Bản dịch
JA 531 — Chuyện Đại Đế Kusa (Tiền thân Kusa)
1. Kusajātaka
3641. “Đất nước này là thuộc về mẹ, có tài sản, có cỗ xe,
có biểu hiệu (của đức vua), được đầy đủ tất cả các dục.
Thưa mẹ, xin mẹ hãy lãnh đạo vương quốc này của mẹ.
Con đi đến nơi nào mà nàng Pabhāvatī đáng yêu (đang ở).”
3642. “Trong khi mang vác nặng nề một cách không chính đáng,
vào ban ngày, vào ban đêm, và vào lúc nửa đêm,
hỡi chàng Kusa, chàng hãy mau trở về thành Kusāvatī.
Thiếp không muốn kẻ có bộ dạng xấu xa sống (ở nơi này).
3643. “Này Pabhāvatī, bị tham đắm sắc đẹp của nàng,
ta sẽ không từ nơi này đi về lại thành Kusāvatī.
Ta vui thích chỗ ở đáng yêu thuộc xứ sở Madda.
Sau khi từ bỏ đất nước, ta được vui thích trong việc nhìn thấy nàng.
3644. Này Pabhāvatī, bị tham đắm sắc đẹp của nàng,
ta lang thang ở trái đất, với dáng vẻ ngây dại.
Ta không nhận biết phương hướng. Từ nơi nào ta đã đi đến?
Ta say mê nàng ở cặp mắt ngơ ngác của loài nai.
3645. Hỡi cô nàng khoác y phục dệt sợi vàng, hỡi cô nàng có thắt lưng xinh đẹp bằng vàng, hỡi cô nàng có eo thon, bởi vì lòng ham muốn đối với nàng, ta không còn hứng thú với đất nước.”
3646. “Thật không thực tế đối với ngài đây, là kẻ mong muốn một người không mong muốn (mình). Tâu bệ hạ, bệ hạ ham muốn một người không ham muốn (bệ hạ); là kẻ không được yêu, bệ hạ lại muốn trở thành người được yêu.”
3647. “Người nào đạt được người mình yêu, cho dầu người kia không tự nguyện hay là có sự tự nguyện, ta ca ngợi việc đạt được trong trường hợp này, việc không đạt được trong trường hợp ấy là tệ hại.”
3648. “Bệ hạ đào đá rắn bằng thanh gỗ của cây kaṇikāra , bệ hạ ngăn cản gió bằng tấm lưới, là kẻ mong muốn một người không mong muốn (mình).”
3649. “Hỡi cô nàng có đặc điểm dịu dàng, ta đây đã đi đến, băng ngang qua các xứ sở, mà ta không tìm thấy sự hứng thú ở nơi nàng. Có lẽ tảng đá đã đè nặng ở trái tim của nàng.
3650. Hỡi nàng công chúa, khi nào nàng cau mày nhìn ta, khi ấy ta là người đầu bếp ở hậu cung của đức vua xứ Madda.
3651. Hỡi nàng công chúa, khi nào nàng nhìn ta mỉm cười, khi ấy ta không phải là người đầu bếp, khi ấy ta là đức vua Kusa.”
3652. “Bởi vì, nếu lời nói của các thầy bói tướng sẽ là sự thật, thì hãy để cho họ chặt thiếp thành bảy mảnh theo như ý muốn, chứ ngài không bao giờ có thể trở thành chồng của thiếp.”
3653. “Bởi vì, nếu lời nói của những người khác hay của ta là sự thật, thì không có người nào khác là chồng của nàng, ngoại trừ đức vua Kusa có giọng nói sư tử.”
3654. “Này bà gù, nếu nàng Pabhāvatī có cặp đùi như vòi voi nhìn ta, thì ta sẽ bảo làm cho bà tấm lắc vàng ở cổ, sau khi ta về lại Kusāvatī.
3655. Này bà gù, nếu nàng Pabhāvatī có cặp đùi như vòi voi nói chuyện với ta, thì ta sẽ bảo làm cho bà tấm lắc vàng ở cổ, sau khi ta về lại Kusāvatī.
3656. Này bà gù, nếu nàng Pabhāvatī có cặp đùi như vòi voi mỉm cười với ta, thì ta sẽ bảo làm cho bà tấm lắc vàng ở cổ, sau khi ta về lại Kusāvatī.
3657. Này bà gù, nếu nàng Pabhāvatī có cặp đùi như vòi voi cười đùa với ta, thì ta sẽ bảo làm cho bà tấm lắc vàng ở cổ, sau khi ta về lại Kusāvatī.
3658. Này bà gù, nếu nàng Pabhāvatī có cặp đùi như vòi voi chạm các bàn tay vào ta, thì ta sẽ bảo làm cho bà tấm lắc vàng ở cổ, sau khi ta về lại Kusāvatī.”
3659. “Chẳng lẽ cô công chúa này không tìm thấy sự hứng thú ở nơi vua Kusa, khi ông ta là người đầu bếp phục dịch không vì mục đích lương bổng.”
3660. “Chẳng lẽ trong khi nói lời nói tệ hại như vậy, cái bà gù này không đáng được việc cắt đứt cái lưỡi bằng con dao bén ngót.”
3661. “Này Pabhāvatī, cô chớ đánh giá ngài ấy qua hình dáng và chiều cao. Hãy ghi nhớ rằng: ‘Vị này có danh tiếng lẫy lừng.’ Này cô gái xinh xắn, cô hãy tỏ ra đáng yêu.
3662. Này Pabhāvatī, cô chớ đánh giá ngài ấy qua hình dáng và chiều cao. Hãy ghi nhớ rằng: ‘Vị này có tài sản kếch sù.’ Này cô gái xinh xắn, cô hãy tỏ ra đáng yêu.
3663. Này Pabhāvatī, cô chớ đánh giá ngài ấy qua hình dáng và chiều cao. Hãy ghi nhớ rằng: ‘Vị này có binh lực vĩ đại.’ Này cô gái xinh xắn, cô hãy tỏ ra đáng yêu.
3664. Này Pabhāvatī, cô chớ đánh giá ngài ấy qua hình dáng và chiều cao. Hãy ghi nhớ rằng: ‘Vị này có đất nước rộng lớn.’ Này cô gái xinh xắn, cô hãy tỏ ra đáng yêu.
3665. Này Pabhāvatī, cô chớ đánh giá ngài ấy qua hình dáng và chiều cao. Hãy ghi nhớ rằng: ‘Vị này là đại vương.’ Này cô gái xinh xắn, cô hãy tỏ ra đáng yêu.
3666. Này Pabhāvatī, cô chớ đánh giá ngài ấy qua hình dáng và chiều cao. Hãy ghi nhớ rằng: ‘Vị này có giọng nói sư tử.’ Này cô gái xinh xắn, cô hãy tỏ ra đáng yêu.
3667. Này Pabhāvatī, cô chớ đánh giá ngài ấy qua hình dáng và chiều cao. Hãy ghi nhớ rằng: ‘Vị này có giọng nói êm dịu.’ Này cô gái xinh xắn, cô hãy tỏ ra đáng yêu.
3668. Này Pabhāvatī, cô chớ đánh giá ngài ấy qua hình dáng và chiều cao. Hãy ghi nhớ rằng: ‘Vị này có giọng nói tròn trịa.’ Này cô gái xinh xắn, cô hãy tỏ ra đáng yêu.
3669. Này Pabhāvatī, cô chớ đánh giá ngài ấy qua hình dáng và chiều cao. Hãy ghi nhớ rằng: ‘Vị này có giọng nói dịu dàng.’ Này cô gái xinh xắn, cô hãy tỏ ra đáng yêu.
3670. Này Pabhāvatī, cô chớ đánh giá ngài ấy qua hình dáng và chiều cao. Hãy ghi nhớ rằng: ‘Vị này có giọng nói ngọt ngào.’ Này cô gái xinh xắn, cô hãy tỏ ra đáng yêu.
3671. Này Pabhāvatī, cô chớ đánh giá ngài ấy qua hình dáng và chiều cao. Hãy ghi nhớ rằng: ‘Vị này biết trăm ngành nghề.’ Này cô gái xinh xắn, cô hãy tỏ ra đáng yêu.
3672. Này Pabhāvatī, cô chớ đánh giá ngài ấy qua hình dáng và chiều cao. Hãy ghi nhớ rằng: ‘Vị này là Sát-đế-lỵ.’ Này cô gái xinh xắn, cô hãy tỏ ra đáng yêu.
3673. Này Pabhāvatī, cô chớ đánh giá ngài ấy qua hình dáng và chiều cao. Hãy ghi nhớ rằng: ‘Vị này là đức vua Kusa.’ Này cô gái xinh xắn, cô hãy tỏ ra đáng yêu.”
3674. “Những con voi này là hung hãn, tất cả đã được mang giáp đứng dàn trận. Hãy để cho chúng đưa công chúa Pabhāvatī này đi trước khi chúng dẫm nát tường thành.”
3675. “Trẫm sẽ phanh thây công chúa Pabhāvatī này thành bảy phần và sẽ ban cho các vị Sát-đế-lỵ đã đi đến đây để giết chết trẫm.”
