Bản dịch
JA 533 — Chuyện tiểu Thiên nga (Tiền thân Cullahamsa)
1 Cūḷahaṁsajātaka
3825 . “Này Sumukha, các con chim bay đi không ngó ngàng. Ngươi cũng hãy đi đi, chớ ngần ngại. Không còn tình bằng hữu (với ngươi ở nơi ta) khi ta đã bị dính bẫy.”
3827 . Cái chết cùng với ngài hay là cuộc sống không có ngài, nếu sống mà không có ngài thì cái chết quả thật tốt hơn.
3830 . Này loài có cánh, hay là ngươi nhìn thấy lợi ích gì cho ta, và cho ngươi, hoặc cho các thân quyến còn lại, khi có sự chấm dứt mạng sống của cả hai ta?
3831 . Này loài có cặp cánh vàng, việc từ bỏ mạng sống như thế ấy của ngươi được làm trong đêm đen, trong bóng tối thì giải thích được điều gì?”
3832 . “Tâu bậc cao cả của loài chim, tại sao ngài vẫn không thấu hiểu mục đích ở đạo lý? Đạo lý, trong khi được tôn trọng, chỉ cho chúng sanh thấy được mục đích.
3833 . Thần đây, trong lúc xem xét về đạo lý và mục đích phát xuất từ đạo lý, trong lúc nhìn thấy sự hy sinh ở ngài, thần không trông mong sự sống còn.
3835 . “Pháp ấy đã được ngươi thực hành và sự hy sinh ở ta đã được ngươi biết. Ngươi hãy thực hiện điều mong muốn ấy của ta. Đã được ta cho phép, ngươi hãy đi ngay.
3836 . Hơn nữa, khi ta đã bị dính bẫy như vậy, ta đã có sự gắn bó với các thân quyến, này vị có trí giác ngộ, ngươi nên gìn giữ hết mức về việc ấy.”
3837 . Trong khi hai con chim đang trao đổi về lối cư xử cao thượng của của các bậc cao thượng như vậy, gã bẫy chim đã xuất hiện, tựa như Thần Chết đã hiện ra đối với những kẻ bị bệnh tật.
3838 . Sau khi nhìn thấy kẻ thù đang đi đến, hai con chim ấy, hai người bạn thâm giao, đã ngồi im lặng, và cả hai đã không nhúc nhích khỏi chỗ ngồi.
3839 . Sau khi nhìn thấy hai con chim thiên nga đang bay lên từ chỗ này chỗ nọ, kẻ thù của loài chim đã hấp tấp đi đến gần hai con chim chúa.
3840 . Và sau khi đã hấp tấp đi đến kế cận hai con chim ưu tú, gã bẫy chim đã phân vân suy nghĩ rằng: “Chúng đã bị dính bẫy hay chưa?”
3842 . Do đó, bị phân vân thật sự, gã ấy đã nói với hai con chim thiên nga có thân hình to lớn, đang ngồi, chúa bầy của đàn chim, rằng:
3846 . “Làm thế nào con chim này lại không nhìn thấy cái bẫy đã được giăng ra? Bởi vì những kẻ trưởng thành đều có bản tánh này; chúng có khả năng nhận biết sự rủi ro.”
3860 . Ông hãy đến, tôi chỉ bảo ông để ông cũng sẽ đạt được lợi lộc, để chim chúa Dhataraṭṭha này không nhìn thấy bất cứ điều gì xấu xa của ông.
3866 . “Nhưng làm thế nào những con chim này đã sa vào trong tay của khanh? Làm thế nào thợ săn đã đạt đến nơi này, ở lãnh địa của các con vật to lớn?”
3868 . Con chim thiên nga chúa đã đi đến gần bẫy sập như thế ấy và đã bị dính bẫy. Còn con chim không bị dính bẫy này, ngồi gần con chim ấy, đã đối đáp với thần.
3870 . Con chim này, sau khi từ bỏ bản thân, là xứng đáng với mạng sống. Trong lúc ngồi kể lể, nó đã cầu xin mạng sống cho chim chúa.
3874 . Ông hãy đến, tôi chỉ bảo ông để ông cũng sẽ đạt được lợi lộc, để chim chúa Dhataraṭṭha này không nhìn thấy bất cứ điều gì xấu xa của ông.
3878 . Như vậy, theo lời nói của chim ấy, cả hai con chim này đã được thần đưa đi, và chúng đã có mặt ở ngay tại nơi này, (mặc dù) cả hai đã được thần cho phép ra đi.
3884 . “Có phải bất cứ lỗi lầm nào đều không tìm thấy ở các quan đại thần của bệ hạ? Có phải họ không tiếc rẻ mạng sống cho những mục đích của bệ hạ?”
3885 . “Bất cứ lỗi lầm nào cũng đều không tìm thấy ở các quan đại thần của trẫm. Họ không tiếc rẻ mạng sống cho những mục đích của trẫm.”
3889 . Vậy có phải gã này đã lao đến và đánh đập ngài bằng cây gậy? Bản tánh tự nhiên của những kẻ đáng khinh này vào lúc ấy là như vậy.”
3893 . Trong khi ước muốn tài sản cho gã thợ săn, vì lợi ích của gã ấy, chính Sumukha đã suy xét việc đi đến yết kiến bệ hạ.”
3895 . Sau khi làm thỏa mãn gã bẫy chim bằng các của cải, vị chúa của loài người, trong khi thốt lên lời nói êm tai, đã nói với chim thiên nga chúa rằng:
3896 . “Thật vậy, quyền lực giải quyết bất cứ việc gì thuộc về đạo đức, tất cả quyền hành đều thuộc về các ngài. Các ngài hãy chỉ thị điều các ngài muốn.
3905 . “Việc nào cần phải làm cho bạn bè chí thân, việc ấy đã được bệ hạ thực hiện đối với chúng tôi. Chúng tôi đã đạt được sự không nghi ngờ của bệ hạ, điều ấy là sự tận tụy của bệ hạ dành cho chúng tôi.
3908 . Tôi quả thật tìm được sự hỷ lạc vô bờ do việc gặp gỡ các ông. Việc ấy có thể tạo niềm tin cho thân quyến và còn có lợi ích lớn lao nữa.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
533. Cūḷahaṃsajātakaṃ (1)
533. The Cūḷahaṃsa Jātaka (1)
533. Chuyện Bổn sanh Tiểu Thiên Nga (1)
1.
1.
1.
‘‘Sumukha anupacinantā, pakkamanti vihaṅgamā;
Gaccha tuvampi mā kaṅkhi, natthi baddhe † sahāyatā’’.
