Bản dịch
JA 532 — Chuyện hai hiền giả Sona - Nanda (Tiền thân Sona - Nanda)
2. Soṇanandajātaka
3733. “Phải chăng ngài là vị Thiên nhân, là vị Càn-thát-bà, hay là Thiên Chủ Sakka, vị đã bố thí trước đây, hay là người có thần thông? Làm thế nào chúng tôi có thể biết về ngài?”
3734. “Ta không phải là Thiên nhân, không phải là Càn-thát-bà, cũng không phải là Thiên Chủ Sakka, vị đã bố thí trước đây, ta là người có thần thông. Tâu vị cai quản đất nước, xin bệ hạ hãy biết như vậy.”
3735. “Công việc phục vụ với hình thức này đã được ngài làm không phải là ít. Trong khi trời đang mưa, ngài đã làm cho không có mưa.
3736. Sau đó, khi có làn gió nóng dữ dội, ngài đã tạo ra bóng râm mát mẻ. Kế đến, khi ở giữa quân thù, ngài đã làm ra sự che chắn các mũi tên.
3737. Tiếp đó, ngài đã làm cho các đất nước của vị quân vương chúng tôi trở nên phồn thịnh. Sau đó, ngài đã khiến cho một trăm vị Sát-đế-lỵ quy thuận.
3738. Chúng tôi thật sự hoan nghênh ngài. Ngài hãy chọn điều quý giá mà ngài thích. Hãy để chúng tôi ban cho ngài phương tiện di chuyển bằng voi, cỗ xe ngựa kéo, các nữ nhân đã được trang điểm, và các chỗ trú ngụ đáng yêu.
3739. Hay là chúng tôi sẽ ban tặng ngài xứ sở Aṅga hay Magadha. Hoặc là chúng tôi sẽ vui lòng ban tặng ngài xứ sở Assaka và Avanti.
3740. Thậm chí, hãy để chúng tôi ban tặng ngài luôn cả một nửa đất nước. Nếu ngài có nhu cầu với toàn thể vương quốc, xin ngài hãy lãnh đạo nếu ngài muốn.”
3741. “Ta không có nhu cầu với vương quốc, với thành phố, hay với của cải, thậm chí nhu cầu với xứ sở; nhu cầu của ta không có.
3742. Ở đất nước đã được thâu phục của chính bệ hạ, có một khu ẩn cư ở trong rừng. Người cha và người mẹ ruột của ta, cả hai trú ở khu ẩn cư (ấy).
3743. Ta không có được cơ hội để làm phước đến hai vị thầy đầu tiên ấy. Sau khi có bệ hạ làm người ủng hộ, chúng ta hãy yêu cầu Soṇa về việc ngăn cấm (làm phước) ấy.”
3744. “Thưa vị Bà-la-môn, điều mà ngài nói với trẫm, hãy để trẫm thực hiện lời nói ấy của ngài. Và ngài hãy giải thích cho chúng tôi điều này: ‘Phải có bao nhiêu người thỉnh cầu?’”
3745. “Hơn một trăm gia chủ, và các Bà-la-môn có đại sảnh, cùng tất cả các vị Sát-đế-lỵ đã được sanh ra cao quý, có danh tiếng này, và ngài là đức vua Manoja, thì sẽ đủ những người thỉnh cầu.”
3746. “Hãy chuẩn bị các con voi và các con ngựa. Này người đánh xe, hãy sẵn sàng cỗ xe. Các khanh hãy nắm lấy các dây cương, hãy giương lên các lá cờ ở những trụ cắm. Trẫm sẽ đi đến khu ẩn cư ấy, nơi vị Kosiya trú ngụ.”
3747. Và sau đó, đức vua đã khởi hành cùng với bốn đội quân binh. Đức vua đã đi đến khu ẩn cư đáng yêu, nơi vị Kosiya trú ngụ.
3748. “Cái giỏ làm bằng cây kadamba của người nào đang đi lấy nước mà di chuyển ở trên không với khoảng cách bốn ngón tay và không chạm vào vai của người ấy?”
3749. “Tâu đại vương, tôi là đạo sĩ khổ hạnh Soṇa đang hành trì phận sự. Tôi chăm sóc mẹ và cha, đêm ngày không biếng nhác.
3750. Tâu bậc chúa tể một phương, sau khi mang lại trái cây và rễ củ ở trong rừng, tôi phụng dưỡng mẹ và cha, trong khi tưởng nhớ đến ân đức đã làm trước đây (của họ).”
3751. “Chúng tôi muốn đi đến khu ẩn cư ấy, nơi vị Kosiya trú ngụ. Thưa ngài Soṇa, ngài hãy chỉ dẫn cho chúng tôi con đường, nhờ nó chúng tôi có thể đi đến khu ẩn cư.”
3752. “Tâu bệ hạ, đây là lối đi bộ độc nhất, theo đó (bệ hạ sẽ nhìn thấy) nơi ấy giống như đám mây, được bao phủ bởi những cây koviḷāra ; vị Kosiya trú ngụ ở nơi này.”
3753. Sau khi nói điều này, sau khi đã chỉ bảo cho các vị Sát-đế-lỵ, vị đại ẩn sĩ đã vội vã ra đi bằng đường hư không ở trên bầu trời.
3754. Sau khi quét dọn khu ẩn cư và xếp đặt chỗ ngồi, vị ấy đã đi vào gian nhà lá thông báo cho người cha:
3755. “Các vị vua đã được sanh ra cao quý, có danh tiếng này đang đi đến, thưa bậc đại ẩn sĩ, cha hãy rời khỏi nơi ẩn cư và ngồi xuống (ở đây).”
3756. Sau khi lắng nghe lời nói ấy của vị ấy, bậc đại ẩn sĩ đã vội vã rời khỏi nơi ẩn cư và đã ngồi xuống ở phía trước cánh cửa ra vào.
3757. Và sau khi nhìn thấy vị vua ấy–tựa như đang chói sáng nhờ vào uy quyền–đang đi đến, được tháp tùng bởi tập thể các vị Sát- đế- lỵ, bậc ẩn sĩ Kosiya đã nói điều này:
3758. “Người nào có các trống lớn và các trống nhỏ, các tù và bằng vỏ ốc, các chập chõa và các trống con di chuyển ở phía trước, đang làm vui lòng đấng thủ lãnh xa binh?
3759. Người nào mang khăn quấn đầu bằng vàng rộng lớn có màu sắc của tia chớp? Người nào, trẻ tuổi, nai nịt với bó tên, đang đi đến, chói sáng với sự vinh quang?
3760. Người nào tỏa sáng gương mặt vui tươi, giống như than hừng của cây khadira cháy rực ở miệng ở bễ lò rèn, đang đi đến, chói sáng với sự vinh quang?
3761. Cây lọng che của vị ấy, với gọng sườn làm thích ý, được giương lên cản ngăn ánh nắng mặt trời. Người nào đang đi đến, chói sáng với sự vinh quang?
3762. Người nào với chiếc quạt đuôi bò tuyệt hảo che chở cơ thể trong khi đang di chuyển, có trí tuệ cao quý, ở trên mình voi đang tiến đến gần?
3763. Người nào có những chiếc lọng màu trắng và những con ngựa thuần chủng đã được vũ trang tản mác ở xung quanh, khắp mọi nơi? Người nào đang sáng ngời rực rỡ đi đến?
3764. Người nào được một trăm vị Sát-đế-lỵ có danh tiếng tháp tùng, di chuyển theo ở khắp mọi nơi? Người nào đang đi đến, chói sáng với sự vinh quang?
3765. Bốn đội quân binh: tượng binh, kỵ binh, xa binh, và bộ binh di chuyển theo ở khắp mọi nơi. Người nào đang đi đến, chói sáng với sự vinh quang?
3766. Người nào có đội quân vĩ đại ấy tiếp nối ở phía sau, không bị rối loạn, không ước lượng được, tựa như các làn sóng của biển cả là tuần tự, vô số?”
3767. “Dức vua Manoja, vua của các vị vua, tựa như vị Thần Inda chúa tể của cõi Trời Đạo Lợi, ủng hộ tôn giả Nanda, và đi đến khu ẩn cư gặp bậc Phạm hạnh.
3768. Vị ấy có đội quân vĩ đại ấy tiếp nối ở phía sau, không bị rối loạn, không ước lượng được, tựa như các làn sóng của biển cả là tuần tự, vô số.”
3769. Tất cả (đoàn người) đã được thoa trầm hương, với trang phục hạng nhất của xứ Kāsi, đã chắp tay lại và đi đến gần các vị ẩn sĩ.