3676. Nàng công chúa đã đứng dậy, xuống sắc, choàng tấm lụa dệt sợi vàng, với đôi mắt đẫm lệ, được hầu cận bởi đám nữ tì.
3677. “Có lẽ khuôn mặt mỹ miều, với đôi mắt xinh đẹp, không lấm bụi, không vết nhơ, được thoa son phấn, được ngắm nhìn ở tấm gương có cán ngà ấy sẽ bị quăng bỏ và tồn tại ở trong rừng bởi các vị Sát-đế-lỵ.
3678. Có lẽ những sợi tóc đen tuyền, có phần ngọn đã được uốn cong, mềm mại, đã được xức tinh dầu trầm hương ấy của con sẽ vương vãi ở giữa bãi tha ma, và các con kên kên sẽ lôi đi bằng những bàn chân.
3679. Có lẽ hai cánh tay có móng màu đồng đỏ, có lông đẹp, mềm mại, đã được xức tinh dầu trầm hương ấy của con sẽ bị các vị Sát-đế-lỵ chặt đứt, rồi thảy bỏ ở trong rừng, và chim quạ sẽ gắp lấy rồi ra đi theo như ý muốn.
3680. Có lẽ con chó rừng sẽ đeo bám hai bầu vú không bị thõng xuống tương tự trái thốt nốt, được tẩm với trầm hương xứ Kāsi của con, tựa như đứa con trai, còn nhỏ dại, bé bỏng, bám vào vú mẹ.
3681. Có lẽ cặp mông đầy đặn, khéo được vỗ về, được quen thuộc với những dây nịt bằng vàng ấy sẽ bị các vị Sát-đế-lỵ chặt đứt, rồi ném bỏ ở trong rừng, và bầy chó rừng sẽ tranh giành.
3682. Những con chó, những con quạ, những con chó rừng, và những loài thú khác có răng nanh, sau khi ăn thịt Pabhāvatī, có lẽ sẽ không bị già.
3683. Thưa mẹ, nếu các vị Sát-đế-lỵ đến từ phương xa ra lệnh mang đi các phần thịt, thì mẹ hãy xin lại các mẩu xương rồi thiêu nó ở dọc đường lộ.
3684. Thưa mẹ, mẹ hãy cho thực hiện các thửa ruộng rồi trồng cây kaṇikāra ở nơi này. Vào lúc các cây ấy trổ bông vào cuối mùa tuyết rơi của những tháng mùa đông, thưa mẹ, mẹ có thể nhớ đến con rằng: ‘Pabhāvatī có màu da như vầy.’”
3685. Sau khi nhìn thấy thanh gươm và thớt gỗ ở hậu cung của đức vua xứ Madda, vị nữ Sát-đế-lỵ có vóc dáng Thiên thần, mẹ của nàng công chúa, đã đứng lên.
3686. “Có lẽ với thanh gươm này, bệ hạ sẽ giết chết cô con gái vô cùng giỏi giang, có vòng eo thon, của thiếp rồi ban cho các vị Sát-đế-lỵ.”
3687. “Này con gái, con đã không làm theo lời nói nhằm mong muốn điều lợi ích của mẹ. Hôm nay, con đây, (toàn thân) bị bao trùm bởi máu, đi đến lãnh địa của Diêm Vương.
3688. Thật vậy, người nào không làm theo lời nói chỉ rõ sự lợi ích của các bậc hữu ân, người vi phạm như vậy thì đọa vào điều tệ hại hơn.
3689. Này con, nếu con chấp nhận vị hoàng tử có vẻ đáng mến, vị Sát-đế-lỵ được sanh ra bởi dòng họ Kusa, có thắt lưng bằng vàng và ngọc ma-ni, được tôn vinh bởi tập thể thân quyến, con sẽ không đi đến trú xứ của Diêm Vương.
3690. Ở gia tộc của các vị Sát-đế-lỵ, là nơi có trống đánh vang, có voi gầm rống, này con gái ngoan, cái gì là hạnh phúc hơn điều ấy?
3691. Ở gia tộc của các vị Sát-đế-lỵ, có ngựa hí vang ở ngoài cửa, có nhạc công ca hát, này con gái ngoan, cái gì là hạnh phúc hơn điều ấy?
3692. Ở gia tộc của các vị Sát-đế-lỵ, có tiếng kêu của chim công, chim cò, được vang dội với tiếng kêu của chim cu cu, này con gái ngoan, cái gì là hạnh phúc hơn điều ấy?
3693. Vậy vị đánh bại kẻ thù, vị phá tan đất nước của kẻ khác, vị Kusa có trí tuệ cao cả ở đâu? Vị ấy có thể giúp cho chúng ta thoát khỏi khổ đau.”
3694. “Vị đánh bại kẻ thù, vị phá tan đất nước của kẻ khác, vị Kusa có trí tuệ cao cả ấy ở ngay tại nơi này, là vị có thể giúp cho chúng ta thoát khỏi khổ đau.”
3695. “Con điên rồ nên mới nói vậy, hoặc con phát ngôn như là kẻ ngu si. Nếu vị Kusa đã đến, tại sao chúng ta không hay biết điều ấy?”
3696. “Người này là gã đàn ông đầu bếp ở trong cung của các công nương, là kẻ đã vấn chặt y phục và đang cuối xuống rửa cái chảo.”
3697. “Có phải con là cô gái thấp hèn, là nữ nhân dòng hạ tiện? Hay con là kẻ bôi nhọ gia đình? Sanh ra ở dòng tộc Madda, tại sao con có thể bày tỏ dục vọng với kẻ nô lệ?”
3698. “Con không phải là cô gái thấp hèn, không phải là nữ nhân dòng hạ tiện, và không phải là kẻ bôi nhọ gia đình. Gã ấy là con trai của vua Okkāka. Mong rằng điều tốt lành hãy có cho mẹ. Vậy mà mẹ lại nghĩ là ‘kẻ nô lệ’!
3699. Người này luôn luôn dâng vật thực đến hai mươi ngàn vị Bà-la-môn, là con trai của vua Okkāka. Mong rằng điều tốt lành hãy có cho mẹ. Vậy mà mẹ lại nghĩ là ‘kẻ nô lệ’!
3700. Người ta luôn luôn cung cấp thức ăn cho hai mươi ngàn con voi của người này. Người này là con trai của vua Okkāka. Mong rằng điều tốt lành hãy có cho mẹ. Vậy mà mẹ lại nghĩ là ‘kẻ nô lệ’!
3701. Người ta luôn luôn cung cấp thức ăn cho hai mươi ngàn con ngựa của người này. Người này là con trai của vua Okkāka. Mong rằng điều tốt lành hãy có cho mẹ. Vậy mà mẹ lại nghĩ là ‘kẻ nô lệ’!
3702. Người ta luôn luôn thắng ngựa vào hai mươi ngàn cỗ xe của người này. Người này là con trai của vua Okkāka. Mong rằng điều tốt lành hãy có cho mẹ. Vậy mà mẹ lại nghĩ là ‘kẻ nô lệ’!
3703. Người ta luôn luôn nai nịt cho hai mươi ngàn bò mộng của người này. Người này là con trai của vua Okkāka. Mong rằng điều tốt lành hãy có cho mẹ. Vậy mà mẹ lại nghĩ là ‘kẻ nô lệ’!
3704. Người ta luôn luôn vắt sữa hai mươi ngàn bò cái của người này. Người này là con trai của vua Okkāka. Mong rằng điều tốt lành hãy có cho mẹ. Vậy mà mẹ lại nghĩ là ‘kẻ nô lệ’!”
3705. “Này cô con gái khờ dại, quả thật con đã có điều sái quấy! Con không nói (với trẫm) về việc vị Sát-đế-lỵ có binh lực vĩ đại, bậc long tượng ấy đã đi đến với bộ dạng của con ếch.”
3706. “Ôi đại vương, xin con rể hãy tha thứ cho lỗi lầm của chúng tôi, ôi đấng thủ lãnh xa binh, vì chúng tôi đã không biết việc đi đến nơi này với bề ngoài đã được cải trang ấy.”
3707. “Việc con trở thành gã đầu bếp là không thích hợp đối với kẻ như là con. Xin cha hãy tin tưởng ở con. Tâu bệ hạ, bệ hạ không có điều gì sái quấy.”
3708. “Này cô con gái khờ dại, hãy đi đến. Con hãy xin đức vua Kusa, vị có binh lực vĩ đại, thứ lỗi. Khi đã được đức vua Kusa thứ lỗi, vị ấy sẽ ban cho con mạng sống.”
3709. Nghe theo lời nói của vua cha, nàng Pabhāvatī, với vóc dáng Thiên thần, đã cúi đầu nắm lấy bàn chân của đức vua Kusa, vị có binh lực vĩ đại.
3710. “Tâu bệ hạ, những đêm thiếu vắng chàng đã trôi qua. Thiếp xin đê đầu đảnh lễ hai bàn chân của chàng. Tâu đấng thủ lãnh xa binh, xin chàng chớ giận dữ với thiếp.
3711. Thiếp xin bày tỏ sự thật với chàng, tâu đại vương, xin chàng hãy lắng nghe thiếp. Không còn có việc thiếp có thể tỏ ra không yêu quý chàng.