“Sumukha, not waiting for me, the birds depart. You go too, do not linger; for one who is bound, there is no companionship.”
Này Sumukha, đàn chim đã bay đi, không còn đoái hoài. Ngươi cũng hãy đi đi, đừng do dự. Không có tình bạn đối với kẻ bị trói buộc.
2.
2.
2.
‘‘Gacche vāhaṃ na vā gacche, na tena amaro siyaṃ;
Sukhitaṃ taṃ upāsitvā, dukkhitaṃ taṃ kathaṃ jahe.
“Whether I go or do not go, by that I would not become immortal. Having attended upon you in happiness, how could I abandon you in your suffering?”
Dù tôi đi hay không đi, tôi cũng không vì thế mà trở nên bất tử. Đã hầu hạ ngài khi ngài an lạc, làm sao tôi có thể từ bỏ ngài khi ngài đau khổ?
3.
3.
3.
‘‘Maraṇaṃ vā tayā saddhiṃ, jīvitaṃ vā tayā vinā;
Tadeva maraṇaṃ seyyo, yañce jīve tayā vinā.
“Death with you, or life without you—that death is surely better than the life that would be lived without you.”
Hoặc là cái chết cùng với ngài, hoặc là sự sống không có ngài. Cái chết ấy (cùng ngài) tốt hơn là sự sống không có ngài.
4.
4.
4.
‘‘Nesa dhammo mahārāja, yaṃ taṃ evaṃ gataṃ jahe;
Yā gati tuyhaṃ sā mayhaṃ, ruccate vihagādhipa.
“This is not the way of the good, O great king, that I should abandon you in such a plight. Whatever your fate, that is my fate also; this is my choice, O lord of birds.”
Tâu Đại vương, đó không phải là chánh pháp khi từ bỏ ngài trong hoàn cảnh như vậy. Tâu Chúa tể loài chim, số phận nào của ngài, đó cũng là số phận của tôi, tôi hài lòng với điều đó.
5.
5.
5.
‘‘Kā nu pāsena baddhassa †, gati aññā mahānasā;
Sā kathaṃ cetayānassa, muttassa tava ruccati.
“For one bound by a snare, what other destination is there than the kitchen? How can that fate be pleasing to you, who are free and aware of it?”
Đối với kẻ bị trói bởi bẫy, còn có số phận nào khác ngoài nhà bếp? Làm sao số phận ấy lại làm ngươi hài lòng, ngươi là kẻ tự do, có thể nhận thức được?
6.
6.
6.
‘‘Kaṃ vā tvaṃ passase atthaṃ, mama tuyhañca pakkhima;
Ñātīnaṃ vāvasiṭṭhānaṃ, ubhinnaṃ jīvitakkhaye.
“In the destruction of the lives of both of us, what benefit do you see, O winged one, for me, for you, or for our remaining relatives?”
Hỡi loài có cánh, ngươi thấy được lợi ích gì cho ta, cho ngươi, hay cho bà con còn lại, khi mạng sống của cả hai chúng ta đều chấm dứt?
7.
7.
7.
‘‘Yaṃ na kañcanadepiñcha †, andhena tamasā gataṃ;
Tādise sañcajaṃ pāṇaṃ, kamatthamabhijotaye’’.
“O you with golden wings, I am gone into blinding darkness. By giving up your life in such a state, what purpose would you illuminate?”
Hỡi kẻ có đôi cánh vàng, điều này giống như kẻ mù đi vào bóng tối. Khi hy sinh mạng sống trong hoàn cảnh như vậy, ngươi sẽ làm sáng tỏ được mục đích gì?
8.
8.
8.
‘‘Kathaṃ nu patataṃ seṭṭha, dhamme atthaṃ na bujjhasi †;
Dhammo apacito santo, atthaṃ dasseti pāṇinaṃ.
“How is it, O best of flyers, that you do not understand the benefit in the Dhamma? The Dhamma, being honored, shows its benefit to living beings.”
Hỡi bậc tối thượng của loài bay, sao ngài không hiểu được lợi ích trong chánh pháp? Chánh pháp, khi được bậc thiện nhân tôn kính, sẽ mang lại lợi ích cho chúng sanh.
9.
9.
9.
‘‘Sohaṃ dhammaṃ apekkhāno, dhammā catthaṃ samuṭṭhitaṃ;
Bhattiñca tayi sampassaṃ, nāvakaṅkhāmi jīvitaṃ’’.
“I, who have regard for the Dhamma, and for the benefit that arises from the Dhamma, and seeing my devotion for you, do not long for my own life.”
Tôi đây, người đang trông đợi vào chánh pháp, và lợi ích phát sanh từ chánh pháp, và thấy rõ lòng trung thành đối với ngài, tôi không mong muốn mạng sống (của mình).
10.
10.
10.
‘‘Addhā eso sataṃ dhammo, yo mitto mittamāpade;
Na caje jīvitassāpi, hetudhammamanussaraṃ.
“Truly, this is the way of the good: that a friend, remembering the duties of friendship, does not abandon a friend in misfortune, not even for the sake of life itself.”
Quả thật, đây là pháp của bậc thiện nhân: người bạn, khi tưởng nhớ đến chánh pháp (của tình bạn), không từ bỏ bạn mình trong lúc hoạn nạn, ngay cả vì lý do mạng sống.
11.
11.
11.
‘‘Svāyaṃ dhammo ca te ciṇṇo, bhatti ca viditā mayi;
Kāmaṃ karassu mayhetaṃ, gacchevānumato mayā’’.
“This principle of friendship has been practiced by you, and your devotion to me is known. Fulfill this wish of mine; go, you are permitted by me.”
Ngươi đã thực hành chánh pháp ấy, và lòng trung thành của ngươi đối với ta đã được biết đến. Hãy làm theo ý muốn của ta về điều này: hãy đi đi, ta cho phép.
12.
12.
12.
‘‘Api tvevaṃ gate kāle, yaṃ khaṇḍaṃ † ñātinaṃ mayā;
Tayā taṃ buddhisampannaṃ †, assa paramasaṃvutaṃ.
“Moreover, should it come to pass at this time, may whatever breach is created by me among my kinsmen be perfectly guarded by you, who are endowed with wisdom.”
Tuy nhiên, trong hoàn cảnh như thế này, mong rằng ngươi, người có trí tuệ, sẽ bảo vệ một cách tốt nhất phần (trách nhiệm) đối với bà con mà ta đã (đảm nhận).
13.
13.
13.
‘‘Iccevaṃ † mantayantānaṃ, ariyānaṃ ariyavuttinaṃ;
Paccadissatha nesādo, āturānamivantako.