3770. “Chắc hẳn các ngài được tốt lành? Chắc hẳn các ngài không bệnh hoạn? Chắc hẳn các ngài nuôi sống bằng việc thu nhặt? Chắc hẳn có nhiều rễ củ và trái cây?
3771. Chắc hẳn có rất ít ruồi, muỗi, và các loài bò sát? Chắc hẳn không có sự hãm hại ở khu rừng có các loài thú dữ lai vãng?”
3772. “Tâu bệ hạ, chúng tôi có sự tốt lành. Và tâu bệ hạ, không có bệnh hoạn. Chúng tôi nuôi sống bằng việc thu nhặt. Rễ củ và trái cây có nhiều.
3773. Có rất ít ruồi, muỗi, và các loài bò sát. Không có sự hãm hại đến với chúng tôi ở khu rừng có các loài thú dữ lai vãng.
3774. Có nhiều cây cau lâu năm cho những người sống ở khu ẩn cư tại nơi này. Bần đạo không biết đến bệnh tật không thích ý đã được sanh khởi.
3775. Tâu đại vương, chào mừng bệ hạ đã đến và việc bệ hạ đã đi đến không gặp khó khăn. Bệ hạ là đấng chúa tể đã ngự đến; có việc gì ở nơi này xin bệ hạ hãy tuyên bố.
3776. Có các loại trái cây tinduka , piyāla , madhuka , kāsamārī ngọt như mật ong, tâu bệ hạ, xin bệ hạ hãy thưởng lãm các trái ngon nhất.
3777. Cũng có nước uống mát lạnh này được mang lại từ hang núi, tâu đại vương, xin bệ hạ hãy uống nước ấy nếu bệ hạ muốn.”
3778. “Vật giá trị mà các vị đã làm, đã bố thí cho tất cả chúng tôi, đã được thọ nhận. Xin các vị hãy lắng tai nghe lời nói của ngài Nanda sẽ phát biểu.
3779. Chúng tôi đã đi đến nơi này, là những người ủng hộ ngài Nanda. Thưa tôn đức, xin hãy lắng nghe lời nói của ngài Nanda và của hội chúng.”
3780. “Thưa các gia chủ hơn một trăm vị, và các Bà-la-môn có đại sảnh, cùng tất cả các vị Sát-đế-lỵ đã được sanh ra cao quý, có danh tiếng này, và ngài là đức vua Manoja, xin các vị hãy tán thành lời nói của bần đạo.
3781. Thưa các vị Dạ-xoa sống ở nơi này tại khu ẩn cư, các vị thần linh già trẻ ở khu rừng đã tụ hội lại, xin các vị hãy lắng nghe lời nói của tôi.
3782. Sau khi thực hiện việc kính lễ đến các bậc thần linh, tôi sẽ nói với vị ẩn sĩ có sự hành trì tốt đẹp. Thưa huynh Kosiya, đệ đây đã được huynh công nhận là cánh tay mặt của huynh.
3783. Trong khi đệ có ước muốn là người phụng dưỡng cha và mẹ ruột của đệ, thưa vị tinh tấn, việc làm này là phước thiện của đệ. Thưa huynh Kosiya, xin huynh chớ cấm cản đệ.
3784. Việc này đã được các bậc thiện nhân khích lệ. Huynh hãy trao lại việc này cho đệ. Về công việc đỡ đần và hầu hạ, huynh đã làm một thời gian dài. Các việc phước thiện ở cha và mẹ là thuộc về đệ, xin huynh hãy là người bố thí cõi Trời cho đệ.
3785. Tương tự y như vậy, có những người hiểu biết về pháp căn bản thuộc về đạo đức là đạo lộ đưa đến thế giới thuộc cõi Trời, giống như huynh biết vậy, thưa vị ẩn sĩ.
3786. Về việc đem lại sự an lạc cho mẹ và cha bằng công việc đỡ đần và hầu hạ, người cấm đoán đệ về việc phước thiện ấy là người ngăn cản đạo lộ cao thượng của đệ.”
3787. “Thưa các vị ủng hộ người em trai của tôi, xin các ngài hãy lắng nghe lời nói của tôi. Tâu đại vương, người huynh trưởng nào, trong khi bỏ bê truyền thống gia đình đã có trước đây, rồi có sự hành trì sai pháp, kẻ ấy sẽ tái sanh vào địa ngục.
3788. Tâu vị chúa tể một phương, những người nào thông thạo về đạo lý của tiền nhân, và được thành tựu về tánh hạnh, những người ấy không đi đến khổ cảnh.
3789. Mẹ, cha, anh em trai, chị em gái, thân bằng quyến thuộc, tất cả các trách nhiệm ấy là thuộc về huynh trưởng. Tâu vị cai quản đất nước, xin bệ hạ hãy biết như vậy.
3790. Tâu đấng thủ lãnh xa binh, tôi là huynh trưởng. Sau khi nhận lãnh trách nhiệm nặng nề, ví như người thủy thủ có thể ra sức, tôi không xao lãng bổn phận.”
3791. “Chúng tôi đã đạt được sự hiểu biết, tựa như ngọn lửa đang cháy sáng trong bóng tối, tương tự y như vậy, ngài Kosiya đã cho chúng tôi thấy rõ đạo lý.
3792. Giống như mặt trời, vị Thần của cải, bậc tạo ra ánh sáng, đang mọc lên cho các chúng sanh thấy rõ hình thể tốt đẹp hay xấu xa, tương tự y như vậy, ngài Kosiya đã cho chúng tôi thấy rõ đạo lý.”
3793. “Trong khi đệ đang cầu xin như vậy, huynh chẳng nhận biết sự chắp tay của đệ. Đệ sẽ là người hầu hạ, là người phục vụ đắc lực của huynh.”
3794. “Này Nanda, đương nhiên đệ nhận biết chánh pháp đã được bậc thiện nhân thuyết giảng. Là người cao thượng, có sự hành xử cao thượng, đệ khiến huynh rất hài lòng.
3795. Con xin trình bày với cha và mẹ. Mẹ và cha hãy lắng nghe lời nói của con. Trách nhiệm này không phải là gánh nặng và đã thuộc về con vào mọi lúc.
3796. Trong khi con đang quan tâm phận sự ấy, là việc đem lại sự an lạc cho mẹ và cha, thì Nanda, sau khi tạo sự ủng hộ, thỉnh cầu con về việc hầu hạ (mẹ và cha).
3797. Thật sự vị nào trong hai vị hành Phạm hạnh có đức độ mong muốn một cách tự nguyện, thì một vị trong hai vị hãy chọn Nanda. Vậy hãy để cho Nanda hầu hạ người nào đây?”
3798. “Con yêu, mẹ đã được con đồng ý. Này Soṇa, mẹ và cha nương tựa vào con. Vậy mẹ có thể chạm vào Nanda, vị hành Phạm hạnh, ở đỉnh đầu.
3799. Giống như chồi non của cây assattha bị lay động bởi gió, trái tim của mẹ rung động khi nhìn thấy lại Nanda sau một thời gian dài.
3800. Thậm chí lúc đang ngủ, trong giấc mơ, mẹ nhìn thấy Nanda đi đến. Mẹ trở nên phấn khởi, thích ý, (nói rằng): ‘Nanda này đi đến với chúng ta.’
3801. Và đến khi thức giấc, mẹ nhìn thấy Nanda đã không đi đến. Nỗi sầu muộn xâm nhập nhiều hơn, và nỗi ưu phiền không phải là ít.
3802. Hôm nay, mẹ đây nhìn thấy Nanda đã đi đến sau một thời gian dài. Hãy để Nanda yêu mến của cha và mẹ đi vào nhà của chúng ta.
3803. Và đối với cha, Nanda là vô cùng đáng yêu. Này con, hãy để cho Nanda chọn lấy việc Nanda sẽ không sống xa nhà. Hãy để Nanda hầu hạ mẹ.”
3804. “Mẹ là người có lòng bi mẫn, là bến bờ nương tựa, là người ban cho chúng ta hương vị đầu tiên, là đạo lộ đưa đến thế giới thuộc cõi Trời. Này ẩn sĩ, mẹ chọn đệ.
3805. Mẹ là người ban cho hương vị đầu tiên, là người bảo bọc, được gắn liền với phước báu, là đạo lộ đưa đến thế giới thuộc cõi Trời. Này ẩn sĩ, mẹ chọn đệ.”
3806. “Trong lúc mong mỏi sự thành tựu đứa con trai, mẹ lễ bái Thần linh và tìm hiểu về các vì sao, về mùa tiết và năm tháng.