3712. Nếu trong lúc thiếp cầu xin như vậy, mà chàng sẽ không thực hiện lời nói của thiếp. Lúc này đây, cha sẽ giết chết thiếp rồi ban cho các vị Sát-đế-lỵ.”
3713. “Trong lúc nàng cầu xin như vậy, tại sao ta sẽ không thực hiện lời nói của nàng? Này mỹ nữ, ta không có giận nàng. Này Pabhāvatī, nàng chớ sợ hãi.
3714. Ta xin bày tỏ sự thật với nàng, hỡi nàng công chúa, xin nàng hãy lắng nghe ta. Không còn có việc ta có thể tỏ ra không yêu quý nàng.
3715. Bởi vì dục vọng đối với nàng, hỡi cô nàng có eo thon, ta chịu đựng nhiều khổ sở. Này Pabhāvatī, ta đã nhiều lần đi đến gia tộc Madda để rước nàng đi.”
3716. “Hãy thắng những con ngựa đã được thuần thục vào cỗ xe có nhiều màu sắc. Rồi các người hãy nhìn xem năng lực của ta trong khi ta tiêu diệt các kẻ thù.”
3717. Và tại nơi ấy, các nữ nhân ở hậu cung của đức vua xứ Madda đã quan sát vị ấy đang vỗ vào hai cánh tay, tựa như con sư tử đang vươn dậy.
3718. Sau khi cỡi lên mình voi, và đã đưa nàng Pabhāvatī lên (ngồi ở phía sau), đức vua Kusa đã lao vào trận chiến và đã rống lên tiếng rống sư tử.
3719. Sau khi nghe tiếng rống của vị ấy trong lúc vị ấy rống lên, các vị Sát-đế-lỵ, bị hành hạ do sự sợ hãi tiếng rống của đức vua Kusa, đã tẩu tán, tựa như các loài thú khác đã chạy trốn sau khi nghe tiếng rống của con sư tử.
3720. Các viên quản tượng, các ngự lâm quân, các xa binh, và các bộ binh, bị hành hạ do sự sợ hãi tiếng rống của đức vua Kusa, đã dẫm đạp lẫn nhau.
3721. Sau khi nhìn thấy trận chiến đấu ấy, vị Chúa của chư Thiên, với tâm ý hoan hỷ, đã ban cho đức vua Kusa viên ngọc ma-ni tên Veracana.
3722. Sau khi chiến thắng trận chiến ấy và đã nhận được viên ngọc Verocana, vị vua ấy, ngồi ở mình voi, đã đi vào thành phố Nagara.
3723. Sau khi đã bắt sống và trói lại bảy vị Sát-đế-lỵ, đức vua Kusa đã trình họ lên cha vợ (nói rằng): “Tâu bệ hạ, những người này là những kẻ đối địch với bệ hạ.
3724. Tất cả bọn họ đều ở trong quyền hạn của bệ hạ. Những kẻ thù của bệ hạ đã được loại trừ. Bệ hạ hãy đối xử với chúng tùy theo ý thích của bệ hạ: Bệ hạ hãy trả tự do cho chúng hoặc hãy giết chết chúng.”
3725. “Những người này là những kẻ đối địch của chính con, họ không phải là những kẻ đối địch với trẫm. Này đại vương, chính con là chúa tể của chúng tôi. Con hãy trả tự do cho bọn họ hoặc hãy giết chết bọn họ.”
3726. “Bảy người con gái này của bệ hạ xinh đẹp tương tự như các tiên nữ. Bệ hạ hãy ban cho chúng mỗi người một cô. Hãy để chúng trở thành những người con rể của bệ hạ.”
3727. “Không những đối với chúng tôi mà còn đối với các nàng ấy nữa, con là chúa tể của tất cả chúng tôi. Này đại vương, chính con là chúa tể của chúng tôi. Con hãy ban cho bọn họ nếu con thích.”
3728. Khi ấy, đức vua Kusa có giọng nói sư tử đã ban từng cô con gái một của đức vua xứ Madda đến từng người một trong số các vị Sát-đế-lỵ ấy.
3729. Được hài lòng với việc đạt được ấy, được vui vẻ với đức vua Kusa có giọng nói sư tử, bảy vị Sát-đế-lỵ đã trở về đất nước của mình liền khi ấy.
3730. Sau khi mang theo nàng Pabhāvatī và viên ngọc ma-ni Verocana xinh đẹp, đức vua Kusa, vị có binh lực vĩ đại, đã đi đến thành Kusāvatī.
3731. Trong lúc đi chung một cỗ xe, trong lúc đi vào thành Kusāvatī, với sắc đẹp và dáng vóc tương đương nhau, hai người đã không vượt trội lẫn nhau.
3732. Người mẹ đã gặp lại đứa con trai. Và cả hai vợ chồng ấy, từ đó, đã trở nên hòa hợp, đã cư ngụ ở trái đất hưng thịnh.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Idaṃ te raṭṭhaṃ sadhanaṃ sayoggaṃ, sakāyuraṃ sabbakāmūpapannaṃ;
Idaṃ te rajjaṃ † anusāsa amma, gacchāmahaṃ yattha piyā pabhāvatī’’.
531. This kingdom is yours, with its wealth and equipage, with its royal insignia, endowed with all delights. Govern this kingdom, mother. I shall go where my beloved Pabhāvatī is.
Thưa mẹ, quốc độ này cùng với tài sản, cùng với xe cộ, cùng với vương miện, được thành tựu tất cả các dục lạc. Thưa mẹ, mẹ hãy cai trị vương quốc này. Con sẽ đi đến nơi nào có nàng Pabhāvatī thân yêu.
2.
2.
2.
‘‘Anujjubhūtena haraṃ mahantaṃ, divā ca ratto ca nisīthakāle †;
Paṭigaccha tvaṃ khippaṃ kusāvatiṃ kusa †, nicchāmi dubbaṇṇamahaṃ vasantaṃ’’.
You bear a great burden, bent over, by day, by night, and at midnight. Go back quickly to Kusāvatī, Kusa! I do not desire an ugly one dwelling here.
Do tâm không ngay thẳng, ngài đang mang lấy gánh nặng to lớn, cả ngày lẫn đêm và cả lúc nửa đêm. Này Kusa, ngài hãy mau mau trở về Kusāvatī. Tôi không muốn người xấu xí ở lại đây.
3.
3.
3.
‘‘Nāhaṃ gamissāmi ito kusāvatiṃ, pabhāvatī vaṇṇapalobhito tava;
Ramāmi maddassa niketaramme, hitvāna raṭṭhaṃ tava dassane rato.
I shall not go from here to Kusāvatī, O Pabhāvatī, enticed by your beauty; I delight in the charming abode of the Madda king, having abandoned my kingdom, devoted to the sight of you.
Này Pabhāvatī, bị quyến rũ bởi sắc đẹp của nàng, ta sẽ không từ nơi này đi về Kusāvatī. Ta vui thích ở trong cung điện khả ái của vua Madda. Do vui thích được nhìn thấy nàng, ta sẽ không từ bỏ xứ sở này mà đi.
4.
4.
4.
‘‘Pabhāvatī vaṇṇapalobhito tava, sammūḷharūpo vicarāmi mediniṃ †;
Disaṃ na jānāmi kutomhi āgato, tayamhi matto migamandalocane.
O Pabhāvatī, captivated by your beauty, I wander the earth in confusion; I know not the direction, nor whence I came, intoxicated by you, O deer-eyed maiden.
Này Pabhāvatī, bị quyến rũ bởi sắc đẹp của nàng, ta đi lang thang trên mặt đất trong trạng thái mê muội. Ta không biết phương hướng, không biết mình từ đâu đến. Hỡi nàng có đôi mắt như nai con, ta đã bị say đắm vì nàng.
5.
5.
5.
‘‘Suvaṇṇacīravasane, jātarūpasumekhale;
Sussoṇi tava kāmā hi †, nāhaṃ rajjena matthiko’’.
O you who are clad in golden garments, wearing a beautiful golden girdle; O fair-hipped one, it is for love of you that I have no need for the kingdom.
Hỡi nàng mặc y phục bằng vàng, có dây lưng bằng vàng ròng xinh đẹp, có phần hông xinh đẹp! Vì ái dục đối với nàng, ta không có nhu cầu về vương quốc.
6.
6.
6.
‘‘Abbhūti † tassa bho hoti, yo anicchantamicchati;
Akāmaṃ rāja kāmesi †, akantaṃ kantu † micchasi’’.
Misfortune, sir, befalls him who desires one who is unwilling. O king, you desire the unwilling one; you wish to love one who is not to be loved.
Thưa ngài, sự tổn hại xảy đến cho người nào mong muốn người không mong muốn mình. Tâu đại vương, ngài yêu người không yêu, ngài muốn yêu người không đáng yêu.
7.
7.
7.
‘‘Akāmaṃ vā sakāmaṃ vā, yo naro labhate piyaṃ;
Lābhamettha pasaṃsāma, alābho tattha pāpako’’.
Whether she is unwilling or willing, if a man obtains his beloved, we praise that gain; not to gain her is a wicked thing.
Dù không muốn hay có muốn, người nào có được người mình yêu, chúng tôi tán dương sự thành tựu ấy. Ở đây, sự không thành tựu là điều xấu xa.
8.
8.
8.