While they were thus deliberating, noble ones of noble conduct, the fowler appeared, like the Ender to the afflicted.
Trong khi hai bậc thánh, có hạnh kiểm cao thượng, đang bàn luận như vậy, người thợ săn đã xuất hiện, giống như thần chết đối với người bệnh.
14.
14.
14.
‘‘Te sattumabhisañcikkha, dīgharattaṃ hitā dijā;
Tuṇhīmāsittha ubhayo, na sañcalesumāsanā †.
Those twice-born, who for a long time had been beneficial to one another, observed the enemy; both remained silent and did not stir from their seat.
Hai con chim ấy, những người bạn lâu dài, nhìn thấy kẻ thù, cả hai đều ngồi im lặng, không hề lay động khỏi chỗ ngồi.
15.
15.
15.
‘‘Dhataraṭṭhe ca disvāna, samuḍḍente tato tato;
Abhikkamatha vegena, dijasattu dijādhipe.
And seeing the Dhataraṭṭha geese flying up from here and there, the enemy of birds swiftly approached the lords of the twice-born.
Và khi thấy những con ngỗng trời bay lên từ khắp nơi, kẻ thù của loài chim đã nhanh chóng tiến đến chỗ các vị chúa tể loài chim.
16.
16.
16.
‘‘So ca vegenabhikkamma, āsajja parame dije;
Paccakamittha † nesādo, baddhā iti vicintayaṃ.
And having swiftly advanced and drawn near to the supreme twice-born, the fowler proceeded cautiously, wondering, “Are they both bound?”
Và người thợ săn ấy, nhanh chóng tiến đến, lại gần hai con chim cao quý, người thợ săn đã đến gần, suy nghĩ: 'Cả hai đều bị trói chăng?'.
17.
17.
17.
‘‘Ekaṃva baddhamāsīnaṃ, abaddhañca punāparaṃ;
Āsajja baddhamāsīnaṃ, pekkhamānamadīnavaṃ.
He saw one sitting bound, and another one unbound; the latter sat near the bound one, looking on without distress.
(Anh ta thấy) một con đang ngồi, bị trói, và con kia thì không bị trói, đang ngồi gần con bị trói, nhìn nó một cách không sầu não.
18.
18.
18.
‘‘Tato so vimatoyeva, paṇḍare ajjhabhāsatha;
Pavaḍḍhakāye āsīne, dijasaṅghagaṇādhipe.
Then he, being perplexed, addressed the pale-golden ones, sitting there with their great bodies, the lords of the flocks of the twice-born.
Sau đó, người thợ săn ấy còn đang phân vân, đã hỏi những vị chúa của bầy chim, là những con ngỗng vàng có thân hình to lớn đang ở trong vũng bùn.
19.
19.
19.
‘‘Yaṃ nu pāsena mahatā, baddho na kurute disaṃ;
Atha kasmā abaddho tvaṃ, balī pakkhi na gacchasi.
“That the one bound by a great snare does not fly away is understandable; but why do you, a powerful bird, not go, being unbound?”
Vì lẽ rằng con chim bị trói bởi chiếc bẫy lớn không thể đi đến phương khác, vậy thì tại sao ngươi, hỡi chim mạnh mẽ không bị trói, lại không đi?
20.
20.
20.
‘‘Kinnu tyāyaṃ † dijo hoti, mutto baddhaṃ upāsasi;
Ohāya sakuṇā yanti, kiṃ eko avahīyasi’’.
“What, pray, is this twice-born to you, that you, being free, attend upon the bound one? The other birds have departed, leaving him behind; why do you alone remain?”
Con chim này là gì của ngươi, mà ngươi được tự do lại hầu cận con chim bị trói? Các loài chim khác đã bỏ đi, tại sao một mình ngươi lại ở lại?
21.
21.
21.
‘‘Rājā me so dijāmitta, sakhā pāṇasamo ca me;
Neva naṃ vijahissāmi, yāva kālassa pariyāyaṃ.
“O friend of the twice-born, he is my king and a friend equal to my very life. I will not abandon him, so long as my time endures.”
Hỡi bạn thợ săn chim, vị ấy là vua của tôi, và là người bạn thân thiết như mạng sống của tôi. Tôi sẽ không bao giờ rời bỏ vị ấy cho đến khi cái chết đến.
22.
22.
22.
‘‘Kathaṃ panāyaṃ vihaṅgo, nāddasa pāsamoḍḍitaṃ;
Padañhetaṃ mahantānaṃ, boddhumarahanti āpadaṃ.
“But how did this bird not see the snare that was set? For it is characteristic of the great to be able to perceive a calamity.”
Làm sao con chim này lại không thấy chiếc bẫy đã giăng? Quả thật, những bậc vĩ đại đáng lẽ phải nhận biết được tai họa.
23.
23.
23.
‘‘Yadā parābhavo hoti, poso jīvitasaṅkhaye;
Atha jālañca pāsañca, āsajjāpi na bujjhati.
“When a person faces ruin at the end of his life, then even upon encountering a net and a snare, he does not perceive it.”
Khi một người gặp phải suy vong, lúc mạng sống sắp tận, bấy giờ dù đến gần lưới và bẫy, cũng không nhận biết được.
24.
24.
24.
‘‘Api tveva mahāpañña, pāsā bahuvidhā tatā †;
Guyhamāsajja † bajjhanti, athevaṃ jīvitakkhaye’’.
“Indeed, O one of great wisdom, snares of many kinds are spread; thus, at the destruction of life, beings encounter a hidden snare and are bound.”
Quả thật vậy, hỡi bậc đại trí, nhiều loại bẫy đã được giăng ra; và như vậy, khi mạng sống sắp tận, chúng đến gần chỗ ẩn khuất và bị trói buộc.
25.
25.
25.
‘‘Api nāyaṃ tayā saddhiṃ, saṃvāsassa † sukhudrayo;
Api no anumaññāsi, api no jīvitaṃ dade’’.
“Surely, O fowler, living with you brings a happy result. Will you not permit us? Will you not grant us our lives?”
Phải chăng việc chung sống với ngài sẽ mang lại hạnh phúc? Phải chăng ngài sẽ cho phép chúng tôi? Phải chăng ngài sẽ ban cho chúng tôi mạng sống?
26.
26.
26.
‘‘Na ceva me tvaṃ baddhosi, napi icchāmi te vadhaṃ;
Kāmaṃ khippamito gantvā, jīva tvaṃ anigho ciraṃ’’.
“You are not bound by me, nor do I desire your death. Go quickly from here as you please, and live long without distress.”