3807. Vào thời kỳ tắm rửa lúc có tháng của mẹ, là thời điểm có sự đậu thai. Do việc đó, mẹ có sự ốm nghén. Do việc đó, mẹ được gọi là thai phụ.
3808. Sau khi cưu mang một năm hoặc ít hơn thì lâm bồn. Do việc đó, mẹ là sản phụ. Do việc đó, mẹ được gọi là người mẹ.
3809. Với sữa ở bầu vú, với lời ca, với việc ấp ủ vào giữa ngực, mẹ dỗ dành đứa con trai đang khóc. Do việc đó, mẹ được gọi là người dỗ dành.
3810. Sau đó, khi có gió và nóng dữ dội, mẹ tận tụy trông nom đứa bé trai còn thơ dại. Do việc đó, mẹ được gọi là người nuôi dưỡng.
3811. Tài sản nào là thuộc về mẹ và tài sản nào là thuộc về cha, mẹ bảo vệ cả hai cho đứa con trai, cho dù tài sản ấy có thể không thuộc về cậu ấy. Người mẹ khổ tâm (nhắc nhở rằng): ‘Này con trai, hãy làm như vầy. Này con trai, chớ làm điều ấy.’
3812. Người mẹ khổ tâm về đứa con trai khi đạt đến tuổi thanh niên bị đắm say những người vợ của kẻ khác vào lúc nửa đêm, và không đi đến (thăm mẹ) vào lúc xế chiều.’
3813. Như vậy, kẻ nào phụng dưỡng mẹ một cách bực bội, không hầu hạ mẹ, sau khi hành xử sái quấy với mẹ, kẻ ấy sẽ sanh vào địa ngục.
3814. Như vậy, kẻ nào phụng dưỡng cha một cách bực bội, không hầu hạ cha, sau khi hành xử sái quấy với cha, kẻ ấy sẽ sanh vào địa ngục.
3815. Tôi đã được nghe rằng: ‘Sau khi không chăm sóc mẹ, tài sản của những kẻ ham muốn tài sản cũng bị mất đi, hoặc kẻ ấy lâm cảnh khó khăn.’
3816. Tôi đã được nghe rằng: ‘Sau khi không chăm sóc cha, tài sản của những kẻ ham muốn tài sản cũng bị mất đi, hoặc kẻ ấy lâm cảnh khó khăn.’
3817. Sau khi chăm sóc mẹ, điều này được thành tựu đến người có nhận thức: Sự vui vẻ, sự hân hoan, và luôn luôn được cười đùa, chơi giỡn.
3818. Sau khi chăm sóc cha, điều này được thành tựu đến người có nhận thức: Sự vui vẻ, sự hân hoan, và luôn luôn được cười đùa, chơi giỡn.
3819. Ở đây, việc biếu tặng, lời nói trìu mến, việc làm hữu ích, và tính chất bình đẳng trong các việc chăm sóc một cách xứng đáng ở nơi này (có người chứng kiến) hoặc nơi khác (không người chứng kiến).
3820. Các pháp đối xử này ở thế gian tựa như cái chốt đinh ở trục bánh xe của cỗ xe đang di chuyển. Và nếu các pháp đối xử này không tồn tại thì người mẹ hay là người cha sẽ không nhận được sự kính trọng hay cúng dường phát xuất từ người con.
3821. Bởi vì các bậc sáng suốt trân trọng các pháp đối xử này, vì thế các vị đạt đến bản thể cao thượng, và có được sự khen ngợi.
3822. Mẹ và cha được gọi là ‘Phạm Thiên,’ ‘các vị thầy đầu tiên,’ ‘những bậc xứng đáng sự cống hiến’ của các con, là những người có lòng thương tưởng đến hàng con cháu.
3823. Chính vì thế, đối với mẹ và cha, bậc sáng suốt nên kính lễ và tôn vinh với cơm ăn, nước uống, vải vóc, và giường nằm, với sự xoa bóp, với việc tắm, và với việc rửa sạch các bàn chân.
3824. Với việc phục vụ ấy đến mẹ và cha, ngay ở kiếp này các bậc sáng suốt ca ngợi người ấy, sau khi chết người ấy vui hưởng ở cõi Trời.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Katarūpamidaṃ bhoto †, veyyāvaccaṃ anappakaṃ;
Devamhi vassamānamhi, anovassaṃ bhavaṃ akā.
‘Of what sort is this great service of yours, venerable sir? While the sky was raining, you caused it not to rain here.’
Sự phục vụ to lớn này của ngài là loại gì vậy? Khi trời đang mưa, ngài đã làm cho không bị ướt mưa.
95.
95.
95.
‘‘Tato vātātape ghore, sītacchāyaṃ bhavaṃ akā;
Tato amittamajjhesu †, saratāṇaṃ bhavaṃ akā.
‘Then, in the fierce wind and heat, you provided cool shade; then, amidst enemies, you provided a protection of arrows.’
Rồi trong gió và nắng gắt, ngài đã tạo ra bóng mát. Rồi giữa những kẻ địch, ngài đã tạo ra sự che chở khỏi các mũi tên.
96.
96.
96.
‘‘Tato phītāni raṭṭhāni, vasino te bhavaṃ akā;
Tato ekasataṃ khatye, anuyante † bhavaṃ akā.
‘Then you made the prosperous kingdoms subservient; then you made one hundred and one kings become your followers.’
Rồi ngài đã khiến các vương quốc phồn thịnh quy phục ngài. Rồi ngài đã khiến một trăm lẻ một vị vua đi theo ngài.
97.
97.
97.
‘‘Patītāssu mayaṃ bhoto, vada taṃ † bhañja † micchasi;
Hatthiyānaṃ assarathaṃ, nāriyo ca alaṅkatā;
Nivesanāni rammāni, mayaṃ bhoto dadāmase.
‘We are pleased with you, venerable sir. State what it is you desire. Elephant-vehicles, horse-chariots, adorned women, and delightful dwellings—these we shall give to you, venerable sir.’
Chúng tôi rất hài lòng về ngài, xin hãy nói điều ngài mong muốn. Xe voi, xe ngựa, những người phụ nữ được trang điểm, và những ngôi nhà xinh đẹp, chúng tôi sẽ ban cho ngài.
98.
98.
98.
‘‘Atha vaṅge † vā magadhe, mayaṃ bhoto dadāmase;
Atha vā assakāvantī †, sumanā damma te mayaṃ.
‘Or the kingdoms of Aṅga or Magadha, we will give to you, venerable sir. Or, with glad hearts, we shall give you Assaka and Avanti.’
Hoặc là xứ Vaṅga hay Magadha, chúng tôi sẽ ban cho ngài. Hoặc là xứ Assaka và Avantī, chúng tôi hoan hỷ dâng cho ngài.
99.
99.
99.
‘‘Upaḍḍhaṃ vāpi rajjassa, mayaṃ bhoto dadāmase;
Sace te attho rajjena, anusāsa yadicchasi’’.
‘Or even half of the kingdom, we will give to you, venerable sir. If you have need of the kingdom, command whatever you wish.’
Hoặc là một nửa vương quốc, chúng tôi sẽ ban cho ngài. Nếu ngài cần đến vương quốc, xin hãy truyền dạy điều ngài mong muốn.
100.
100.
100.
‘‘Na me atthopi rajjena, nagarena dhanena vā;
Athopi janapadena, attho mayhaṃ na vijjati.
‘I have no need of a kingdom, nor a city, nor wealth. Nor is there any need for me of a country.’
Ta không cần đến vương quốc, hay thành thị, hay của cải. Ta cũng không có nhu cầu về xứ sở.
101.
101.
101.
‘‘Bhotova raṭṭhe vijite, araññe atthi assamo;
Pitā mayhaṃ janettī ca, ubho sammanti assame.
‘In your own conquered kingdom, there is a hermitage in the forest. My father and my mother both dwell in that hermitage.’
Trong vương quốc do ngài cai trị, có một am thất ở trong rừng. Cha và mẹ của ta, cả hai vị đang sống trong am thất ấy.
102.
102.
102.
‘‘Tesāhaṃ † pubbācariyesu, puññaṃ na labhāmi kātave;
Bhavantaṃ ajjhāvaraṃ katvā, soṇaṃ † yācemu saṃvaraṃ’’.
‘I am unable to make merit towards them, my first teachers. With you as my support, let us ask Soṇa to forgive my transgression and to exercise restraint in the future.’
