối. Còn Hirī thì được an lập trong đức hạnh cao thượng.”
282.
282.
282.
‘‘Kumāriyo yācimā gottarakkhitā, jiṇṇā ca yā yā ca sabhattuitthiyo;
Tā chandarāgaṃ purisesu uggataṃ, hiriyā nivārenti sacittamattano.
“These maidens protected by their clan, aged women, and women with husbands—they all, with modesty, restrain their own minds from the desire and lust that has arisen towards other men.”
“Này Mātali, những thiếu nữ giữ gìn gia tộc, những người phụ nữ đã già, và cả những người đã có chồng, khi lòng ham muốn dục vọng đối với người đàn ông khác trỗi dậy, họ dùng sự hổ thẹn để ngăn chặn tâm mình.”
283.
283.
283.
‘‘Saṅgāmasīse sarasattisaṃyute, parājitānaṃ patataṃ palāyinaṃ;
Hiriyā nivattanti jahitva † jīvitaṃ, te sampaṭicchanti punā hirīmanā.
“At the head of battle, amidst arrows and spears, the defeated, the falling, and the fleeing turn back because of modesty, having given up their lives. With minds full of modesty, they again accept the fight.”
“Này Mātali, ở nơi đầu trận tuyến, giữa tên bay giáo mác, những người bại trận, ngã gục, và tháo chạy, vì hổ thẹn mà họ quay trở lại, từ bỏ mạng sống. Với tâm hổ thẹn, họ lại một lần nữa đứng lên chiến đấu.”
284.
284.
284.
‘‘Velā yathā sāgaravegavārinī, hirāya hi pāpajanaṃ nivārinī;
Taṃ sabbaloke hirimariyapūjitaṃ, indassa taṃ vedaya devasārathi’’.
“Just as the shore restrains the ocean’s force, so indeed does modesty restrain people from evil. That modesty is honored by the noble ones in all the world—O divine charioteer, make this known to Indra.”
Hỡi người đánh xe của chư thiên, cũng như bờ biển ngăn chặn sức mạnh của sóng biển, nữ thần Tàm này ngăn cản chúng sanh khỏi điều ác. Vị nữ thần Tàm ấy, được các bậc Thánh nhân tán thán trong tất cả thế gian, hãy trình báo điều đó đến vua trời Đế Thích.
285.
285.
285.
‘‘Ko te imaṃ kosiya diṭṭhimodahi, brahmā mahindo atha vā pajāpati;
Hirāya devesu hi seṭṭhasammatā, dhītā mahindassa mahesi jāyatha’’.
“Who taught you this view, O Kosiya? Was it Brahmā, Mahinda, or Pajāpati? For Hirī is considered supreme among the gods; she was born as the daughter of Mahinda, the great seeker of virtue.”
Hỡi đạo sĩ Kosiya, ai đã khiến ngài chấp nhận tà kiến này? Có phải là Phạm Thiên, vua trời Đế Thích, hay là vị chúa tể của chúng sanh? Nữ thần Tàm, người tìm kiếm công đức cao cả, con gái của vua trời Đế Thích vĩ đại, đã sanh ra và được xem là cao quý nhất trong các cõi trời.
286.
286.
286.
‘‘Handehi dāni tidivaṃ apakkama †, rathaṃ samāruyha mamāyitaṃ imaṃ †;
Indo ca taṃ indasagotta kaṅkhati, ajjeva tvaṃ indasahabyataṃ vaja’’.
“Come now, let us depart for heaven, having mounted this cherished chariot of mine. Indra longs for you, O one of Indra’s lineage; this very day, go to companionship with Indra.”
Hỡi đạo sĩ cùng dòng dõi với Đế Thích, tôi xin thỉnh mời, bây giờ hãy đến đây, hãy đi đến cõi trời Ba Mươi Ba. Hãy lên cỗ xe được yêu quý này. Vua trời Đế Thích cũng mong muốn gặp ngài. Ngay trong hôm nay, ngài hãy đi đến cảnh giới đồng bạn với vua trời Đế Thích.
287.
287.
287.
‘‘Evaṃ visujjhanti † apāpakammino, atho suciṇṇassa phalaṃ na nassati;
Ye keci maddakkhu sudhāya bhojanaṃ, sabbeva te indasahabyataṃ gatā’’.
Thus are those of sinless action purified, and the fruit of good conduct does not perish. Whosoever saw the meal of ambrosia being given to Hirī, they all, having rejoiced in that gift, attained companionship with Indra.
Như vậy, những chúng sanh không làm điều ác được thanh tịnh, và quả của việc thiện đã làm không bị hoại diệt. Bất cứ ai đã thấy vật thực của chư thiên, tất cả những người ấy đều đã đi đến cảnh giới đồng bạn với vua trời Đế Thích.
288.
288.
288.
‘‘Hirī uppalavaṇṇāsi, kosiyo dānapati bhikkhu;
Anuruddho pañcasikho, ānando āsi mātali.
“Uppalavaṇṇā was Hirī; the donor monk was Kosiya; Anuruddha was Pañcasikha; Ānanda was Mātali.”
Nữ thần Tàm là Uppalavaṇṇā, vị Tỳ-kheo thí chủ là Kosiya; Anuruddha là thiên tử Pañcasikha, Ānanda đã là Mātali.
289.
289.
289.
‘‘Sūriyo kassapo bhikkhu, moggallānosi candimā;
Nārado sāriputtosi, sambuddho āsi vāsavo’’ti.
“The monk Kassapa was Sūriya; Moggallāna was Candimā; Sāriputta was Nārada; the Perfectly Enlightened One was Vāsava.”
Tỳ-kheo Kassapa là thiên tử Sūriya, Moggallāna là thiên tử Candimā; Sāriputta là đạo sĩ Nārada, bậc Chánh Đẳng Giác đã là Vāsava (Đế Thích).
Sudhābhojanajātakaṃ tatiyaṃ.
The Sudhābhojana Jātaka, the Third.
Bổn sanh Sudhābhojana, câu chuyện thứ ba.