Ngươi không bị ta trói buộc, ta cũng không muốn giết ngươi. Hãy mau chóng đi khỏi đây đến nơi ngươi muốn, ngươi hãy sống lâu, không phiền não.
27.
27.
27.
‘‘Nevāhametamicchāmi, aññatretassa jīvitā;
Sace ekena tuṭṭhosi, muñcetaṃ mañca bhakkhaya.
“I do not desire this freedom for myself, apart from his life. If you are satisfied with one, release him and devour me.”
Tôi không mong muốn được sống, ngoại trừ mạng sống của vị này. Nếu ngài hài lòng với một con, xin hãy thả vị này ra và hãy ăn thịt tôi.
28.
28.
28.
‘‘Ārohapariṇāhena, tulyāsmā † vayasā ubho;
Na te lābhena jīvatthi †, etena niminā tuvaṃ.
“In height and girth, and in age, we two are equal. There is no greater gain for you from his life; therefore, exchange me for him.”
Về chiều cao, vóc dáng và tuổi tác, cả hai chúng tôi đều tương đương. Ngài không được lợi ích gì từ mạng sống của vị ấy, xin ngài hãy đổi tôi lấy vị ấy.
29.
29.
29.
‘‘Tadiṅgha samapekkhassu †, hotu giddhi tavamhasu †;
Maṃ pubbe bandha pāsena, pacchā muñca dijādhipaṃ.
“Come now, consider this: let your greed be for us both. First bind me with the snare, and afterwards release the lord of the twice-born.”
Vậy thì, xin hãy xem xét, nếu ngài có lòng tham muốn đối với chúng tôi, hãy trói tôi trước bằng bẫy, sau đó hãy thả vua chim ra.
30.
30.
30.
‘‘Tāvadeva ca te lābho, katāssa † yācanāya ca;
Mitti ca dhataraṭṭhehi, yāvajīvāya te siyā’’.
“Just so will be your gain, and my request will have been fulfilled. And friendship with the Dhataraṭṭhas will be yours for as long as you live.”
Lợi ích của ngươi sẽ là như vậy: lời thỉnh cầu của ngươi đã được chấp thuận, và tình bạn với các Dhataraṭṭha sẽ là của ta trọn đời.
31.
31.
31.
‘‘Passantu no mahāsaṅghā, tayā muttaṃ ito gataṃ;
Mittāmaccā ca bhaccā ca, puttadārā ca bandhavā.
“Let the great flocks see him, released by you and departed from here; let his friends and ministers, servants, children, wife, and relatives see him.”
Xin hãy để đại chúng, bạn bè, các vị đại thần, tôi tớ, vợ con và quyến thuộc, được thấy vị ấy, được ngài thả ra, đã đi khỏi đây.
32.
32.
32.
‘‘Na ca te tādisā mittā, bahūnaṃ † idha vijjati;
Yathā tvaṃ dhataraṭṭhassa, pāṇasādhāraṇo sakhā.
“For many in this world, such friends as you do not exist; a friend to Dhataraṭṭha like you, who holds his life in common.”
Ở đời này, không có nhiều người có những người bạn như ngươi, người bạn cùng chia sẻ sinh mạng với Dhataraṭṭha.
33.
33.
33.
‘‘So te sahāyaṃ muñcāmi, hotu rājā tavānugo;
Kāmaṃ khippamito gantvā, ñātimajjhe virocatha’’.
“Therefore, I release your companion; may the king be your follower. Go quickly from here as you please, and may you both shine forth among your kinsmen.”
Vậy ta thả người bạn của ngươi ra, mong rằng đức vua sẽ đi theo ngươi. Hãy mau chóng đi khỏi đây đến nơi các ngươi muốn, và hãy tỏa sáng giữa vòng quyến thuộc.
34.
34.
34.
‘‘So patīto pamuttena, bhattunā † bhattugāravo;
Ajjhabhāsatha vakkaṅgo †, vācaṃ kaṇṇasukhaṃ bhaṇaṃ.
He, Sumukha, respectful of his master and delighted by his master being freed, addressed him, speaking words pleasant to the ear.
Vị ấy (Sumukha), người tôn kính chủ nhân, vui mừng vì chủ nhân đã được giải thoát, vị Vakkaṅga ấy nói lên những lời êm tai và thưa rằng:
35.
35.
35.
‘‘Evaṃ luddaka nandassu, saha sabbehi ñātibhi;
Yathāhamajja nandāmi, muttaṃ disvā dijādhipaṃ’’.
“Even so, O fowler, may you rejoice with all your kinsmen, just as I rejoice today, seeing the lord of the twice-born released.”
Hỡi người thợ săn, mong ngài cũng hoan hỷ như vậy cùng với tất cả quyến thuộc, như tôi hôm nay hoan hỷ khi thấy vua chim được giải thoát.
36.
36.
36.
‘‘Ehi taṃ anusikkhāmi, yathā tvamapi lacchase;
Lābhaṃ tavāyaṃ † dhataraṭṭho, pāpaṃ kiñci † na dakkhati.
“Come, I shall instruct you, so that you too may obtain a gain. This Dhataraṭṭha will perceive no harm whatsoever in you.”
Hãy lại đây, tôi sẽ chỉ cho ngài cách để ngài cũng có thể nhận được lợi lộc. Vị Dhataraṭṭha này sẽ không thấy điều xấu nào nơi ngài.
37.
37.
37.
‘‘Khippamantepuraṃ netvā †, rañño dassehi no ubho;
Abaddhe pakatibhūte, kāje † ubhayato ṭhite.
“Having quickly led us to the inner palace, show both of us to the king, unbound and in our natural state, standing on either side of a carrying-pole.”
Hãy mau chóng đưa đến hoàng cung và trình lên đức vua cả hai chúng tôi, không bị trói buộc, trong trạng thái tự nhiên, đang đứng ở hai đầu của đòn gánh.
38.
38.
38.
‘‘Dhataraṭṭhā mahārāja, haṃsādhipatino ime;
Ayañhi rājā haṃsānaṃ, ayaṃ senāpatītaro.
“O great king, these are Dhataraṭṭha geese, lords of their kind. This one is the king of the geese, and this other is his general.”
Tâu Đại vương Dhataraṭṭha, đây là những vị chúa của loài ngỗng trời; Vị này quả là vua của loài ngỗng trời, vị này là vị thống lãnh quân đội.
39.
39.
39.
‘‘Asaṃsayaṃ imaṃ disvā, haṃsarājaṃ narādhipo;
Patīto sumano vitto †, bahuṃ dassati te dhanaṃ’’.