Con đã không làm được công đức đối với các bậc thầy đầu tiên (cha mẹ). Xin ngài hãy làm người bảo lãnh, để chúng ta cùng xin Soṇa sự thu thúc (tha thứ).
103.
103.
103.
‘‘Karomi te taṃ vacanaṃ, yaṃ maṃ bhaṇasi brāhmaṇa;
Etañca kho no akkhāhi, kīvanto hontu yācakā’’.
‘I shall do your bidding, O brahmin, whatever you say to me. But please tell us this: how many petitioners will there be?’
Ta sẽ làm theo lời của ngài, điều mà ngài nói với ta, hỡi vị Bà-la-môn. Nhưng hãy nói cho chúng tôi biết điều này: những người đi xin (tha thứ) sẽ có bao nhiêu vị?
104.
104.
104.
‘‘Parosataṃ jānapadā, mahāsālā ca brāhmaṇā;
Ime ca khattiyā sabbe, abhijātā yasassino;
Bhavañca rājā manojo, alaṃ hessanti yācakā’’.
‘More than a hundred country-dwellers, wealthy householders and brahmins, all these Khattiyas of high birth and great renown, and you yourself, King Manoja—these will be sufficient as petitioners.’
Hơn một trăm vị từ các xứ, các gia chủ và Bà-la-môn đại phú, và tất cả các vị Sát-đế-lỵ thuộc dòng dõi cao quý, có danh tiếng này, cùng với ngài, vua Manoja, sẽ là đủ để làm những người đi xin (tha thứ).
105.
105.
105.
‘‘Hatthī asse ca yojentu, rathaṃ sannayha sārathi †;
Ābandhanāni gaṇhātha, pādāsussārayaddhaje †;
Assamaṃ taṃ gamissāmi, yattha sammati kosiyo’’.
‘Let them yoke the elephants and horses! Charioteer, prepare the chariot! Take up the harnesses, raise the banners on the chariots! I shall go to that hermitage where Kosiya dwells.’
Hãy thắng voi và ngựa, hỡi người đánh xe, hãy chuẩn bị xe. Hãy lấy dây cương, hãy dựng cờ lên phía trước. Ta sẽ đi đến am thất ấy, nơi vị Kosiyo đang ở.
106.
106.
106.
‘‘Tato ca rājā pāyāsi, senāya caturaṅginī;
Agamā assamaṃ rammaṃ, yattha sammati kosiyo’’.
Then the king departed with his four-limbed army; he went to the delightful hermitage where Kosiya dwelt.
Rồi nhà vua khởi hành với bốn binh chủng. Ngài đã đến am thất xinh đẹp, nơi vị Kosiyo đang ở.
107.
107.
107.
‘‘Kassa kādambayo † kājo, vehāsaṃ caturaṅgulaṃ;
Aṃsaṃ asamphusaṃ eti, udahārāya † gacchato’’.
‘Whose is this carrying-pole of kadamba wood that travels through the air, four finger-breadths from his shoulder without touching it, as he goes to fetch water?’
Đòn gánh bằng gỗ Kādamba này là của ai, của người đang đi lấy nước, nó đi trên không, cách vai bốn ngón tay mà không chạm vào?
108.
108.
108.
‘‘Ahaṃ soṇo mahārāja, tāpaso sahitabbato †;
Bharāmi mātāpitaro, rattindivamatandito.
‘I am Soṇa, O great king, an ascetic steadfast in his vows. I support my mother and father, tirelessly day and night.’
Tâu đại vương, tôi là Soṇa, một đạo sĩ có giới hạnh. Tôi nuôi dưỡng cha mẹ ngày đêm không mệt mỏi.
109.
109.
109.
‘‘Vane phalañca mūlañca, āharitvā disampati;
Posemi mātāpitaro, pubbe katamanussaraṃ’’.
‘Having gathered fruit and roots in the forest, O lord of the land, I nourish my mother and father, remembering what was done for me before.’
Tâu chúa tể các phương, con mang về trái cây và củ rễ từ trong rừng, nuôi dưỡng cha mẹ, tưởng nhớ đến công ơn (cha mẹ) đã làm trước đây.
110.
110.
110.
‘‘Icchāma assamaṃ gantuṃ, yattha sammati kosiyo;
Maggaṃ no soṇa akkhāhi, yena gacchemu † assamaṃ’’.
‘We wish to go to the hermitage where Kosiya dwells. O Soṇa, show us the path by which we may go to the hermitage.’
Chúng tôi muốn đi đến am thất nơi vị Kosiyo đang ở. Này Soṇa, hãy chỉ đường cho chúng tôi, để chúng tôi có thể đi đến am thất.
111.
111.
111.
‘‘Ayaṃ ekapadī rāja, yenetaṃ † meghasannibhaṃ;
Koviḷārehi sañchannaṃ, ettha sammati kosiyo’’.
‘This is the single-file path, O king. Yonder is that which appears like a cloud, covered with koviḷāra trees; there Kosiya dwells.’
Tâu đức vua, đây là con đường mòn. Hãy đi theo lối này đến khu rừng kia trông giống như đám mây, được bao phủ bởi hoa Koviḷāra. Vị Kosiyo ở nơi ấy.
112.
112.
112.
‘‘Idaṃ vatvāna pakkāmi, taramāno mahāisi;
Vehāse antalikkhasmiṃ, anusāsitvāna khattiye.
Having instructed the kings and having spoken these words, the great seer departed in haste, travelling through the air in the sky.
Nói lời này xong, vị đại ẩn sĩ, sau khi đã chỉ dạy các vị vua, đã vội vã ra đi trên hư không, giữa bầu trời.
113.
113.
113.
‘‘Assamaṃ parimajjitvā, paññapetvāna † āsanaṃ;
Paṇṇasālaṃ pavisitvā, pitaraṃ paṭibodhayi.
Having swept the hermitage and prepared a seat, he entered the leaf-hut and awakened his father.
Sau khi quét dọn am thất và chuẩn bị chỗ ngồi, vị ấy vào trong lều lá và đánh thức người cha.
114.
114.
114.
‘‘Ime āyanti rājāno, abhijātā yasassino;
Assamā nikkhamitvāna, nisīda tvaṃ † mahāise.
‘These kings are coming, of high birth and great renown. Come out from the hermitage and take your seat, O great seer.’
Các vị vua này đang đến, những vị thuộc dòng dõi cao quý, có danh tiếng. Thưa vị đại ẩn sĩ, xin ngài hãy ra khỏi am thất và ngồi xuống.
115.
115.
115.
‘‘Tassa taṃ vacanaṃ sutvā, taramāno mahāisi;
Assamā nikkhamitvāna, sadvāramhi upāvisi’’.
Hearing his words, the great seer, hastening, came out from the hermitage and sat down at his own doorway.
Nghe lời nói ấy của con, vị đại ẩn sĩ vội vã đi ra khỏi am thất và ngồi xuống ở cửa của mình.
116.
116.
116.
‘‘Tañca disvāna āyantaṃ, jalantaṃriva tejasā;
Khatyasaṅghaparibyūḷhaṃ, kosiyo etadabravi.
Seeing him approaching, blazing as if with majesty, surrounded by a host of kings, Kosiya spoke this:
Thấy vị vua đang đến, tỏa sáng như lửa với uy lực, được đoàn tùy tùng Sát-đế-lỵ vây quanh, vị Kosiyo đã nói lên lời này.
117.
117.
117.
‘‘Kassa bherī mudiṅgā ca †, saṅkhā paṇavadindimā †;
Purato paṭipannāni, hāsayantā rathesabhaṃ.
‘Whose kettledrums and tabors, conches, and small and large drums advance in the vanguard, delighting the lord of chariots?’
Trống lớn, trống mudiṅga, ốc tù và, trống paṇava và trống diṇḍima này là của ai, đang đi phía trước làm hoan hỷ cho bậc tối thắng trên chiến xa?
118.
118.
118.
‘‘Kassa kañcanapaṭṭena, puthunā vijjuvaṇṇinā;
Yuvā kalāpasannaddho, ko eti siriyā jalaṃ.
‘With a broad golden frontlet, the color of lightning, a youth with quiver fastened—who is this that comes, blazing with splendor?’
Chàng trai trẻ mang ống tên, được trang điểm với tấm trang sức bằng vàng rộng lớn, màu sắc như tia chớp là của ai? Ai đang đến, tỏa sáng với vẻ uy nghi?
119.
119.
119.
‘‘Ukkāmukhapahaṭṭhaṃva, khadiraṅgārasannibhaṃ;
Mukhañca rucirā bhāti, ko eti siriyā jalaṃ.
