Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
JA 534

Bản dịch

JA 534Chuyện đại Thi ên nga (Tiền thân Mahàhamsa)

2. Mahāhaṁsajātaka

3917 . Thưa chim chúa Dhataraṭṭha, (nghĩ rằng): ‘Ngài lâm cảnh khổ đau,’ thần không thể bỏ rơi ngài. Ngài không thể bảo thần dính líu đến việc làm không cao thượng.

3921 . Bởi vì, trong khi ta nhìn thấy khanh, thì sự sợ hãi không sanh lên ở ta. Khanh tìm đến với ta, trong khi ta hãy còn mạng sống như vầy.”

3932 . Nếu không vì mục đích của bản thân mà ông đặt bẫy bắt chim thiên nga, ông không có quyền trong khi thả chúng tôi đi. Này ông thợ săn, ông có thể phạm vào tội trộm cắp.

3934 . Được nói như thế, gã bẫy chim đã nâng hai con chim có lông vàng, có sắc vàng bằng hai tay, rồi cẩn thận đặt xuống trong cái lồng.

3943 . “Phụ nữ được biết đến do các sự tăng trưởng, người nào xứng đáng để chê bai phụ nữ. Những người phụ nữ gọi là có đức tính vĩ đại đã sanh lên ở thế gian.

3944 . Việc vui đùa được hình thành ở các nàng ấy, sự thích thú được thiết lập ở các nàng ấy, các mầm sống lớn lên trong (tử cung của) các nàng ấy, nghĩa là các chúng sanh được sanh ra. Người nam nào có thể nhàm chán các nàng ấy, sau khi đã kề cận hơi thở của các nàng ấy bằng những hơi thở của bản thân?

3945 . Này Sumukha, chính khanh, chứ không ai khác, gắn bó trong các nhu cầu đối với phụ nữ. Hôm nay, khi nỗi sợ hãi của khanh đây đã sanh khởi, do kinh sợ mà ý niệm được sanh ra.

3946 . Bởi vì, khi đạt đến sự hoài nghi (về mạng sống), tất cả (chúng sanh) đều cam chịu nỗi sợ hãi và khiếp đảm, còn các bậc sáng suốt, có vị thế cao cả, gắn bó với những mục đích khó gắn bó.

3949 . Kẻ được tự do đã không muốn bay đi, tự mình đã đi vào sự giam cầm. Hôm nay, khanh đây đã đạt đến sự hoài nghi. Khanh hãy nắm lấy mục đích, chớ miệng mồm.

3950 . Khanh đây hãy áp dụng phương pháp thích hợp, có liên quan đến đạo lý ấy. Khanh hãy đi tìm kiếm mạng sống cho trẫm theo phương thức của khanh.”

3954 . “Hãy ban cho gã thợ săn các vải vóc, cơm, nước, và vật thực. Hãy thực hiện ước muốn về vàng của gã; gã muốn chừng nào thì hãy ban cho gã chừng ấy.”

3956 . –làm thế nào với chiếc bẫy cầm tay mà khanh đã đi đến gần con thiên nga đang vui chơi ở giữa bầy? Làm thế nào khanh đã bắt được con thiên nga hạng nhất được che khuất bởi tập thể thân quyến?”

3959 . “Này thợ săn, đây có hai con chim, mà khanh nói về một con. Vậy có phải tâm của khanh bị lầm lẫn, hay là khanh ao ước điều gì?”

3963 . “Tâu vị chúa của xứ Kāsi, tôi không bị khiếp đảm sau khi đi vào hội chúng của bệ hạ. Khi có cơ hội như thế này, không phải vì sợ hãi mà tôi không nói ra lời.”

3965 . –không vàng thô hay vàng ròng, hoặc thành phố đã khéo được kiến tạo với tường thành bao bọc, hiểm trở, với tháp canh và trạm gác vững chải, này chim Sumukha, nơi nào người đã đi vào, ngươi không sợ hãi vật đáng sợ hãi (ở nơi ấy).”

3967 . Chúng tôi đã được nghe nói là sáng suốt, khôn khéo, có sự suy nghĩ tốt đẹp. Nếu bệ hạ đã an trú ở sự chân thật, chúng tôi sẽ nói lời nói có lợi ích.

3968 . Và nếu bệ hạ không chân thật, không cao thượng, có lời nói dối trá, tàn bạo, thì lời khéo nói được nói ra sẽ làm được điều gì cho bệ hạ?

3976 . Kẻ nào giết thú bằng thú mồi (đã được huấn luyện), hoặc giết chim bằng chim mồi, hoặc có thể cưỡng bức người thuyết giảng bằng tin đồn thất thiệt, có việc nào khác thô bỉ hơn việc ấy?

3978 . Không nên say đắm khi đạt được danh vọng, không nên sầu khổ khi (lâm cảnh hiểm nghèo) có sự hoài nghi về mạng sống, nên nỗ lực trong các việc cần phải làm và nên che đậy các khuyết điểm.

3998 . “Tâu vị Sát-đế-lỵ, bệ hạ có quan tâm (mạng sống ở) tương lai là không dài lâu không? Bệ hạ có không say đắm các đối tượng làm cho say đắm không? Bệ hạ có không hãi sợ về kiếp sống sau không?”

4000 . Bố thí, trì giới, thí xả, ngay thẳng, nhu hòa, khắc khổ, không giận dữ, không hãm hại, nhẫn nại, và không đối chọi.

4002 . Còn con chim Sumukha này không suy nghĩ, không biết rõ khuyết điểm về bản thể của chúng tôi, nên đã tuôn ra lời nói khiếm nhã.

4006 . “Trẫm tùy hỷ với việc này của khanh, về việc khanh không che giấu bản thể. Khanh đã phá tan sự ngăn cách. Này chim, khanh thật thẳng thắn.”

4009 . “Quả thật chúng tôi đã được bệ hạ nể trọng và tôn vinh, tâu đấng thủ lãnh xa binh, trong lúc chúng tôi tiến hành các thiện pháp, bệ hạ hãy là vị thầy của chúng tôi.

4012 . Sau đó, vào lúc cuối đêm, khi mặt trời mọc lên, trong lúc đức vua xứ Kāsi đang nhìn xem, hai con chim ấy đã lao đi từ cung điện của đức vua.