“Without a doubt, having seen this goose-king, the lord of men, being delighted, joyful, and pleased, will give you much wealth.”
Chắc chắn không nghi ngờ gì, khi thấy vị vua ngỗng này, đức vua sẽ hài lòng, vui vẻ, và hoan hỷ, và sẽ ban cho ngài nhiều của cải.
40.
40.
40.
‘‘Tassa taṃ vacanaṃ sutvā, kammunā upapādayi;
Khippamantepuraṃ gantvā, rañño haṃse adassayi;
Abaddhe pakatibhūte, kāje ubhayato ṭhite.
Having heard those words of his, the fowler put them into action. Going quickly to the inner palace, he showed the geese to the king: unbound, in their natural state, standing on either side of a carrying-pole.
Nghe những lời ấy của vị ấy, người thợ săn đã thực hiện bằng hành động. Mau chóng đi đến hoàng cung, ông đã trình lên đức vua hai con ngỗng, không bị trói buộc, trong trạng thái tự nhiên, đang đứng ở hai đầu của đòn gánh.
41.
41.
41.
‘‘Dhataraṭṭhā mahārāja, haṃsādhipatino ime;
Ayañhi rājā haṃsānaṃ, ayaṃ senāpatītaro’’.
“O great king, these are Dhataraṭṭha geese, lords of their kind. Indeed, this one is the king of the geese, and this other is his general.”
Tâu Đại vương, những vị này là vua ngỗng thuộc dòng Dhataraṭṭha. Vị này là vua của loài ngỗng, vị kia là vị tổng tư lệnh.
42.
42.
42.
‘‘Kathaṃ panime vihaṅgā †, tava hatthattamāgatā †;
Kathaṃ luddo mahantānaṃ, issare idha ajjhagā’’.
“But how did these birds come into your hands? How did a fowler come to capture such great lords here?”
Nhưng làm thế nào mà những con chim này lại rơi vào tay ngươi? Làm thế nào mà một người thợ săn ở đây lại bắt được những vị chúa của các bậc vĩ đại?
43.
43.
43.
‘‘Vihitā santime pāsā, pallalesu janādhipa;
Yaṃ yadāyatanaṃ maññe, dijānaṃ pāṇarodhanaṃ.
“O lord of people, my snares are set in the marshes, in every place that I deem a resort for the twice-born and a means to end their lives.”
Tâu đức vua của nhân loại, những chiếc bẫy này đã được giăng ra trong các vũng lầy, bất cứ nơi nào tôi cho là nơi tụ tập, là nơi đoạt mạng của các loài chim.
44.
44.
44.
‘‘Tādisaṃ pāsamāsajja, haṃsarājā abajjhatha;
Taṃ abaddho upāsīno, mamāyaṃ ajjhabhāsatha.
“Having encountered such a snare, the goose-king was bound. The other, sitting near him unbound, addressed me thus.”
Khi đến gần một chiếc bẫy như vậy, vị vua ngỗng đã bị mắc bẫy. Vị này, không bị trói buộc, đã ở lại hầu cận vị ấy và đã nói với tôi.
45.
45.
45.
‘‘Sudukkaraṃ anariyehi, dahate bhāvamuttamaṃ;
Bhatturatthe parakkanto, dhammayutto † vihaṅgamo.
“Striving for his master's welfare, the bird was endowed with righteousness.”
Con chim sống đúng theo chánh pháp này, một người không phải là bậc thánh, đã thể hiện một phẩm chất cao thượng, đã nỗ lực vì lợi ích của chủ nhân, làm một việc rất khó làm.
46.
46.
46.
‘‘Attanāyaṃ † cajitvāna, jīvitaṃ jīvitāraho;
Anutthunanto āsīno, bhattu yācittha jīvitaṃ.
“This one, though worthy of life, gave up his own life; seated there and praising his master, he begged for his master's life.”
Vị này, người đáng sống, đã từ bỏ mạng sống của chính mình, đã ở lại ca ngợi và cầu xin mạng sống cho chủ nhân.
47.
47.
47.
‘‘Tassa taṃ vacanaṃ sutvā, pasādamahamajjhagā;
Tato naṃ pāmuciṃ † pāsā, anuññāsiṃ sukhena ca.
“Having heard those words of his, I was filled with serene confidence. Then I released him from the snare and gladly gave my permission.”
Nghe những lời ấy của vị ấy, tôi đã có được lòng tịnh tín. Do đó, tôi đã thả vị ấy ra khỏi bẫy và đã cho phép vị ấy đi một cách vui vẻ.
48.
48.
48.
‘‘‘So patīto pamuttena, bhattunā bhattugāravo;
Ajjhabhāsatha vakkaṅgo, vācaṃ kaṇṇasukhaṃ bhaṇaṃ.
“‘He, Sumukha, respectful of his master and delighted by his master being freed, addressed me, speaking words pleasant to the ear.’
Vị tướng quân Vakkaṅga ấy, vốn tôn kính chủ mình, hoan hỷ vì chủ đã được giải thoát, vừa nói lên những lời êm tai, vừa thưa rằng:
49.
49.
49.
‘‘‘Evaṃ luddaka nandassu, saha sabbehi ñātibhi;
Yathāhamajja nandāmi, muttaṃ disvā dijādhipaṃ.
“‘Even so, O fowler, may you rejoice with all your kinsmen, just as I rejoice today, seeing the lord of the twice-born released.’”
Này bạn thợ săn, mong bạn cùng tất cả quyến thuộc hãy hoan hỷ, cũng như tôi hôm nay hoan hỷ khi thấy vị Chúa loài chim được giải thoát.
50.
50.
50.
‘‘‘Ehi taṃ anusikkhāmi, yathā tvamapi lacchase;
Lābhaṃ tavāyaṃ dhataraṭṭho, pāpaṃ kiñci na dakkhati.
“‘Come, I shall instruct you, so that you too may obtain a gain. This Dhataraṭṭha will perceive no harm whatsoever in you.’”
Hãy lại đây, tôi sẽ chỉ dạy cho bạn, để bạn cũng có thể nhận được lợi lộc. Vua ngỗng Dhataraṭṭha này sẽ không thấy nơi bạn có chút ác ý nào.
51.
51.
51.
‘‘‘Khippamantepuraṃ netvā †, rañño dassehi no ubho;
Abaddhe pakatibhūte, kāje ubhayato ṭhite.
“Friend hunter, quickly take us to the inner palace and present us both to the king, unbound and in our natural state, standing on either side of the carrying pole.”