‘Like gold refined in a furnace mouth, like an ember of khadira wood, his beautiful face shines. Who is this that comes, blazing with splendor?’
Gương mặt tỏa sáng rực rỡ như vàng vừa được tinh luyện, giống như than củi cây keo. Ai đang đến, tỏa sáng với vẻ uy nghi?
120.
120.
120.
‘‘Kassa paggahitaṃ chattaṃ, sasalākaṃ manoramaṃ;
Ādiccaraṃsāvaraṇaṃ, ko eti siriyā jalaṃ.
Whose is this held-up parasol, delightful, with its staff, warding off the sun's rays? Who is this that comes, blazing with splendor?
Chiếc lọng có nan, đẹp đẽ, che được ánh sáng mặt trời đang được giương lên này là của ai? Ai đang đến, tỏa sáng với vẻ uy nghi?
121.
121.
121.
‘‘Kassa aṅgaṃ pariggayha, vāḷabījanimuttamaṃ;
Caranti varapuññassa †, hatthikkhandhena āyato.
Surrounding whom of excellent merit, who comes upon an elephant's back, do they proceed, holding the finest yak-tail fan?
Của vị có phước báu cao quý nào, đang đến trên lưng voi, mà họ (tùy tùng) vây quanh, cầm chiếc quạt lông đuôi cao quý và đi theo?
122.
122.
122.
‘‘Kassa setāni chattāni, ājānīyā ca vammitā;
Samantā parikirenti †, ko eti siriyā jalaṃ.
Whose are these white parasols and armored noble steeds that surround him on all sides? Who is this that comes, blazing with splendor?
Những chiếc lọng trắng và những con ngựa nòi được trang bị áo giáp này là của ai, đang vây quanh bốn phía? Ai đang đến, tỏa sáng với vẻ uy nghi?
123.
123.
123.
‘‘Kassa ekasataṃ khatyā, anuyantā † yasassino;
Samantānupariyanti, ko eti siriyā jalaṃ.
Whose are these one hundred and one glorious Khattiyas, followers who encircle him on all sides? Who is this that comes, blazing with splendor?
Một trăm vị vua Sát-đế-lỵ có danh tiếng này là của ai, đang đi theo và vây quanh bốn phía? Ai đang đến, tỏa sáng với vẻ uy nghi?
124.
124.
124.
‘‘Hatthi assaratha patti †, senā ca caturaṅginī;
Samantānupariyanti †, ko eti siriyā jalaṃ.
A fourfold army of elephants, horses, chariots, and infantry encircles him on all sides. Who is this that comes, blazing with splendor?
Tượng binh, mã binh, xa binh, bộ binh, và bốn binh chủng đang đi vòng quanh bốn phía. Ai đang đến, tỏa sáng với vẻ uy nghi?
125.
125.
125.
‘‘Kassesā mahatī senā, piṭṭhito anuvattati;
Akkhobhaṇī † apariyantā, sāgarasseva ūmiyo’’.
Whose is this great army that follows behind, unshakeable and boundless, like the waves of the ocean?
Đạo quân hùng mạnh, vô số không thể lay chuyển, như những con sóng của đại dương, đang đi theo sau này là của ai?
126.
126.
126.
‘‘Rājābhirājā † manojo, indova jayataṃ pati;
Nandassajjhāvaraṃ eti, assamaṃ brahmacārinaṃ.
The king of kings, Manoja, like Indra, lord of the victorious, comes to the hermitage of the holy men concerning Nanda's transgression.
Vua của các vị vua, đức vua Manoja, như vua trời Đế-thích, chủ của những người chiến thắng, đang đến am thất của các vị phạm hạnh để xin tha thứ cho sự xúc phạm của Nanda.
127.
127.
127.
‘‘Tassesā mahatī senā, piṭṭhito anuvattati;
Akkhobhaṇī apariyantā, sāgarasseva ūmiyo’’.
His is this great army that follows behind, unshakeable and boundless, like the waves of the ocean.
Đạo quân hùng mạnh, vô số không thể lay chuyển, như những con sóng của đại dương, đang đi theo sau này là của vị ấy.
128.
128.
128.
‘‘Anulittā candanena, kāsikuttamadhārino †;
Sabbe pañjalikā hutvā, isīnaṃ ajjhupāgamuṃ’’.
Anointed with sandalwood, wearing the finest Kāsi cloth, all with hands clasped in reverence, they approached the seers.
Tất cả (các vị vua) được thoa bằng gỗ đàn hương, mặc y phục cao quý xứ Kāsi, đã chắp tay lại và đến gần các vị ẩn sĩ.
129.
129.
129.
‘‘Kacci nu bhoto kusalaṃ, kacci bhoto anāmayaṃ;
Kacci uñchena yāpetha, kacci mūlaphalā bahū.
Is all well with you, venerable sir? Are you free from illness? Do you subsist by gleaning? And are roots and fruits plentiful?
Mong rằng ngài được an lành? Mong rằng ngài được vô bệnh? Mong rằng ngài sống được bằng cách lượm lặt? Mong rằng củ và quả có nhiều?
130.
130.
130.
‘‘Kacci ḍaṃsā makasā ca, appameva sarīsapā †;
Vane vāḷamigākiṇṇe, kacci hiṃsā na vijjati’’.
Are gadflies and mosquitoes few, and likewise creeping things? In this forest teeming with beasts of prey, is there no harm to be found?
Mong rằng ruồi và muỗi, và các loài bò sát thì ít? Trong khu rừng đầy dẫy thú dữ, mong rằng không có sự nguy hại nào?
131.
131.
131.
‘‘Kusalañceva no rāja, atho rāja anāmayaṃ;
Atho uñchena yāpema, atho mūlaphalā bahū.
All is well with us, O king, and furthermore, O king, we are free from illness. We also subsist by gleaning, and roots and fruits are plentiful.
Tâu đại vương, chúng tôi được an lành, và tâu đại vương, chúng tôi được vô bệnh. Và chúng tôi sống được bằng cách lượm lặt, và củ và quả có nhiều.
132.
132.
132.
‘‘Atho ḍaṃsā makasā ca †, appameva sarīsapā †;
Vane vāḷamigākiṇṇe, hiṃsā mayhaṃ † na vijjati.
Furthermore, gadflies and mosquitoes are few, and likewise creeping things. In this forest teeming with beasts of prey, no harm is found by me.
Và ruồi và muỗi, và các loài bò sát thì ít. Trong khu rừng đầy dẫy thú dữ, không có sự nguy hại nào đối với tôi.
133.
133.
133.
‘‘Bahūni vassapūgāni, assame sammataṃ † idha;
Nābhijānāmi uppannaṃ, ābādhaṃ amanoramaṃ.
For many years have we dwelt here in this hermitage; I do not recall any affliction or displeasure having arisen.
Nhiều năm đã trôi qua khi tôi sống trong am thất này. Tôi không biết đến sự phát sinh của bệnh tật hay điều gì không hài lòng.
134.
134.
134.
‘‘Svāgataṃ te mahārāja, atho te adurāgataṃ;
Issarosi anuppatto, yaṃ idhatthi pavedaya.
Welcome to you, great king, and your arrival is auspicious. You, the sovereign, have arrived; declare now whatever you desire of us.
Lành thay, tâu đại vương, chuyến đi của ngài, và chuyến đi của ngài không phải là vô ích. Ngài là bậc chúa tể đã đến đây. Xin hãy cho biết điều gì ngài mong muốn ở đây.
135.
135.
135.
‘‘Tindukāni piyālāni, madhuke kāsumāriyo †;
Phalāni khuddakappāni, bhuñja rāja varaṃ varaṃ.
Here are tinduka, piyāla, madhuka, and kāsumārī fruits, sweet as honey. Eat, O king, the best of these.
Có quả thị, quả piyāla, quả madhuka, quả kāsumāri; những loại quả có vị như mật ong. Tâu đại vương, xin hãy dùng những quả tốt nhất.
136.
136.
136.
‘‘Idampi pānīyaṃ sītaṃ, ābhataṃ girigabbharā;
Tato piva mahārāja, sace tvaṃ abhikaṅkhasi’’.
Here also is cool drinking water, brought from a mountain cavern. Drink of it, great king, if you so desire.
Nước uống này thì mát lạnh, được mang về từ hang núi. Tâu đại vương, xin hãy uống nước ấy, nếu ngài mong muốn.
137.
137.
137.
‘‘Paṭiggahitaṃ yaṃ dinnaṃ, sabbassa agghiyaṃ kataṃ;
Nandassāpi nisāmetha, vacanaṃ so † pavakkhati.