‘‘Pāsāṇasāraṃ khaṇasi, kaṇikārassa dārunā;
Vātaṃ jālena bādhesi, yo anicchantamicchasi’’.
You dig for the core of a stone with a piece of kaṇikāra wood; you try to bind the wind with a net, you who desire one who is unwilling.
Ngài đang đào khối đá rắn chắc bằng một khúc gỗ kaṇikāra, ngài đang trói buộc cơn gió bằng một cái lưới, (bởi vì) ngài mong muốn người không mong muốn ngài.
9.
9.
9.
‘‘Pāsāṇo nūna te hadaye, ohito mudulakkhaṇe;
Yo te sātaṃ na vindāmi, tirojanapadāgato.
Surely a stone is placed in your heart, O gentle-featured one; for I, having come from a distant land, find no pleasure from you.
Hỡi nàng có những nét mềm mại! Chắc chắn có tảng đá được đặt trong trái tim nàng, do đó ta, người đã đến từ xứ sở khác, không tìm thấy được sự thoải mái nơi nàng.
10.
10.
10.
‘‘Yadā maṃ bhakuṭiṃ † katvā, rājaputtī udikkhati †;
Āḷāriko tadā homi, rañño maddassantepure †.
When the princess looks at me with a frown, then I become a cook in the inner palace of King Madda.
Khi công chúa cau mày nhìn ta, lúc ấy ta trở thành người đầu bếp ở trong cung của vua Madda.
11.
11.
11.
‘‘Yadā umhayamānā maṃ, rājaputtī udikkhati †;
Nāḷāriko tadā homi, rājā homi tadā kuso’’.
When the princess looks at me while smiling, then I am not a cook; then I am King Kusa.
Khi công chúa mỉm cười nhìn ta, lúc ấy ta không còn là người đầu bếp, lúc ấy ta trở thành vua Kusa.
12.
12.
12.
‘‘Sace hi vacanaṃ saccaṃ, nemittānaṃ bhavissati;
Neva me tvaṃ patī assa, kāmaṃ chindantu sattadhā’’.
If indeed the word of the soothsayers proves true, you shall never be my husband; let them cut me into seven pieces if they will.
Nếu lời nói của các nhà tiên tri là sự thật, ngài sẽ không bao giờ là chồng của tôi, cứ để cho (thân tôi) bị chặt thành bảy mảnh.
13.
13.
13.
‘‘Sace hi vacanaṃ saccaṃ, aññesaṃ yadi vā mamaṃ;
Neva tuyhaṃ patī atthi, añño sīhassarā kusā’’.
If indeed the word proves true, whether of others or of me, you have no other husband than Kusa of the lion-like voice.
Nếu lời nói là sự thật, của những người khác hoặc của chính ta, thì nàng sẽ không có người chồng nào khác ngoài Kusa, người có tiếng nói như sư tử.
14.
14.
14.
‘‘Nekkhaṃ gīvaṃ te kāressaṃ, patvā khujje kusāvatiṃ;
Sace maṃ nāganāsūrū, olokeyya pabhāvatī.
O hunchback, upon reaching Kusāvatī, I will have a golden necklace made for your neck, if Pabhāvatī, she with thighs like an elephant's trunk, would look at me.
Này Khujjā, ta sẽ làm cho bà một vòng cổ bằng vàng khi về đến Kusāvatī, nếu nàng Pabhāvatī có bắp đùi như vòi voi chịu nhìn ta.
15.
15.
15.
‘‘Nekkhaṃ gīvaṃ te kāressaṃ, patvā khujje kusāvatiṃ;
Sace maṃ nāganāsūrū, ālapeyya pabhāvatī.
O hunchback, upon reaching Kusāvatī, I will have a golden necklace made for your neck, if Pabhāvatī, she with thighs like an elephant's trunk, would speak to me.
Này Khujjā, ta sẽ làm cho bà một vòng cổ bằng vàng khi về đến Kusāvatī, nếu nàng Pabhāvatī có bắp đùi như vòi voi chịu nói chuyện với ta.
16.
16.
16.
‘‘Nekkhaṃ gīvaṃ te kāressaṃ, patvā khujje kusāvatiṃ;
Sace maṃ nāganāsūrū, umhāyeyya pabhāvatī.
O hunchback, upon reaching Kusāvatī, I will have a golden necklace made for your neck, if Pabhāvatī, she with thighs like an elephant's trunk, would smile at me.
Này Khujjā, ta sẽ làm cho bà một vòng cổ bằng vàng khi về đến Kusāvatī, nếu nàng Pabhāvatī có bắp đùi như vòi voi chịu mỉm cười với ta.
17.
17.
17.
‘‘Nekkhaṃ gīvaṃ te kāressaṃ, patvā khujje kusāvatiṃ;
Sace maṃ nāganāsūrū, pamhāyeyya pabhāvatī.
O hunchback, upon reaching Kusāvatī, I will have a golden necklace made for your neck, if Pabhāvatī, she with thighs like an elephant's trunk, would laugh aloud at me.
Này Khujjā, ta sẽ làm cho bà một vòng cổ bằng vàng khi về đến Kusāvatī, nếu nàng Pabhāvatī có bắp đùi như vòi voi chịu cười lớn với ta.
18.
18.
18.
‘‘Nekkhaṃ gīvaṃ te kāressaṃ, patvā khujje kusāvatiṃ;
Sace me nāganāsūrū, pāṇīhi upasamphuse’’.
O hunchback, upon reaching Kusāvatī, I will have a golden necklace made for your neck, if Pabhāvatī, she with thighs like an elephant's trunk, would touch me with her hands.
Này Khujjā, ta sẽ làm cho bà một vòng cổ bằng vàng khi về đến Kusāvatī, nếu nàng Pabhāvatī có bắp đùi như vòi voi chịu dùng tay chạm đến ta.
19.
19.
19.
‘‘Na hi nūnāyaṃ rājaputtī, kuse sātampi vindati;
Āḷārike bhate pose, vetanena anatthike’’.
Surely this princess finds no pleasure at all in Kusa. He, a cook, a hired servant who has no need of wages, nourishes you.
Chắc chắn công chúa này đã không tìm thấy được sự thoải mái ở Kusāvatī. (Vua Kusa) không có nhu cầu về tiền lương, đã làm người đầu bếp được thuê mướn để nuôi nấng các người.
20.
20.
20.
‘‘Na hi nūnāyaṃ sā † khujjā, labhati jivhāya chedanaṃ;
Sunisitena satthena, evaṃ dubbhāsitaṃ bhaṇaṃ’’.
Surely this hunchback will not have her tongue cut out with a well-sharpened blade for speaking such ill words.
Chắc chắn bà gù kia, người đã nói lời ác ngữ như vậy, sẽ không bị cắt lưỡi bằng con dao được mài sắc bén hay sao?
21.
21.
21.
‘‘Mā naṃ rūpena pāmesi, ārohena pabhāvati;
Mahāyasoti katvāna, karassu rucire piyaṃ.
Do not judge him by his form or by his stature, O Pabhāvatī. Considering that 'he is of great fame,' hold him dear, O lovely one.
Này Pabhāvatī, nàng chớ có đo lường vị ấy bằng sắc đẹp và vóc dáng. Sau khi đã nghĩ rằng: 'Vị ấy có danh tiếng lớn,' nàng hãy thể hiện sự trìu mến đối với người đáng mến.
22.
22.
22.
‘‘Mā naṃ rūpena pāmesi, ārohena pabhāvati;
Mahaddhanoti katvāna, karassu rucire piyaṃ.
Do not judge him by his form or by his stature, O Pabhāvatī. Considering that 'he is very wealthy,' hold him dear, O lovely one.
Này Pabhāvatī, nàng chớ có đo lường vị ấy bằng sắc đẹp và vóc dáng. Sau khi đã nghĩ rằng: 'Vị ấy có tài sản lớn,' nàng hãy thể hiện sự trìu mến đối với người đáng mến.
23.
23.
23.
‘‘Mā naṃ rūpena pāmesi, ārohena pabhāvati;
Mahabbaloti katvāna, karassu rucire piyaṃ.
Do not judge him by his form or by his stature, O Pabhāvatī. Considering that 'he is of great strength,' hold him dear, O lovely one.
Này Pabhāvatī, nàng chớ có đo lường vị ấy bằng sắc đẹp và vóc dáng. Sau khi đã nghĩ rằng: 'Vị ấy có sức mạnh lớn,' nàng hãy thể hiện sự trìu mến đối với người đáng mến.
24.
24.
24.
‘‘Mā naṃ rūpena pāmesi, ārohena pabhāvati;
Mahāraṭṭhoti katvāna, karassu rucire piyaṃ.
Do not judge him by his form or by his stature, O Pabhāvatī. Considering that 'he has a great kingdom,' hold him dear, O lovely one.
Này Pabhāvatī, nàng chớ có đo lường vị ấy bằng sắc đẹp và vóc dáng. Sau khi đã nghĩ rằng: 'Vị ấy có quốc độ lớn,' nàng hãy thể hiện sự trìu mến đối với người đáng mến.
25.
25.
25.
‘‘Mā naṃ rūpena pāmesi, ārohena pabhāvati;
Mahārājāti katvāna, karassu rucire piyaṃ.