Hãy nhanh chóng mang chúng tôi vào nội cung, trình lên đức vua cả hai chúng tôi, trong trạng thái tự nhiên không bị trói buộc, đứng ở hai đầu đòn gánh.
52.
52.
52.
‘‘‘Dhataraṭṭhā mahārāja, haṃsādhipatino ime;
Ayañhi rājā haṃsānaṃ, ayaṃ senāpatītaro.
“O Great King, these are lords of the geese, of the Dhataraṭṭha breed. Indeed, this one is the king of the geese, and this other is his general.”
Tâu Đại vương, đây là các vị chúa loài ngỗng thuộc dòng Dhataraṭṭha. Vị này quả là vua của loài ngỗng, còn vị kia là tướng quân.
53.
53.
53.
‘‘‘Asaṃsayaṃ imaṃ disvā, haṃsarājaṃ narādhipo;
Patīto sumano vitto, bahuṃ dassati te dhanaṃ’.
“Without a doubt, having seen this goose-king, the lord of men, delighted, joyful, and pleased, will give you much wealth.”
Chắc chắn không nghi ngờ gì, khi thấy vị vua ngỗng này, vị Chúa tể loài người sẽ hài lòng, vui vẻ, hoan hỷ, và sẽ ban cho bạn nhiều của cải.
54.
54.
54.
‘‘Evametassa vacanā, ānītāme ubho mayā;
Ettheva hi ime āsuṃ †, ubho anumatā mayā.
“Thus, by his word, I have brought them both. Indeed, it was right here that I gave my consent for both to be brought.”
Tâu Đại vương, chính vì lời nói của vị ấy mà hạ thần đã mang cả hai vị này đến. Quả thật, chính tại nơi đây, hạ thần đã đồng ý cho cả hai vị này đi.
55.
55.
55.
‘‘Soyaṃ evaṃ gato pakkhī, dijo paramadhammiko;
Mādisassa hi luddassa, janayeyyātha maddavaṃ.
“This twice-born bird who has come thus is supremely righteous. Indeed, he could inspire gentleness even in a cruel hunter such as I.”
Tâu Đại vương, loài chim, loài sanh hai lần này, đã đến như vậy, quả là bậc tối thượng chánh pháp. Quả thật, vị ấy có thể làm phát sinh lòng nhân hậu nơi một người thợ săn như hạ thần.
56.
56.
56.
‘‘Upāyanañca te deva, nāññaṃ passāmi edisaṃ;
Sabbasākuṇikāgāme, taṃ passa manujādhipa’’.
“O Deva, I see no other gift like this for you, not even in the entire village of fowlers. Behold them, O lord of men.”
Tâu Thiên tử, hạ thần không thấy có lễ vật nào khác tương tự như thế này dâng lên ngài. Ngay cả trong khắp làng thợ săn chim, hạ thần cũng không thấy. Xin ngài, vị Chúa tể loài người, hãy chiêm ngưỡng.
57.
57.
57.
‘‘Disvā nisinnaṃ rājānaṃ, pīṭhe sovaṇṇaye subhe;
Ajjhabhāsatha vakkaṅgo, vācaṃ kaṇṇasukhaṃ bhaṇaṃ.
Seeing the king seated upon a beautiful golden seat, the goose-king addressed him, speaking words pleasant to the ear.
Khi thấy đức vua đang ngự trên chiếc ngai vàng xinh đẹp, ngỗng Vakkaṅga liền nói lên những lời êm tai, thưa rằng:
58.
58.
58.
‘‘Kaccinnu bhoto kusalaṃ, kacci bhoto anāmayaṃ;
Kacci raṭṭhamidaṃ phītaṃ, dhammena manusāsasi’’.
“I trust it is well with you, venerable sir? I trust you are free from illness? I trust this realm is prosperous, and that you rule with righteousness?”
Mong rằng Đại vương được an khang? Mong rằng Đại vương được vô bệnh? Mong rằng vương quốc này được phồn thịnh? Và ngài trị vì đúng theo chánh pháp chăng?
59.
59.
59.
‘‘Kusalañceva me haṃsa, atho haṃsa anāmayaṃ;
Atho raṭṭhamidaṃ phītaṃ, dhammena manusāsahaṃ’’ †.
“It is well with me, O goose, and I am also free from illness. This realm is also prosperous, and I rule with righteousness.”
Này hỡi ngỗng, ta được an khang, và này hỡi ngỗng, ta cũng được vô bệnh. Vương quốc này cũng phồn thịnh, và ta trị vì đúng theo chánh pháp.
60.
60.
60.
‘‘Kacci bhoto amaccesu, doso koci na vijjati;
Kacci ca † te tavatthesu, nāvakaṅkhanti jīvitaṃ’’.
“I trust that among your ministers no fault is found? And that in your service, they do not spare their own lives?”
Mong rằng nơi các vị bộ trưởng của Đại vương không có lỗi lầm nào? Và mong rằng họ không tiếc sinh mạng vì lợi ích của ngài chăng?
61.
61.
61.
‘‘Athopi me amaccesu, doso koci na vijjati;
Athopi te † mamatthesu, nāvakaṅkhanti jīvitaṃ’’.
“Also, among my ministers, no fault is found. And also, for my sake, they do not cling to their own lives.”
Cũng vậy, nơi các vị bộ trưởng của ta không có lỗi lầm nào. Và họ cũng không tiếc sinh mạng vì lợi ích của ta.
62.
62.
62.
‘‘Kacci te sādisī bhariyā, assavā piyabhāṇinī;
Puttarūpayasūpetā, tava chandavasānugā’’.
“I trust your wife is of equal standing, obedient, and speaks lovingly, endowed with sons, beauty, and fame, and compliant with your will?”
Mong rằng hiền thê của ngài môn đăng hộ đối, vâng lời, nói lời ái ngữ, có đủ con cái, sắc đẹp, danh tiếng, và luôn thuận theo ý muốn của ngài chăng?
63.
63.
63.
‘‘Atho me sādisī bhariyā, assavā piyabhāṇinī;
Puttarūpayasūpetā, mama chandavasānugā’’.
“Indeed, my wife is of equal standing, obedient, and speaks lovingly; she is endowed with sons, beauty, and fame, and is compliant with my will.”
Cũng vậy, hiền thê của ta môn đăng hộ đối, vâng lời, nói lời ái ngữ, có đủ con cái, sắc đẹp, danh tiếng, và luôn thuận theo ý muốn của ta.
64.
64.
64.
‘‘Bhavantaṃ † kacci nu mahā-sattuhatthattataṃ † gato;
Dukkhamāpajji vipulaṃ, tasmiṃ paṭhamamāpade.