What you have offered has been accepted; a hospitable welcome has been made for all. Now please listen to Nanda, for he has something to say.
Những gì được ban cho đã được nhận, sự hiếu khách đã được thực hiện cho tất cả. Xin hãy lắng nghe Nanda, vị ấy sẽ nói lời của mình.
138.
138.
138.
‘‘Ajjhāvaramhā nandassa, bhoto santikamāgatā;
Suṇātu † bhavaṃ vacanaṃ, nandassa parisāya ca’’.
It is because of Nanda's transgression that we have come to your presence. May your reverence please listen to the words of Nanda and of his retinue.
Vì sự xúc phạm của Nanda, chúng tôi đã đến trước ngài. Xin ngài hãy lắng nghe lời của Nanda và của hội chúng.
139.
139.
139.
‘‘Parosataṃ jānapadā †, mahāsālā ca brāhmaṇā;
Ime ca khattiyā sabbe, abhijātā yasassino;
Bhavañca rājā manojo, anumaññantu me vaco.
You countrymen, over a hundred in number, you wealthy householders and brahmins, and all these high-born, glorious Khattiyas, and you, your majesty, King Manoja—may you all approve my words.
Hơn một trăm người dân quê, các gia chủ giàu có và các vị Bà-la-môn, và tất cả các vị vua Sát-đế-lỵ này, những người thuộc dòng dõi cao quý, có danh tiếng, và cả ngài, đức vua Manoja, xin hãy chấp thuận lời của tôi.
140.
140.
140.
‘‘Ye ca santi † samītāro, yakkhāni idha massame;
Araññe bhūtabhabyāni, suṇantu vacanaṃ mama.
And whatever beings are assembled here, the yakkhas in this hermitage, and the spirits of the forest, past and future—may they all listen to my words.
Và những vị nào đã hội họp ở đây, các vị dạ-xoa trong am thất này, các chúng sanh đã và sẽ có trong rừng, xin hãy lắng nghe lời của tôi.
141.
141.
141.
‘‘Namo katvāna bhūtānaṃ, isiṃ vakkhāmi subbataṃ;
So tyāhaṃ dakkhiṇā bāhu, tava kosiya sammato.
Having paid homage to the spirits, I shall speak to you, the sage of virtuous vows. I, O Kosiya, am regarded by you as your right arm.
Sau khi đảnh lễ các chúng sanh, tôi sẽ nói với vị ẩn sĩ có thiện hạnh. Hỡi Kosiya, tôi đây được ngài xem trọng như cánh tay phải của ngài.
142.
142.
142.
‘‘Pitaraṃ me janettiñca, bhattukāmassa me sato;
Vīra puññamidaṃ ṭhānaṃ, mā maṃ kosiya vāraya.
O hero, Kosiya, I wish to support my father and my mother. This is an occasion for merit; do not prevent me.
Hỡi bậc anh hùng Kosiya, tôi là người mong muốn phụng dưỡng cha và mẹ. Đây là cơ hội làm phước, xin đừng ngăn cản tôi.
143.
143.
143.
‘‘Sabbhi hetaṃ upaññātaṃ, mametaṃ upanissaja;
Uṭṭhānapāricariyāya, dīgharattaṃ tayā kataṃ;
Mātāpitūsu puññāni, mama lokadado bhava.
Indeed, this is praised by the good; relinquish this duty to me. For a long time you have performed it with energy and service. I now wish to make merit towards our parents; be one who grants me this world of merit.
Điều này được các bậc thiện trí tán thán, xin hãy giao phó điều này cho tôi. Ngài đã siêng năng phục vụ trong một thời gian dài. Nay tôi muốn làm các công đức đối với cha mẹ, xin hãy là người ban cho tôi cảnh giới tốt đẹp.
144.
144.
144.
‘‘Tatheva santi manujā, dhamme dhammapadaṃ vidū;
Maggo saggassa lokassa, yathā jānāsi tvaṃ ise.
Just as you know, O sage, so too do other people know the way of the Dhamma in this duty, that it is the path to the heavenly world.
Hỡi vị ẩn sĩ, như ngài đã biết, cũng vậy, có những người biết dấu chân của Pháp trong Pháp, đó là con đường đến cõi trời.
145.
145.
145.
‘‘Uṭṭhānapāricariyāya, mātāpitusukhāvahaṃ;
Taṃ maṃ puññā nivāreti, ariyamaggāvaro naro’’.
The man who prevents me from this merit—bringing happiness to mother and father through energetic service—that man is an obstructor of the noble path.
Người nào ngăn cản tôi khỏi công đức mang lại hạnh phúc cho cha mẹ bằng sự siêng năng phục vụ, người ấy là kẻ cản trở con đường thánh thiện.
146.
146.
146.
‘‘Suṇantu bhonto vacanaṃ, bhāturajjhāvarā mama;
Kulavaṃsaṃ mahārāja, porāṇaṃ parihāpayaṃ;
Adhammacārī jeṭṭhesu †, nirayaṃ sopapajjati †.
May you venerable ones who have come on account of my brother's transgression listen to my words. O great king, one who causes the ancient family lineage to decline by acting unrighteously towards his elders is reborn in hell.
Xin các ngài, những người đến vì sự xúc phạm của em tôi, hãy lắng nghe lời của tôi. Tâu đại vương, người nào làm suy thoái dòng dõi xưa cũ, hành xử phi pháp đối với bậc trưởng thượng, người ấy sẽ tái sanh vào địa ngục.
147.
147.
147.
‘‘Ye ca dhammassa kusalā, porāṇassa disampati;
Cārittena ca sampannā, na te gacchanti duggatiṃ.
But those who are skilled in the ancient Dhamma, O lord of the land, and are endowed with good conduct—they do not go to a woeful state.
Tâu đại vương, chúa tể các phương! Những ai thiện xảo trong Chánh pháp cổ xưa, và lại đầy đủ giới hạnh, những người ấy không đi đến ác thú.
148.
148.
148.
‘‘Mātāpitā ca bhātā ca, bhaginī ñātibandhavā;
Sabbe jeṭṭhassa te bhārā, evaṃ jānāhi bhāradha †.
Mother and father, brother and sister, kinsmen and relatives—all these are the burden of the eldest. Know this, O you who bear the burden.
Thưa ngài Bhāradha! Mẹ, cha, và anh em, chị em, quyến thuộc bà con; tất cả những người ấy là gánh nặng của người con trưởng. Xin ngài hãy biết như vậy.
149.
149.
149.
‘‘Ādiyitvā garuṃ bhāraṃ, nāviko viya ussahe;
Dhammañca nappamajjāmi, jeṭṭho casmi rathesabha’’.
Like a boatman, I take up this heavy burden and strive. I am not heedless of my duty, and I am the eldest, O bull among charioteers.
Tâu bậc xa vương! Con sẽ nỗ lực gánh vác gánh nặng này, như người lái thuyền gánh vác trọng tải. Con không xao lãng bổn phận, và con là người con trưởng.
150.
150.
150.
‘‘Adhigamā † tame ñāṇaṃ, jālaṃva jātavedato;
Evameva no bhavaṃ dhammaṃ, kosiyo pavidaṃsayi.
We have attained the knowledge that dispels darkness, like a flame from a fire. Even so has the venerable Kosiya revealed the Dhamma to us.
Chúng con đã đạt được trí tuệ xua tan bóng tối, như ngọn lửa từ đám cháy. Cũng vậy, thưa ngài Kosiyo, ngài đã chỉ dạy Chánh pháp cho chúng con.
151.
151.
151.
‘‘Yathā udayamādicco, vāsudevo pabhaṅkaro;
Pāṇīnaṃ pavidaṃseti, rūpaṃ kalyāṇapāpakaṃ;
Evameva no bhavaṃ dhammaṃ, kosiyo pavidaṃsayi’’.
Just as the rising sun, the radiant light-maker, reveals to living beings forms both beautiful and ugly, even so has the venerable Kosiya revealed the Dhamma to us.
Như mặt trời mọc, vị Vāsudeva tạo ra ánh sáng, chỉ cho chúng sanh thấy các sắc tướng thiện và ác; cũng vậy, thưa ngài Kosiyo, ngài đã chỉ dạy Chánh pháp cho chúng con.
152.
152.
152.
‘‘Evaṃ me yācamānassa, añjaliṃ nāvabujjhatha;
Tava paddhacaro † hessaṃ, vuṭṭhito paricārako’’.
If you will not grant the request I make with clasped hands, then I shall become your attendant, a diligent servant.