Do not judge him by his form or by his stature, O Pabhāvatī. Considering that 'he is a great king,' hold him dear, O lovely one.
Này Pabhāvatī, nàng chớ có đo lường vị ấy bằng sắc đẹp và vóc dáng. Sau khi đã nghĩ rằng: 'Vị ấy là vị Đại vương,' nàng hãy thể hiện sự trìu mến đối với người đáng mến.
26.
26.
26.
‘‘Mā naṃ rūpena pāmesi, ārohena pabhāvati;
Sīhassaroti katvāna, karassu rucire piyaṃ.
Do not judge him by his form or by his stature, O Pabhāvatī. Considering that 'he has a lion's voice,' hold him dear, O lovely one.
Này Pabhāvatī, nàng chớ có đo lường vị ấy bằng sắc đẹp và vóc dáng. Sau khi đã nghĩ rằng: 'Vị ấy có tiếng nói như sư tử,' nàng hãy thể hiện sự trìu mến đối với người đáng mến.
27.
27.
27.
‘‘Mā naṃ rūpena pāmesi, ārohena pabhāvati;
Vaggussaroti katvāna, karassu rucire piyaṃ.
Do not judge him by his form or by his stature, O Pabhāvatī. Considering that 'he has a beautiful voice,' hold him dear, O lovely one.
Này Pabhāvatī, nàng chớ có đo lường vị ấy bằng sắc đẹp và vóc dáng. Sau khi đã nghĩ rằng: 'Vị ấy có tiếng nói du dương,' nàng hãy thể hiện sự trìu mến đối với người đáng mến.
28.
28.
28.
‘‘Mā naṃ rūpena pāmesi, ārohena pabhāvati;
Bindussaroti katvāna, karassu rucire piyaṃ.
Do not judge him by his form or by his stature, O Pabhāvatī. Considering that 'he has a melodious voice,' hold him dear, O lovely one.
Này Pabhāvatī, nàng chớ có đo lường vị ấy bằng sắc đẹp và vóc dáng. Sau khi đã nghĩ rằng: 'Vị ấy có tiếng nói ngọt ngào,' nàng hãy thể hiện sự trìu mến đối với người đáng mến.
29.
29.
29.
‘‘Mā naṃ rūpena pāmesi, ārohena pabhāvati;
Mañjussaroti katvāna, karassu rucire piyaṃ.
Do not judge him by his form or by his stature, O Pabhāvatī. Considering that 'he has a sweet voice,' hold him dear, O lovely one.
Này Pabhāvatī, nàng chớ có đo lường vị ấy bằng sắc đẹp và vóc dáng. Sau khi đã nghĩ rằng: 'Vị ấy có tiếng nói dịu dàng,' nàng hãy thể hiện sự trìu mến đối với người đáng mến.
30.
30.
30.
‘‘Mā naṃ rūpena pāmesi, ārohena pabhāvati;
Madhussaroti † katvāna, karassu rucire piyaṃ.
Do not judge him by his form or by his stature, O Pabhāvatī. Considering that 'he has a honey-sweet voice,' hold him dear, O lovely one.
“Này Pabhāvatī, nàng chớ kiêu mạn về dung sắc và vóc dáng của mình. Hãy nghĩ rằng: ‘Vua có giọng nói ngọt ngào’, và hãy yêu thương người đáng mến.”
31.
31.
31.
‘‘Mā naṃ rūpena pāmesi, ārohena pabhāvati;
Satasippoti katvāna, karassu rucire piyaṃ.
Do not judge him by his form or by his stature, O Pabhāvatī. Considering that 'he is skilled in a hundred arts,' hold him dear, O lovely one.
“Này Pabhāvatī, nàng chớ kiêu mạn về dung sắc và vóc dáng của mình. Hãy nghĩ rằng: ‘Vua có trăm nghề khéo’, và hãy yêu thương người đáng mến.”
32.
32.
32.
‘‘Mā naṃ rūpena pāmesi, ārohena pabhāvati;
Khattiyotipi katvāna †, karassu rucire piyaṃ.
Do not judge him by his form or by his stature, O Pabhāvatī. Considering that 'he is a Khattiya,' hold him dear, O lovely one.
“Này Pabhāvatī, nàng chớ kiêu mạn về dung sắc và vóc dáng của mình. Hãy nghĩ rằng: ‘Vua là dòng dõi Sát-đế-lỵ’, và hãy yêu thương người đáng mến.”
33.
33.
33.
‘‘Mā naṃ rūpena pāmesi, ārohena pabhāvati;
Kusarājāti katvāna, karassu rucire piyaṃ’’.
Do not judge him by his form or by his stature, O Pabhāvatī. Considering that 'he is King Kusa,' hold him dear, O lovely one.
“Này Pabhāvatī, nàng chớ kiêu mạn về dung sắc và vóc dáng của mình. Hãy nghĩ rằng: ‘Vua là vua Kusa’, và hãy yêu thương người đáng mến.”
34.
34.
34.
‘‘Ete nāgā upatthaddhā, sabbe tiṭṭhanti vammitā †;
Purā maddanti pākāraṃ, ānentetaṃ pabhāvatiṃ’’.
These elephants stand obstinately, all of them armored; before they crush the city wall, bring forth this Pabhāvatī.
“Những con voi này rất hung dữ, tất cả các vua đều đứng đó, mặc áo giáp. Trước khi chúng phá vỡ thành lũy, hãy mang Pabhāvatī này ra đây.”
35.
35.
35.
‘‘Satta bile † karitvāna, ahametaṃ pabhāvatiṃ;
Khattiyānaṃ padassāmi, ye maṃ hantuṃ idhāgatā’’.
Having made her into seven portions, I shall give this Pabhāvatī to the Khattiyas who have come here to kill me.
“Ta sẽ chặt Pabhāvatī này ra làm bảy mảnh, rồi sẽ trao cho các vị vua Sát-đế-lỵ, những kẻ đã đến đây để giết ta.”
36.
36.
36.
‘‘Avuṭṭhahi rājaputtī, sāmā koseyyavāsinī;
Assupuṇṇehi nettehi, dāsīgaṇapurakkhatā’’.
The princess of golden complexion, clad in silk, arose; surrounded by her host of maids, with eyes full of tears.
“Vị công chúa, nước da màu vàng sẫm, mặc y phục bằng lụa, được đám nữ tỳ vây quanh, đã đứng dậy với đôi mắt đẫm lệ.”
37.
37.
37.
‘‘Taṃ nūna kakkūpanisevitaṃ mukhaṃ, ādāsadantātharupaccavekkhitaṃ;
Subhaṃ sunettaṃ virajaṃ anaṅgaṇaṃ, chuddhaṃ vane ṭhassati khattiyehi.
Surely that face of mine, anointed with fine cosmetics, reflected in a mirror with an ivory handle—lovely, with beautiful eyes, stainless, without blemish—will be cast away in the forest by the Khattiyas.
“Chắc chắn rồi, khuôn mặt này của con, được thoa bột thơm, được soi trong gương ngà, xinh đẹp, mắt xinh, không tỳ vết, không tì vết, sẽ bị các vua Sát-đế-lỵ vứt bỏ trong rừng.”
38.
38.
38.
‘‘Te nūna me asite vellitagge, kese mudū candanasāralitte;
Samākule sīvathikāya majjhe, pādehi gijjhā parikaḍḍhissanti †.
Surely this black hair of mine, with curled tips, soft, anointed with sandalwood essence, will be dragged about by vultures with their feet, all dishevelled, amidst the charnel ground.
“Chắc chắn rồi, mái tóc đen, cong ở ngọn, mềm mại, thoa tinh chất đàn hương, được chải chuốt của con, giữa bãi tha ma, sẽ bị lũ kền kền dùng chân kéo đi.”
39.
39.
39.
‘‘Tā nūna me tambanakhā sulomā, bāhā mudū candanasāralittā;
Chinnā vane ujjhitā khattiyehi, gayha dhaṅko † gacchati yena kāmaṃ.
Surely these arms of mine, with copper-colored nails and fine hair, soft, anointed with sandalwood essence, cut off and abandoned in the forest by the Khattiyas, a crow will seize and carry off wherever it wishes.
“Chắc chắn rồi, đôi tay của con, móng đỏ, lông tơ mịn, mềm mại, thoa tinh chất đàn hương, bị các vua Sát-đế-lỵ chặt đứt, vứt bỏ trong rừng, sẽ bị con quạ tha đi đến bất cứ nơi nào nó muốn.”
40.
40.
40.
‘‘Te nūna tālūpanibhe alambe, nisevite kāsikacandanena;
Thanesu me lambissati † siṅgālo †, mātūva putto taruṇo tanūjo.
Surely a jackal will suckle at my breasts—which are like ripe palmyra fruits, pendulous, and anointed with sandalwood from Kāsī—just as a young, tender son suckles at his mother's.
“Chắc chắn rồi, đôi vú của con, giống như quả thốt nốt chín, tròn đầy, được thoa đàn hương Kāsi, sẽ bị con chó rừng bú mút, như đứa con trai nhỏ bú mút vú mẹ.”
41.
41.
41.
‘‘Taṃ nūna soṇiṃ puthulaṃ sukoṭṭitaṃ, nisevitaṃ kañcanamekhalāhi;
Chinnaṃ vane khattiyehī avatthaṃ, siṅgālasaṅghā parikaḍḍhissanti †.