“Your honor, did you fall into the hands of a great enemy? Did you encounter immense suffering in that first calamity?”
Mong rằng ngài đã không rơi vào tay của kẻ thù lớn? Khi gặp tai họa đó, ban đầu ngài có phải chịu nhiều đau khổ không?
65.
65.
65.
‘‘Kacci yantāpatitvāna, daṇḍena samapothayi;
Evametesaṃ jammānaṃ, pātikaṃ † bhavati tāvade’’.
“I trust the trapper, having rushed upon you, did not beat you with a stick? For such is the typical behavior of these base men.”
Mong rằng người thợ săn, sau khi chạy đến, đã không dùng gậy đập ngài? Vì đó thường là bản chất của những kẻ hèn hạ ấy vào lúc đó.
66.
66.
66.
‘‘Khemamāsi mahārāja, evamāpadiyā sati †;
Na cāyaṃ kiñci rasmāsu, sattūva samapajjatha.
“It was safe, O great king, even in such a calamity. Though we fell into the hands of one who was like an enemy, he did us no harm whatsoever.”
Tâu Đại vương, dù gặp phải tai họa như vậy, nhưng vẫn được an toàn. Dù chúng tôi đã rơi vào tay một người như kẻ thù, nhưng người này đã không làm hại gì chúng tôi cả.
67.
67.
67.
‘‘Paccagamittha nesādo, pubbeva ajjhabhāsatha;
Tadāyaṃ sumukhoyeva, paṇḍito paccabhāsatha.
“The fowler approached and spoke first with gentle words. Then the wise Sumukha himself replied to him.”
Người thợ săn đã đến gần, và ngay từ đầu đã nói lời ôn hòa. Khi ấy, chính vị Sumukha hiền trí này đã đáp lời.
68.
68.
68.
‘‘Tassa taṃ vacanaṃ sutvā, pasādamayamajjhagā;
Tato maṃ pāmucī pāsā, anuññāsi sukhena ca.
“Having heard his (Sumukha's) words, this fowler was filled with faith. Then he freed me from the snare and happily gave his consent.”
Sau khi nghe những lời ấy của vị ấy, người thợ săn này đã phát sinh lòng tín thành. Do đó, ông ta đã thả thần ra khỏi bẫy, và cũng đã cho phép chúng tôi đi một cách tốt đẹp.
69.
69.
69.
‘‘Idañca sumukheneva, etadatthāya cintitaṃ;
Bhoto sakāsegamanaṃ †, etassa dhanamicchatā’’.
“And this was devised by Sumukha himself for this very purpose: our coming into your presence, as he desired wealth for this hunter.”
Và việc đến yết kiến Đại vương đây cũng chính là do Sumukha, vì muốn cho người thợ săn này được của cải, đã suy tính ra vì mục đích đó.
70.
70.
70.
‘‘Svāgatañcevidaṃ bhavataṃ, patīto casmi dassanā;
Eso cāpi bahuṃ vittaṃ, labhataṃ yāvadicchati’’ †.
“Welcome indeed is your coming, and I am pleased to see you. May this hunter also receive much wealth, as much as he desires.”
Sự quang lâm của các ngài quả là một điều tốt lành. Trẫm rất hoan hỷ khi được diện kiến. Và người thợ săn này, hãy để ông ta nhận được nhiều của cải như ông ta mong muốn.
71.
71.
71.
‘‘Santappayitvā nesādaṃ, bhogehi manujādhipo;
Ajjhabhāsatha vakkaṅgaṃ, vācaṃ kaṇṇasukhaṃ bhaṇaṃ’’.
Having satisfied the fowler with riches, the lord of men addressed the goose-king, speaking words pleasant to the ear.
Sau khi làm cho người thợ săn thỏa mãn với của cải, vị Chúa tể loài người đã nói những lời êm tai, thưa với ngỗng Vakkaṅga rằng:
72.
72.
72.
‘‘Yaṃ khalu dhammamādhīnaṃ, vaso vattati kiñcanaṃ;
Sabbatthissariyaṃ tava †, taṃ pasāsa † yadicchatha.
“Whatever authority I wield is subject to the Dhamma. All sovereignty is yours; rule as you wish.”
Này vua ngỗng, quả thật, bất cứ quyền lực nào của trẫm có được đều dựa trên chánh pháp. Toàn bộ vương quyền này xin thuộc về ngài. Xin ngài hãy cai quản bất cứ điều gì ngài mong muốn.
73.
73.
73.
‘‘Dānatthaṃ upabhottuṃ vā, yaṃ caññaṃ upakappati;
Etaṃ dadāmi vo vittaṃ, issariyaṃ † vissajāmi vo’’.
“For giving as gifts or for your own use, or for whatever other purpose is suitable, this wealth I give to you. I relinquish my sovereignty to you.”
Hoặc để bố thí, hoặc để tiêu dùng, bất cứ của cải nào khác phù hợp với các ngài, trẫm xin dâng tặng của cải ấy. Trẫm xin từ bỏ vương quyền cho các ngài.
74.
74.
74.
‘‘Yathā ca myāyaṃ sumukho, ajjhabhāseyya paṇḍito;
Kāmasā buddhisampanno, taṃ myāssa paramappiyaṃ’’.
“And if this wise Sumukha, endowed with wisdom, would willingly speak to me, that would be most dear to me.”
Và nếu như vị Sumukha hiền trí, bậc đầy đủ trí tuệ này, có thể tùy ý nói với trẫm điều gì, thì điều đó sẽ là điều vô cùng quý mến đối với trẫm.
75.
75.
75.
‘‘Ahaṃ khalu mahārāja, nāgarājārivantaraṃ;
Paṭivattuṃ na sakkomi, na me so vinayo siyā.
“Indeed, O great king, like a Nāga king inside a basket, I am not able to speak in reply; that would not be proper conduct for me.”
Tâu Đại vương, hạ thần quả thật không thể đáp lời, giống như một vị long vương đã vào trong giỏ. Nếu làm vậy, đó sẽ không phải là phép tắc của hạ thần.
76.
76.
76.
‘‘Amhākañceva so † seṭṭho, tvañca uttamasattavo;
Bhūmipālo manussindo, pūjā bahūhi hetuhi.
“He is the noblest among us, and you are the highest of beings. Protector of the earth, lord of men, you are both worthy of veneration for many reasons.”
Vị ấy là bậc tối cao của chúng thần, còn ngài, vị Hộ trì quốc độ, Chúa tể loài người, cũng là bậc chúng sanh tối thượng. Cả hai vị đều đáng được cúng dường vì nhiều lý do.
77.