Dù con van xin như vậy, các anh vẫn không đoái hoài đến lời thỉnh cầu của con. Con sẽ là người hầu cận, siêng năng và phục vụ các anh.
153.
153.
153.
‘‘Addhā nanda vijānāsi †, saddhammaṃ sabbhi desitaṃ;
Ariyo ariyasamācāro, bāḷhaṃ tvaṃ mama ruccasi.
Truly, Nanda, you understand the good Dhamma taught by the virtuous. You are noble, of noble conduct, and you are exceedingly pleasing to me.
Này Nanda, chắc chắn em đã hiểu rõ Chánh pháp do các bậc thiện nhân thuyết giảng. Em là bậc thánh thiện, có hạnh kiểm của bậc thánh thiện; em rất làm hài lòng ta.
154.
154.
154.
‘‘Bhavantaṃ vadāmi bhotiñca, suṇātha vacanaṃ mama;
Nāyaṃ bhāro bhāramato †, ahu mayhaṃ kudācanaṃ.
I speak to you, father, and to you, mother; please listen to my words. This burden has never been considered a burden by me.
Con xin thưa với cha và với mẹ, xin hãy nghe lời của con. Gánh nặng này chưa bao giờ được con xem là gánh nặng cả.
155.
155.
155.
‘‘Taṃ maṃ upaṭṭhitaṃ santaṃ, mātāpitusukhāvahaṃ;
Nando ajjhāvaraṃ katvā, upaṭṭhānāya yācati.
While I was peacefully attending upon our parents, bringing them happiness, Nanda, having transgressed, now begs to perform that service.
Con đang phụng dưỡng cha mẹ, mang lại an vui cho hai người, thế mà Nanda lại vượt quyền, xin được thay thế để phụng dưỡng.
156.
156.
156.
‘‘Yo ve icchati kāmena, santānaṃ brahmacārinaṃ;
Nandaṃ vo varatha eko †, kaṃ nando upatiṭṭhatu’’.
Of you peaceful and holy parents, if one of you wishes it out of love, then choose Nanda. Whom shall Nanda attend?
Trong hai vị phạm hạnh an tịnh này, nếu có vị nào muốn, xin hãy chọn Nanda. Vậy Nanda sẽ phụng dưỡng ai đây?
157.
157.
157.
‘‘Tayā tāta anuññātā, soṇa taṃ nissitā mayaṃ;
Upaghātuṃ † labhe nandaṃ, muddhani brahmacārinaṃ’’.
Dear Soṇa, permitted by you, on whom we depend, may I be allowed to kiss the head of Nanda, this follower of the holy life.
Này con Soṇa thân mến, chúng ta sống nương tựa vào con. Nay được con cho phép, mẹ mong được hôn lên đầu Nanda, người con sống đời phạm hạnh.
158.
158.
158.
‘‘Assatthasseva taruṇaṃ, pavāḷaṃ māluteritaṃ;
Cirassaṃ nandaṃ disvāna, hadayaṃ me pavedhati.
Like a tender young shoot of the Assattha tree, stirred by the wind, so too, upon seeing Nanda after so long, does my heart tremble.
Như chồi non của cây bồ đề rung động khi bị gió thổi, cũng vậy, khi thấy Nanda sau một thời gian dài, tim của mẹ run lên.
159.
159.
159.
‘‘Yadā suttāpi supine †, nandaṃ passāmi āgataṃ;
Udaggā sumanā homi, nando no āgato ayaṃ.
When, even while sleeping, I see Nanda coming in a dream, I become elated and joyful, thinking, 'Here he is! Our Nanda has come!'
Khi đang ngủ, trong giấc mơ mẹ thấy Nanda trở về, mẹ trở nên phấn khởi và vui mừng, (nghĩ rằng): 'Nanda của chúng ta đã về đây rồi'.
160.
160.
160.
‘‘Yadā ca paṭibujjhitvā, nandaṃ passāmi nāgataṃ;
Bhiyyo āvisatī soko, domanassañcanappakaṃ.
“And when I awaken and do not see that Nanda has come, sorrow overcomes me all the more, and no small measure of grief.”
Và khi tỉnh giấc, không thấy Nanda trở về, nỗi sầu muộn lại xâm chiếm mẹ nhiều hơn, cùng với ưu phiền không ít.
161.
161.
161.
‘‘Sāhaṃ ajja cirassampi, nandaṃ passāmi āgataṃ;
Bhattucca † mayhañca piyo, nando no pāvisī gharaṃ.
“Today, after a long time, I see Nanda has come; beloved of my husband and of me, Nanda, our son, has entered our home.”
Hôm nay, sau một thời gian dài, mẹ mới được thấy Nanda trở về. Nanda là người con yêu quý của cha con và của mẹ, Nanda của chúng ta đã bước vào nhà.
162.
162.
162.
‘‘Pitupi nando suppiyo, yaṃ nando nappavase † gharā †;
Labhatū tāta nando taṃ, maṃ nando upatiṭṭhatu’’.
“Nanda is very dear to his father also; therefore, may Nanda not depart from home! O dear son, let Nanda obtain that which he desires, and let Nanda attend upon me.”
Nanda cũng rất được cha con yêu quý, vì vậy, mong Nanda đừng rời khỏi nhà. Này con, hãy để Nanda được điều nó mong muốn. Hãy để Nanda phụng dưỡng mẹ.
163.
163.
163.
‘‘Anukampikā patiṭṭhā ca, pubbe rasadadī ca no;
Maggo saggassa lokassa, mātā taṃ varate ise.
“Compassionate and a support, formerly a giver of nourishment to us, the path to the heavenly world—such is a mother. O sage, she longs for you.”
Này vị ẩn sĩ, người mẹ là người bi mẫn, là nơi nương tựa, và trước kia đã cho chúng ta dòng sữa. Mẹ là con đường đến cõi trời. Mẹ đã chọn em.
164.
164.
164.
‘‘Pubbe rasadadī gottī, mātā puññūpasaṃhitā;
Maggo saggassa lokassa, mātā taṃ varate ise’’.
“Formerly a giver of nourishment, a protector, a mother endowed with merit, the path to the heavenly world—O sage, she longs for you.”
Này vị ẩn sĩ, trước kia mẹ đã cho dòng sữa, là người bảo hộ; mẹ là người liên hệ đến phước đức. Mẹ là con đường đến cõi trời. Mẹ đã chọn em.
165.
165.
165.
‘‘Ākaṅkhamānā puttaphalaṃ, devatāya namassati;
Nakkhattāni ca pucchati, utusaṃvaccharāni ca.
“Desiring the fruit of a son, she pays homage to the deities; she consults the constellations, and the seasons and the years.”
Mong mỏi có được con trai, mẹ đã lễ bái các vị trời, hỏi han về các vì sao, về các mùa và các năm.
166.
166.
166.
‘‘Tassā utumhi nhātāya †, hoti gabbhassa vokkamo †;
Tena dohaḷinī hoti, suhadā tena vuccati.
“When she has bathed at her proper season, the descent of the embryo occurs; because of this, she has cravings, and for that reason she is called ‘one of good heart’.”
Khi bà tắm gội đúng thời, bào thai bắt đầu hình thành. Do đó, bà có những cơn thèm, và vì vậy được gọi là người có trái tim nhân hậu.
167.
167.
167.
‘‘Saṃvaccharaṃ vā ūnaṃ vā, pariharitvā vijāyati;
Tena sā janayantīti, janetti † tena vuccati.
“Having carried the child for a year or less, she gives birth; for that reason she is called ‘the bearer,’ and thus she is called ‘the mother’.”
Sau khi mang thai một năm hoặc ít hơn, bà sinh con. Do đó, bà là người sinh thành, và vì vậy được gọi là người mẹ.
168.
168.
168.
‘‘Thanakhīrena † gītena, aṅgapāvuraṇena † ca;
Rodantaṃ puttaṃ † toseti, tosentī tena vuccati.
“With breast-milk and with song, and by covering his body, she pleases her crying son; for that reason she is called ‘the one who pleases’.”
Với dòng sữa mẹ, với lời hát ru, và với sự ôm ấp, mẹ làm cho người con đang khóc được vui lòng. Vì vậy, mẹ được gọi là người làm cho vui lòng.
169.
169.
169.
‘‘Tato vātātape ghore, mamaṃ katvā udikkhati;
Dārakaṃ appajānantaṃ, posentī tena vuccati.
“Then, in harsh wind and sun, cherishing him as her own, she watches over him; she raises the unknowing child, and for that reason she is called ‘the nurturer’.”