Surely my broad and well-rounded hips, adorned with golden girdles, cut off in the forest by the Khattiyas and left bare, packs of jackals will drag about.
“Chắc chắn rồi, phần hông rộng, nở nang, được trang điểm bằng dây lưng vàng của con, bị các vua Sát-đế-lỵ chặt đứt, vứt bỏ trong rừng, sẽ bị bầy chó rừng kéo đi.”
42.
42.
42.
‘‘Soṇā dhaṅkā † siṅgālā ca, ye caññe santi dāṭhino;
Ajarā nūna hessanti, bhakkhayitvā pabhāvatiṃ.
Dogs, crows, and jackals, and whatever other fanged creatures there are, will surely become ageless after devouring Pabhāvatī.
“Chó, quạ, và chó rừng, cùng những loài thú có nanh khác, chắc chắn sẽ trở nên bất lão sau khi ăn thịt Pabhāvatī.”
43.
43.
43.
‘‘Sace maṃsāni hariṃsu, khattiyā dūragāmino;
Aṭṭhīni amma yācitvā, anupathe dahātha naṃ.
If the warrior-kings, going far, have taken my flesh, Mother, having begged for the bones, cremate them beside the road.
“Thưa mẹ, nếu các vị vua Sát-đế-lỵ từ phương xa mang thịt của con đi, xin mẹ hãy xin lại xương cốt và hỏa táng chúng bên vệ đường.”
44.
44.
44.
‘‘Khettāni amma kāretvā, kaṇikārettha ropaya †;
Yadā te pupphitā assu, hemantānaṃ himaccaye;
Sareyyātha mamaṃ † amma, evaṃvaṇṇā pabhāvatī’’.
Mother, having had fields prepared, plant kaṇikāra trees there. When they are in bloom at the end of winter, you should remember me, Mother, thinking, 'Pabhāvatī was of such a complexion'.
“Thưa mẹ, xin hãy cho làm những luống hoa và trồng cây kaṇikāra ở đó. Khi chúng nở hoa vào cuối mùa đông, xin mẹ hãy nhớ đến con: ‘Pabhāvatī có màu da như thế này’.”
45.
45.
45.
‘‘Tassā mātā udaṭṭhāsi, khattiyā devavaṇṇinī;
Disvā asiñca sūnañca, rañño maddassantepure’’.
Her mother, a warrior-caste woman of divine complexion, rose up, seeing the axe and the butcher's knife in the inner palace of King Madda.
“Mẹ của nàng, một vị công nương dòng Sát-đế-lỵ, có dung sắc như thiên nữ, đã đứng dậy khi thấy cây rìu và con dao của người đồ tể trong nội cung của vua Madda.”
46.
46.
46.
‘‘Iminā nūna asinā, susaññaṃ tanumajjhimaṃ;
Dhītaraṃ madda † hantvāna, khattiyānaṃ padassasi’’ †.
Surely, O Madda, with this axe, having killed your well-proportioned, slender-waisted daughter, you will give her to the warrior-kings.
“Hỡi vua Madda, chắc chắn ngài sẽ dùng cây rìu này để giết con gái có thân hình cân đối, eo thon, rồi trao cho các vị vua Sát-đế-lỵ.”
47.
47.
47.
‘‘Na me akāsi vacanaṃ, atthakāmāya puttike;
Sājja lohitasañchannā, gacchasi † yamasādhanaṃ.
You did not heed my words, my child, spoken for your welfare; today, covered in blood, you shall go to Yama’s abode.
“Hỡi con gái, con đã không làm theo lời của mẹ, người mong muốn điều tốt cho con. Hôm nay, mình đầy máu, con sẽ đi đến nơi ở của Diêm vương.”
48.
48.
48.
‘‘Evamāpajjatī poso, pāpiyañca nigacchati;
Yo ve hitānaṃ vacanaṃ, na karoti † atthadassinaṃ.
Thus does a person meet with misfortune and come to a wretched state, who does not follow the words of well-wishers who see what is beneficial.
“Người nào không làm theo lời của những người mong cầu lợi ích, những người thấy được điều tốt, người ấy sẽ gặp phải tai họa như vậy và đi đến chỗ khốn cùng.”
49.
49.
49.
‘‘Sace ca ajja † dhāresi †, kumāraṃ cārudassanaṃ;
Kusena jātaṃ khattiyaṃ, suvaṇṇamaṇimekhalaṃ;
Pūjitaṃ † ñātisaṅghehi, na gacchasi † yamakkhayaṃ.
And if today you had accepted the prince, a warrior-caste man of pleasing appearance, born of Kusa, adorned with a golden and jeweled girdle, honored by his assembly of kinsmen, you would not be going to Yama's destruction.
“Nếu hôm nay con chấp nhận vị hoàng tử có dung mạo đáng yêu, dòng dõi Sát-đế-lỵ sinh bởi vua Kusa, đeo dây lưng bằng vàng và ngọc, được quyến thuộc tôn kính, thì con đã không phải đi đến cõi Diêm vương.”
50.
50.
50.
‘‘Yatthassu bherī nadati, kuñjaro ca nikūjati †;
Khattiyānaṃ kule bhadde, kiṃ nu sukhataraṃ tato.
Where the drum sounds and the elephant trumpets, in the clan of the warrior-caste, O gracious one, what indeed is more pleasant than that?
“Này con gái hiền, trong dòng dõi Sát-đế-lỵ, nơi trống trận vang rền và voi chúa rống vang, có gì hạnh phúc hơn thế nữa?”
51.
51.
51.
‘‘Asso ca sisati † dvāre, kumāro uparodati;
Khattiyānaṃ kule bhadde, kiṃ nu sukhataraṃ tato.
A horse neighs at the gate, and a young minstrel sings; in the clan of the warrior-caste, O gracious one, what indeed is more pleasant than that?
“Này con gái hiền, trong dòng dõi Sát-đế-lỵ, nơi ngựa hí ở cổng và chàng nhạc công ca hát, có gì hạnh phúc hơn thế nữa?”
52.
52.
52.
‘‘Mayūrakoñcābhirude, kokilābhinikūjite;
Khattiyānaṃ kule bhadde, kiṃ nu sukhataraṃ tato’’.
In a place resounding with peacocks and herons, and filled with the songs of cuckoos—in the clan of the warrior-caste, O gracious one, what indeed is more pleasant than that?
“Này con gái hiền, trong dòng dõi Sát-đế-lỵ, nơi vang tiếng công và hạc, nơi chim cu gáy líu lo, có gì hạnh phúc hơn thế nữa?”
53.
53.
53.
‘‘Kahaṃ nu so sattumaddano, pararaṭṭhappamaddano;
Kuso soḷārapaññāṇo, yo no dukkhā pamocaye’’.
Where now is he, the crusher of enemies, the subduer of foreign lands? Kusa, of splendid wisdom, who could deliver us from suffering?
“Đâu rồi người chinh phục kẻ thù, người đè bẹp quốc độ của địch, vua Kusa với trí tuệ vĩ đại, người có thể giải thoát chúng ta khỏi khổ đau?”
54.
54.
54.
‘‘Idheva so sattumaddano, pararaṭṭhappamaddano;
Kuso soḷārapaññāṇo, yo te sabbe vadhissati’’ †.
Right here is he, the crusher of enemies, the subduer of foreign lands; Kusa, of splendid wisdom, who will slay them all.
“Ngay tại đây là người chinh phục kẻ thù, người đè bẹp quốc độ của địch, vua Kusa với trí tuệ vĩ đại, người sẽ giết tất cả bọn chúng.”
55.
55.
55.
‘‘Ummattikā nu bhaṇasi, andhabālā pabhāsasi †;
Kuso ce āgato assa, kiṃ na † jānemu taṃ mayaṃ’’.
Are you mad that you speak so? Do you babble like a blind fool? If Kusa had come, how could we not know him?
“Phải chăng con nói năng như người điên, phải chăng con nói lời của kẻ ngu si mù quáng? Nếu Kusa đã đến, tại sao chúng ta lại không biết người ấy?”
56.
56.
56.
‘‘Eso āḷāriko poso, kumārīpuramantare;
Daḷhaṃ katvāna saṃvelliṃ, kumbhiṃ dhovati oṇato’’.
That man, the kitchen-servant, within the princess's quarters—having firmly tucked in his lower garment, he washes a pot, bent over.
“Người đầu bếp kia, ở giữa cung của các công chúa, đang cúi mình xuống, đóng khố thật chặt và rửa nồi.”
57.
57.
57.
‘‘Veṇī tvamasi caṇḍālī, adūsi kulagandhinī;
Kathaṃ maddakule jātā, dāsaṃ kayirāsi kāmukaṃ’’.
Are you a basket-maker's daughter, or a caṇḍāla woman? Or are you a destroyer of your clan? How, being born into the Madda clan, could you make your own husband a slave?
“Con là thợ dệt hay là người Chiên-đà-la, hay là kẻ làm ô uế gia tộc? Sinh ra trong dòng dõi Madda, sao con lại biến người chồng yêu quý của mình thành nô lệ?”
58.
58.
58.