77.
77.
‘‘Tesaṃ ubhinnaṃ bhaṇataṃ, vattamāne vinicchaye;
Nantaraṃ † paṭivattabbaṃ, pessena † manujādhipa’’.
“While these two are conversing and a decision is being reached, a subordinate should not speak in between, O lord of men.”
Tâu Chúa tể loài người, khi hai vị đang đàm luận và phân xử, một người thuộc hạ không nên xen lời vào giữa.
78.
78.
78.
‘‘Dhammena kira nesādo, paṇḍito aṇḍajo iti;
Na heva akatattassa, nayo etādiso siyā.
“Friend goose, the fowler speaks righteously, it seems, saying, ‘The egg-born one is wise.’ Indeed, for one who is ungrateful, there could not be such a guide.”
"Người thợ săn quả thật đã nói đúng rằng: 'Loài sanh từ trứng này là bậc hiền trí'. Quả vậy, đối với kẻ vô ơn, không thể có được người dẫn dắt như thế này."
79.
79.
79.
‘‘Evaṃ aggapakatimā, evaṃ uttamasattavo;
Yāvatatthi mayā diṭṭhā, nāññaṃ passāmi edisaṃ.
“Such is his foremost nature, such is this highest of beings. Of all I have ever seen, I see no other like him.”
"Như vậy, (ngài) có bản tánh cao thượng, như vậy, (ngài) là bậc chúng sanh tối thượng. Trong số tất cả những chúng sanh mà ta đã từng thấy, ta chưa từng thấy một ai khác giống như vậy."
80.
80.
80.
‘‘Tuṭṭhosmi vo pakatiyā, vākyena madhurena ca;
Eso cāpi mamacchando, ciraṃ passeyya vo ubho’’.
“I am pleased with your nature and with your sweet speech. This is also my wish: that I may see you both for a long time.”
"Ta hài lòng với bản tánh của các ngài, và với lời nói ngọt ngào. Đây cũng là ý muốn của ta, là được nhìn thấy cả hai ngài trong một thời gian dài."
81.
81.
81.
‘‘Yaṃ kiccaṃ † parame mitte, katamasmāsu † taṃ tayā;
Pattā nissaṃsayaṃ tyāmhā †, bhattirasmāsu yā tava.
“Whatever should be done for a supreme friend, that you have done for us. The devotion you have for us, we have undoubtedly received.”
"Việc gì nên làm cho người bạn tối cao, việc ấy ngài đã làm cho chúng tôi. Chắc chắn chúng tôi đã đạt được tình bạn với ngài, nhờ vào lòng thành kính mà ngài dành cho chúng tôi."
82.
82.
82.
‘‘Aduñca nūna sumahā, ñātisaṅghassa mantaraṃ;
Adassanena asmākaṃ †, dukkhaṃ bahūsu pakkhisu.
“And now, surely, there is a great separation from our assembly of kin. Because we are not seen, sorrow has arisen among our many birds.”
"Và chắc chắn có sự tổn thất lớn lao cho đoàn thể quyến thuộc. Do không nhìn thấy chúng tôi, nỗi khổ đau sẽ sanh khởi nơi nhiều loài chim."
83.
83.
83.
‘‘Tesaṃ sokavighātāya, tayā anumatā mayaṃ;
Taṃ padakkhiṇato katvā, ñātiṃ † passemurindama †.
“To dispel their sorrow, may we, with your permission, circumambulate you respectfully and then go to see our kin, O tamer of foes.”
"Hỡi Đấng Chế Ngự Kẻ Thù, để tiêu trừ nỗi sầu muộn của họ, chúng tôi, sau khi được ngài cho phép, xin được đi quanh ngài theo chiều bên phải rồi đi thăm quyến thuộc."
84.
84.
84.
‘‘Addhāhaṃ vipulaṃ pītiṃ, bhavataṃ vindāmi dassanā;
Eso cāpi mahā attho, ñātivissāsanā siyā’’.
“Truly, I find great joy in seeing you both. And this would also be of great benefit, for it would reassure your kin.”
"Chắc chắn ta tìm thấy niềm hỷ lạc to lớn khi được nhìn thấy các ngài. Và việc an ủi quyến thuộc cũng là một lợi ích lớn lao."
85.
85.
85.
‘‘Idaṃ vatvā dhataraṭṭho †, haṃsarājā narādhipaṃ;
Uttamaṃ javamanvāya †, ñātisaṅghaṃ upāgamuṃ.
After Dhataraṭṭha, the goose-king, had said this to the lord of men, the two of them, employing supreme speed, approached their assembly of kin.
"Sau khi nói lời này với vị vua chúa của loài người, vua ngỗng Dhataraṭṭha, (cả hai) đã bay với tốc độ tối thượng và đến với đoàn thể quyến thuộc."
86.
86.
86.
‘‘Te aroge anuppatte, disvāna parame dije;
Kekāti makaruṃ haṃsā, puthusaddo ajāyatha.
Seeing those supreme, twice-born ones arrive unharmed, the geese made a ‘keka’ cry, and a great sound arose.
"Khi nhìn thấy hai vị chim cao quý ấy đã đến nơi an toàn và vô bệnh, bầy ngỗng đã cất lên tiếng kêu 'keka', một âm thanh lớn đã vang lên."
87.
87.
87.
‘‘Te patītā pamuttena, bhattunā bhattugāravā;
Samantā parikiriṃsu †, aṇḍajā laddhapaccayā’’.
Delighted that their lord was freed, and full of respect for him, the egg-born ones, having regained their support, surrounded him on all sides.
"Chúng, những loài sanh từ trứng, vui mừng vì vị chủ của mình đã được giải thoát, và với lòng tôn kính vị chủ, đã tìm lại được nơi nương tựa, chúng vây quanh ngài từ khắp mọi phía."
88.
88.
88.
‘‘Evaṃ mittavataṃ atthā, sabbe honti padakkhiṇā;
Haṃsā yathā dhataraṭṭhā, ñātisaṅghaṃ upāgamu’’nti.
Thus, for one who has good friends, all aims become successful, just as the Dhataraṭṭha geese were reunited with their assembly of kin.
"Như vậy, tất cả lợi ích của người có bạn tốt đều được thuận lợi, giống như những con ngỗng Dhataraṭṭha đã trở về với đoàn thể quyến thuộc của mình."
Cūḷa † haṃsajātakaṃ paṭhamaṃ.
The Cūḷahaṃsa Jātaka, the first.
Tiểu Thiên Nga Bổn Sanh, thứ nhất.
89.
89.
89.
90.
90.
90.
91.
91.
91.