Sau đó, trong gió và nắng gắt, mẹ chăm sóc con với lòng yêu thương. Mẹ nuôi dưỡng đứa trẻ còn non dại, vì vậy mẹ được gọi là người nuôi dưỡng.
170.
170.
170.
‘‘Yañca mātudhanaṃ hoti, yañca hoti pituddhanaṃ;
Ubhayampetassa gopeti, api puttassa no siyā.
“Whatever wealth belongs to the mother, and whatever wealth belongs to the father, she protects both for his sake, thinking: ‘This might be for our son’.”
Tài sản nào của mẹ, tài sản nào của cha, mẹ đều gìn giữ cả hai vì lợi ích của con, (nghĩ rằng): 'Mong sao tài sản này sẽ thuộc về con của chúng ta'.
171.
171.
171.
‘‘Evaṃ putta aduṃ putta, iti mātā vihaññati;
Pamattaṃ paradāresu, nisīthe pattayobbane;
Sāyaṃ puttaṃ anāyantaṃ, iti mātā vihaññati.
“‘Son, do this! Son, do that!’—thus a mother is vexed. When her son, heedless with others’ wives, is out at midnight in the bloom of his youth, when her son does not return in the evening—thus a mother is afflicted.”
'Làm thế này đi con, làm thế kia đi con', người mẹ nhọc lòng dạy dỗ. Khi con trai đến tuổi thanh xuân, lêu lổng với vợ người khác, đến tối không về nhà, người mẹ lại phải nhọc lòng.
172.
172.
172.
‘‘Evaṃ kicchā bhato poso, mātu aparicārako;
Mātari micchā caritvāna, nirayaṃ sopapajjati.
“Thus a person, raised with difficulty, who does not attend to his mother, having behaved wrongly towards his mother, is reborn in hell.”
Người con được nuôi nấng khó nhọc như vậy, nếu không phụng dưỡng mẹ, hành xử sai quấy với mẹ, người ấy sẽ tái sanh vào địa ngục.
173.
173.
173.
‘‘Evaṃ kicchā bhato poso, pitu aparicārako;
Pitari micchā caritvāna, nirayaṃ sopapajjati.
“Thus a person, raised with difficulty, who does not attend to his father, having behaved wrongly towards his father, is reborn in hell.”
Người con được nuôi nấng khó nhọc như vậy, nếu không phụng dưỡng cha, hành xử sai quấy với cha, người ấy sẽ tái sanh vào địa ngục.
174.
174.
174.
‘‘Dhanāpi dhanakāmānaṃ, nassati iti me sutaṃ;
Mātaraṃ aparicaritvāna, kicchaṃ vā so nigacchati.
“For those who desire wealth, even their wealth is destroyed, so I have heard; by not attending to his mother, a person comes to hardship.”
Ta đã nghe như vầy: Tài sản của những người tham cầu tài sản sẽ bị tiêu tan khi họ không phụng dưỡng mẹ, hoặc người ấy sẽ gặp phải khốn cùng.
175.
175.
175.
‘‘Dhanāpi dhanakāmānaṃ, nassati iti me sutaṃ;
Pitaraṃ aparicaritvāna, kicchaṃ vā so nigacchati.
“For those who desire wealth, even their wealth is destroyed, so I have heard; by not attending to his father, a person comes to hardship.”
Ta đã nghe như vầy: Tài sản của những người tham cầu tài sản sẽ bị tiêu tan khi họ không phụng dưỡng cha, hoặc người ấy sẽ gặp phải khốn cùng.
176.
176.
176.
‘‘Ānando ca pamodo ca, sadā hasitakīḷitaṃ;
Mātaraṃ paricaritvāna, labbhametaṃ vijānato.
“Joy and delight, constant laughter and play—this is always obtainable for the wise one who attends to his mother.”
Niềm vui và hân hoan, tiếng cười và sự vui đùa luôn có được cho người con có trí, nhờ phụng dưỡng mẹ của mình.
177.
177.
177.
‘‘Ānando ca pamodo ca, sadā hasitakīḷitaṃ;
Pitaraṃ paricaritvāna, labbhametaṃ vijānato.
“Joy and delight, constant laughter and play—this is always obtainable for the wise one who attends to his father.”
Này con, người con có trí tuệ, sau khi đã phục vụ cha, luôn luôn đạt được sự hân hoan, vui mừng, sự tươi cười và vui đùa này.
178.
178.
178.
‘‘Dānañca peyyavajjañca †, atthacariyā ca yā idha;
Samānattatā † ca dhammesu, tattha tattha yathārahaṃ;
Ete kho saṅgahā loke, rathassāṇīva yāyato.
“Giving, and kindly speech, and beneficial conduct here, and impartiality in things, in each case as is suitable—these are the bases of sympathy in the world, like the linchpin of a moving chariot.”
Bố thí, lời nói ái ngữ, và hành vi lợi ích ở đời này, và sự đồng sự trong các pháp, ở nơi này nơi kia, tùy theo thích hợp. Những pháp nhiếp trì này ở trên đời, quả thật giống như cái chốt của cỗ xe đang chạy.
179.
179.
179.
Ete ca saṅgahā nāssu, na mātā puttakāraṇā;
Labhetha mānaṃ pūjaṃ vā †, pitā vā puttakāraṇā.
“And if these bases of sympathy did not exist, a mother would not receive honor or respect on account of her son, nor a father on account of his son.”
Nếu không có những pháp nhiếp trì này, thì mẹ sẽ không nhận được sự tôn trọng hay cúng dường vì lý do con cái, hoặc cha cũng không nhận được vì lý do con cái.
180.
180.
180.
‘‘Yasmā ca saṅgahā † ete, sammapekkhanti † paṇḍitā;
Tasmā mahattaṃ papponti, pāsaṃsā ca bhavanti te.
“And because the wise rightly regard these bases of sympathy, they therefore attain greatness and become worthy of praise.”
Và bởi vì các bậc hiền trí quán xét kỹ lưỡng những pháp nhiếp trì này, do đó, họ đạt đến sự vĩ đại và trở nên đáng được tán dương.
181.
181.
181.
‘‘Brahmāti † mātāpitaro, pubbācariyāti vuccare;
Āhuneyyā ca puttānaṃ, pajāya anukampakā.
“Mother and father are called ‘Brahmā’ and ‘first teachers’; they are worthy of offerings from their children, being compassionate to their offspring.”
Cha mẹ được gọi là Phạm Thiên, được gọi là những vị thầy đầu tiên, và là những người đáng được con cái cúng dường, vì các ngài có lòng thương xót con cái.
182.
182.
182.
‘‘Tasmā hi ne namasseyya, sakkareyya ca paṇḍito;
Annena atho † pānena, vatthena sayanena ca;
Ucchādanena nhāpanena †, pādānaṃ dhovanena ca.
“Therefore, a wise person should pay homage to them and honor them with food and drink, with clothing and bedding, with anointing, with bathing, and with the washing of their feet.”
Do đó, người hiền trí nên đảnh lễ và tôn kính các ngài bằng thức ăn và thức uống, bằng y phục và chỗ nằm, bằng việc xoa bóp, tắm rửa, và rửa chân.
183.
183.
183.
‘‘Tāya naṃ pāricariyāya †, mātāpitūsu paṇḍitā;
Idheva naṃ pasaṃsanti, pecca sagge pamodatī’’ti.
“For that service to his mother and father, the wise praise him here in this world, and after passing away, he rejoices in heaven.”
Nhờ sự phục vụ ấy đối với cha mẹ, các bậc hiền trí ngay ở đời này tán dương người ấy, và sau khi chết, người ấy hoan hỷ ở cõi trời.
Soṇanandajātakaṃ dutiyaṃ.
The Soṇananda Jātaka, the Second.
Chuyện Bổn sanh Soṇananda, thứ hai.
The Section of Seventy Verses is concluded.
Phẩm Bảy Mươi Kệ đã kết thúc.
Tassuddānaṃ –
The summary thereof:
Phần tóm tắt của phẩm ấy:
Atha sattatimamhi nipātavare, sabhāvantu kusāvatirājavaro;
Atha soṇasunandavaro ca puna, abhivāsitasattatimamhi suteti.
Now in the excellent Section of Seventy, there is the noble King Kusāvati; and then again the noble Soṇa and Sunanda. Thus is heard in the perfumed Section of Seventy.
Rồi, trong phẩm cao quý thứ bảy mươi, có chuyện vua Kusa cao quý, và rồi lại có chuyện Soṇananda cao quý. Như vậy, trong phẩm bảy mươi được thấm nhuần này có hai chuyện.