‘‘Namhi veṇī na caṇḍālī, na camhi kulagandhinī;
Okkākaputto bhaddante, tvaṃ nu dāsoti maññasi’’.
I am not a basket-maker's daughter, nor a caṇḍāla woman, nor am I a destroyer of my clan. O gracious mother, do you think that the son of Okkāka is a slave?
“Con không phải thợ dệt, không phải người Chiên-đà-la, cũng không phải kẻ làm ô uế gia tộc. Thưa mẹ tôn kính, người mà mẹ cho là nô lệ chính là con trai của vua Okkāka.”
59.
59.
59.
‘‘Yo brāhmaṇasahassāni, sadā bhojeti vīsatiṃ;
Okkākaputto bhaddante, tvaṃ nu dāsoti maññasi’’.
He who always feeds twenty thousand brahmins—that son of Okkāka, O gracious mother, do you think he is a slave?
“Người mà luôn cúng dường cho hai mươi ngàn vị Bà-la-môn, người con trai của vua Okkāka, thưa mẹ tôn kính, mẹ lại cho người ấy là nô lệ sao?”
60.
60.
60.
‘‘Yassa nāgasahassāni, sadā yojenti vīsatiṃ;
Okkākaputto bhaddante, tvaṃ nu dāsoti maññasi.
He for whom they always harness twenty thousand elephants—that son of Okkāka, O gracious mother, do you think he is a slave?
Tâu mẫu hậu kính yêu, vị vương tử của vua Okkāka, người mà hai mươi ngàn thớt voi luôn được thắng yên cương (để phục vụ), mẫu hậu lại cho rằng người ấy là kẻ hầu người hạ sao?
61.
61.
61.
‘‘Yassa assasahassāni, sadā yojenti vīsatiṃ;
Okkākaputto bhaddante, tvaṃ nu dāsoti maññasi.
He for whom they always harness twenty thousand horses—that son of Okkāka, O gracious mother, do you think he is a slave?
Tâu mẫu hậu kính yêu, vị vương tử của vua Okkāka, người mà hai mươi ngàn con ngựa luôn được thắng yên cương (để phục vụ), mẫu hậu lại cho rằng người ấy là kẻ hầu người hạ sao?
62.
62.
62.
‘‘Yassa rathasahassāni, sadā yojenti vīsatiṃ;
Okkākaputto bhaddante, tvaṃ nu dāsoti maññasi.
He for whom they always harness twenty thousand chariots—that son of Okkāka, O gracious mother, do you think he is a slave?
Tâu mẫu hậu kính yêu, vị vương tử của vua Okkāka, người mà hai mươi ngàn cỗ xe luôn được thắng yên cương (để phục vụ), mẫu hậu lại cho rằng người ấy là kẻ hầu người hạ sao?
† (‘‘Yassa usabhasahassāni, sadā yojenti vīsatiṃ;
Okkākaputto bhaddante, tvaṃ nu dāsoti maññasi) †.
He for whom they always yoke twenty thousand bulls—that son of Okkāka, O gracious mother, do you think he is a slave?
Tâu mẫu hậu kính yêu, vị vương tử của vua Okkāka, người mà hai mươi ngàn con bò đực luôn được thắng yên cương (để phục vụ), mẫu hậu lại cho rằng người ấy là kẻ hầu người hạ sao?
63.
63.
63.
‘‘Yassa dhenusahassāni, sadā duhanti vīsatiṃ †;
Okkākaputto bhaddante, tvaṃ nu dāsoti maññasi’’.
He for whom they always milk twenty thousand milk-cows—that son of Okkāka, O gracious mother, do you think he is a slave?
Tâu mẫu hậu kính yêu, vị vương tử của vua Okkāka, người mà hai mươi ngàn con bò cái luôn được vắt sữa (để phục vụ), mẫu hậu lại cho rằng người ấy là kẻ hầu người hạ sao?
64.
64.
64.
‘‘Taggha te dukkaṭaṃ bāle, yaṃ khattiyaṃ mahabbalaṃ;
Nāgaṃ maṇḍūkavaṇṇena, na naṃ † akkhāsidhāgataṃ’’ †.
Truly, O foolish one, you have done wrong, in that you treated a mighty warrior-king, a great being, as though he had the appearance of a frog; and you did not announce him when he had arrived.
Này kẻ ngu muội kia, thật là việc làm sai trái của ngươi, khi ngươi đã không loan báo về vị Sát-đế-lỵ đại lực, bậc cao quý ấy, người đã đến đây, (chỉ vì xem thường) người có màu da như con ếch.
65.
65.
65.
‘‘Aparādhaṃ mahārāja, tvaṃ no khama rathesabha;
Yaṃ taṃ aññātavesena, nāññāsimhā idhāgataṃ’’.
Forgive our offense, O great king, O bull among charioteers; in that we did not recognize you, who came here in an unknown guise.
Tâu Đại vương, tâu bậc tối thắng trong các chiến sĩ xa mã, xin ngài hãy tha thứ lỗi lầm của chúng tôi, vì chúng tôi đã không nhận ra ngài khi ngài đến đây với thân phận không được biết đến.
66.
66.
66.
‘‘Mādisassa na taṃ channaṃ, yohaṃ āḷāriko bhave;
Tvaññeva me pasīdassu, natthi te deva dukkaṭaṃ’’.
It is not fitting for one such as I that I should be a kitchen-servant. Be gracious to me; you, O lord, have done no wrong.
Việc trẫm đã làm người đầu bếp, việc ấy không thích hợp với người như trẫm. Chính nhạc phụ hãy có lòng tịnh tín với con. Tâu đức vua, nhạc phụ không có lỗi lầm gì cả.
67.
67.
67.
‘‘Gaccha bāle khamāpehi, kusarājaṃ mahabbalaṃ;
Khamāpito kuso rājā †, so te dassati jīvitaṃ’’.
Go, foolish one, and ask forgiveness of the mighty King Kusa. When you have asked his forgiveness, King Kusa will grant you your life.
Này kẻ ngu muội, hãy đi, hãy xin vua Kusa đại lực tha thứ. Khi vua Kusa được xin tha thứ, ngài sẽ ban lại mạng sống cho ngươi.
68.
68.
68.
‘‘Pitussa vacanaṃ sutvā, devavaṇṇī pabhāvatī;
Sirasā aggahī pāde, kusarājaṃ mahabbalaṃ’’.
Having heard her father's words, Pabhāvatī of divine complexion took the feet of the mighty King Kusa with her head.
Nàng Pabhāvatī có dung sắc như thiên nữ, sau khi nghe lời của phụ vương, đã cúi đầu đảnh lễ nơi chân của vua Kusa đại lực.
69.
69.
69.
‘‘Yāmā ratyo atikkantā, tāmā deva tayā vinā;
Vande te sirasā pāde, mā me kujjhaṃ rathesabha.
Those nights that have passed, O lord, have passed without you. I venerate your feet with my head; do not be angry with me, O bull among charioteers.
Tâu đức vua, những đêm đã trôi qua vắng bóng chàng. Tâu bậc tối thắng trong các chiến sĩ xa mã, thiếp xin cúi đầu đảnh lễ chân chàng, xin đừng giận thiếp.
70.
70.
70.
‘‘Sabbaṃ † te paṭijānāmi, mahārāja suṇohi me;
Na cāpi appiyaṃ tuyhaṃ, kareyyāmi ahaṃ puna.
I confess it all to you, O great king, listen to me; and I shall never again do anything displeasing to you.
Tâu Đại vương, thiếp xin thú nhận tất cả, xin hãy nghe lời thiếp. Thiếp sẽ không bao giờ làm điều không hài lòng chàng nữa.
71.
71.
71.
‘‘Evaṃ ce yācamānāya, vacanaṃ me na kāhasi;
Idāni maṃ tāto hantvā, khattiyānaṃ padassati’’.
If, as I am begging thus, you will not do my bidding, then my father will kill me now and give me to the warrior-kings.
Nếu chàng không thực hiện lời của thiếp đang van xin như thế này, bây giờ phụ vương sẽ giết thiếp rồi trao (thiếp) cho các vị Sát-đế-lỵ.
72.
72.
72.
‘‘Evaṃ te yācamānāya, kiṃ na kāhāmi te vaco;
Vikuddho tyasmi kalyāṇi, mā tvaṃ bhāyi pabhāvati.
Since you are begging thus, how could I not do your bidding? My anger toward you is gone, O lovely one; do not be afraid, Pabhāvatī.
Khi nàng đang van xin như thế này, tại sao ta lại không làm theo lời nàng? Hỡi nàng xinh đẹp, ta không hề giận nàng. Nàng Pabhāvatī, nàng đừng sợ hãi.
73.
73.
73.
‘‘Sabbaṃ te paṭijānāmi, rājaputti suṇohi me;
Na cāpi appiyaṃ tuyhaṃ, kareyyāmi ahaṃ puna.
I forgive you for everything, O princess, listen to me; and I shall never again do anything displeasing to you.
Hỡi công chúa, ta tha thứ tất cả cho nàng, hãy nghe lời ta. Ta sẽ không bao giờ làm điều không hài lòng nàng nữa.
74.
74.
74.
‘‘Tava kāmā hi sussoṇi, pahu † dukkhaṃ titikkhisaṃ †;
Bahuṃ maddakulaṃ hantvā, nayituṃ taṃ pabhāvati’’.
For love of you, O you of beautiful hips, I endured much suffering, rather than slaying many of the Madda clan to lead you away, Pabhāvatī.
Hỡi nàng Pabhāvatī có dáng hình xinh đẹp, chính vì yêu nàng mà ta đã cam chịu nhiều đau khổ, dù ta có thể giết hại nhiều người trong dòng tộc Madda để đưa nàng đi.
75.
75.
75.
‘‘Yojayantu rathe asse, nānācitte samāhite;
Atha dakkhatha me vegaṃ, vidhamantassa † sattavo’’.
Let them yoke to the chariot the horses, variously adorned and steady. Then you shall see my impetus as I scatter the enemies.
Hãy thắng vào xe những con ngựa được trang điểm đa dạng và huấn luyện kỹ càng. Rồi các ngươi, hỡi kẻ thù, sẽ thấy được sức mạnh của ta khi ta đang tiêu diệt (các ngươi).
76.
76.
76.
‘‘Tañca tattha udikkhiṃsu, rañño maddassantepure;
Vijambhamānaṃ sīhaṃva, phoṭentaṃ diguṇaṃ bhujaṃ.
And they looked upon him there, in the inner palace of King Madda, as he stretched like a lion and slapped his two arms.
Tại đó, trong nội cung của vua Madda, họ đã nhìn ngắm vị ấy đang vươn vai như một con sư tử, đang vỗ hai cánh tay.
77.
77.
77.
‘‘Hatthikkhandhañca āruyha, āropetvā pabhāvatiṃ;
Saṅgāmaṃ otaritvāna, sīhanādaṃ nadī kuso.
Mounting the elephant's shoulder, having lifted up Pabhāvatī, descending into battle, Kusa roared a lion's roar.
Vua Kusa đã leo lên lưng voi, cho nàng Pabhāvatī cùng lên, và sau khi tiến vào chiến trường, ngài đã rống lên tiếng rống sư tử.
78.
78.
78.
‘‘Tassa taṃ nadato sutvā, sīhassevitare migā;
Khattiyā vipalāyiṃsu, kusasaddabhayaṭṭitā †.
Just as other beasts flee upon hearing the roar of a lion, so too, hearing his roar, the warrior-kings fled, afflicted by fear of Kusa's sound.
Cũng như các loài thú khác bỏ chạy khi nghe tiếng rống của sư tử, các vị Sát-đế-lỵ, sau khi nghe tiếng rống của vị vua ấy, đã bỏ chạy vì bị áp đảo bởi sự sợ hãi trước tiếng rống của vua Kusa.
79.
79.
79.
‘‘Hatthārohā anīkaṭṭhā, rathikā pattikārakā;
Aññamaññassa chindanti, kusasaddabhayaṭṭitā.
Elephant-riders, cavalry, charioteers, and foot-soldiers cut one another down, afflicted by fear of Kusa's sound.
Những người cỡi voi, kỵ binh, chiến sĩ xa mã, và bộ binh, bị áp đảo bởi sự sợ hãi trước tiếng rống của vua Kusa, đã chém giết lẫn nhau.
80.
80.
80.
‘‘Tasmiṃ saṅgāmasīsasmiṃ, passitvā haṭṭha † mānaso;
Kusassa rañño devindo, adā verocanaṃ maṇiṃ.
At the head of that battle, seeing him, the lord of the gods, with a joyful mind, gave to King Kusa the Verocana jewel.
Tại mặt trận ấy, vua trời Đế-thích, sau khi nhìn thấy, với tâm ý hoan hỷ, đã ban cho vua Kusa viên ngọc tên là Verocana.
81.
81.
81.
‘‘So taṃ vijitvā saṅgāmaṃ, laddhā verocanaṃ maṇiṃ;
Hatthikkhandhagato rājā, pāvekkhi nagaraṃ puraṃ.
Having conquered that battle and obtained the Verocana jewel, the king, mounted on the elephant's back, entered the city.
Vị vua ấy, sau khi chiến thắng trận chiến ấy và nhận được viên ngọc Verocana, ngự trên lưng voi đã tiến vào thành phố.
82.
82.
82.
‘‘Jīvaggāhaṃ † gahetvāna, bandhitvā satta khattiye;
Sasurassupanāmesi, ime te deva sattavo.
Having captured them alive and bound the seven kings, he presented them to his father-in-law, saying: ‘These, O lord, are your enemies.’
Sau khi bắt sống và trói bảy vị Sát-đế-lỵ, ngài đã dẫn đến trình diện nhạc phụ và nói rằng: 'Tâu đức vua, đây là những kẻ thù của ngài.'
83.
83.
83.
‘‘Sabbeva te vasaṃ gatā, amittā vihatā tava;
Kāmaṃ karohi te tayā, muñca vā te hanassu vā’’.
‘All have come under your power; your enemies are defeated. Do with them as you please: either release them or have them slain.’
Tất cả kẻ thù của ngài đã quy phục dưới quyền lực của ngài, chúng đã bị đánh bại. Xin hãy làm theo ý muốn, hoặc là phóng thích họ, hoặc là giết họ đi.
84.
84.
84.
‘‘Tuyheva sattavo ete, na hi te mayha sattavo;
Tvaññeva no mahārāja, muñca vā te hanassu vā’’.
‘These are your enemies, indeed; they are not my enemies. You alone are our sovereign, O great king; release them or have them slain.’
Tâu Đại vương, những vị này là kẻ thù của ngài, chứ không phải là kẻ thù của tôi. Chính ngài là Đại vương của chúng tôi, hoặc là ngài phóng thích họ, hoặc là giết họ đi.
85.
85.
85.
‘‘Imā te dhītaro satta, devakaññūpamā subhā;
Dadāhi nesaṃ ekekaṃ, hontu jāmātaro tava’’.
‘Here are your seven daughters, beautiful like celestial maidens. Give one to each of them; let them become your sons-in-law.’
Bảy vị công chúa này của ngài xinh đẹp như các thiên nữ. Xin hãy gả mỗi người cho một vị (vua trong số họ). Hãy để họ trở thành con rể của ngài.
86.
86.
86.
‘‘Amhākañceva tāsañca, tvaṃ no sabbesamissaro;
Tvaññeva no mahārāja, dehi nesaṃ yadicchasi’’.
‘You are sovereign over all of us—both ourselves and them. You alone are our great king; give to them as you wish.’
Ngài là chúa tể của tất cả chúng tôi, của cả chúng tôi và của các nàng ấy. Chính ngài là Đại vương của chúng tôi. Nếu ngài muốn, xin hãy gả (các công chúa) cho họ.
87.
87.
87.
‘‘Ekamekassa ekekaṃ, adā sīhassaro kuso;
Khattiyānaṃ tadā tesaṃ, rañño maddassa dhītaro.
To each one of those kings, the lion-voiced Kusa then gave one of the daughters of King Madda.
Khi ấy, vua Kusa, người có tiếng rống như sư tử, đã gả mỗi một vị công chúa của vua Madda cho mỗi một vị trong số các Sát-đế-lỵ ấy.
88.
88.
88.
‘‘Pīṇitā tena lābhena, tuṭṭhā sīhassare kuse;
Sakaraṭṭhāni pāyiṃsu, khattiyā satta tāvade.
Pleased by that gain and delighted with the lion-voiced Kusa, the seven kings departed at once for their own kingdoms.
Ngay lúc ấy, bảy vị Sát-đế-lỵ, vui mừng với mối lợi ấy và hài lòng với vua Kusa, người có tiếng rống như sư tử, đã lên đường trở về vương quốc của mình.
89.
89.
89.
‘‘Pabhāvatiñca ādāya, maṇiṃ verocanaṃ subhaṃ †;
Kusāvatiṃ kuso rājā, agamāsi mahabbalo.
Taking Pabhāvatī and the splendid Verocana gem, the mighty King Kusa went to Kusāvatī.
Vua Kusa, người có sức mạnh vĩ đại, đã đưa theo nàng Pabhāvatī và viên ngọc Verocana xinh đẹp, đi đến thành Kusāvatī.
90.
90.
90.
‘‘Tyassu ekarathe yantā, pavisantā kusāvatiṃ;
Samānā vaṇṇarūpena, nāññamaññātirocisuṃ †.
As they travelled in a single chariot, entering Kusāvatī, they were of similar complexion and form; neither outshone the other.
Khi hai vị ấy đi trên cùng một cỗ xe, tiến vào thành Kusāvatī, với dung sắc và hình dáng tương đồng, họ đã không lấn át vẻ đẹp của nhau.
91.
91.
91.
‘‘Mātā puttena saṅgacchi †, ubhayo ca jayampatī;
Samaggā te tadā āsuṃ, phītaṃ dharaṇimāvasu’’nti.
The mother was reunited with her son, and the two, husband and wife, were then united. They lived prosperously upon the earth.
Mẹ đã đoàn tụ với con trai, và cả hai vợ chồng khi ấy đã hòa hợp, họ đã sống trên mảnh đất phồn thịnh.
Kusajātakaṃ paṭhamaṃ.
The Kusa Jātaka, the First.
Chuyện Bổn sanh Kusa, thứ nhất.