Bản dịch
JA 530 — Chuyện hiền giả Samkicca (Tiền thân Samkicca)
2. Saṅkiccajātaka
3575. Sau khi nhìn thấy đức vua Brahmadatta, đấng thủ lãnh xa binh, khi ấy, (người giữ vườn) đã thông báo cho đức vua hay rằng: “Vị mà bệ hạ có lòng thương tưởng,–
3576. –và vị Saṅkicca này đã đến, vị đã được công nhận là tốt đẹp trong số các bậc ẩn sĩ. Xin bệ hạ hãy tức tốc ra đi, hãy mau chóng gặp gỡ vị đại ẩn sĩ.”
3577. Sau đó, đức vua đã vội vã bước lên cỗ xe đã được thắng ngựa. Được các thân hữu và các quan đại thần tháp tùng, đấng thủ lãnh xa binh đã ra đi.
3578. Bậc làm hưng thịnh đất nước Kāsi đã dẹp bỏ năm biểu hiệu (của nhà vua) là: quạt lông đuôi bò, vương miện, cây gươm, lọng che, và đôi hài.
3579. Sau khi bước xuống cỗ xe, đức vua đã để lại áo khoác ngoài, rồi đã đi đến gần vị Saṅkicca đang ngồi ở vườn thượng uyển Dāyapassa.
3580. Sau khi đi đến gần, vị vua ấy đã vui mừng chào hỏi với vị ẩn sĩ; sau khi trao đổi lời chào hỏi với vị ấy, đức vua đã bước đến ở một bên.
3581. Ngay lúc vừa ngồi xuống ở một bên, khi ấy, đức vua đã biết là thời điểm, sau đó đã tiến hành để hỏi về những hành động độc ác.
3582. “Trẫm xin hỏi ẩn sĩ Saṅkicca, vị đã được công nhận là tốt đẹp trong số các bậc ẩn sĩ, vị đang ngồi ở vườn thượng uyển Dāyapassa, phía trước tập thể các bậc ẩn sĩ.
3583. Những người đã vượt qua luân lý sẽ đi đến cảnh giới nào sau khi chết? Luân lý đã bị trẫm vượt qua. Được hỏi, xin ngài hãy giải thích điều ấy cho trẫm.”
3584. Vị ẩn sĩ Saṅkicca đã nói với bậc làm hưng thịnh đất nước Kāsi đang ngồi ở vườn thượng uyển Dāyapassa rằng: “Tâu đại vương, xin hãy lắng nghe bần đạo.
3585. Khi có vị nào chỉ dạy con đường an toàn cho người đang đi theo lối đi sai trái, nếu người này có thể thực hành lời nói của vị ấy, thì chông gai (kẻ bất lương) không thể ngăn trở con đường đi của người này.
3586. Khi có vị nào chỉ dạy thiện pháp cho người đang thực hành phi pháp, nếu người này có thể thực hành lời nói của vị ấy, người ấy không thể nào đi đến khổ cảnh.
3587. Tâu đại vương, thiện pháp là lối đi; hơn nữa, phi pháp là lối đi sai trái. Phi pháp dẫn đến địa ngục, thiện pháp giúp cho đạt được nhàn cảnh.
3588. Tâu bệ hạ, những kẻ thực hành phi pháp là những kẻ có cuộc sống bất chánh. Cảnh giới mà những kẻ ấy đi đến sau khi chết là các địa ngục, xin bệ hạ hãy lắng nghe bần đạo.
3589. Địa ngục Sañjīva, địa ngục Kāḷasutta, địa ngục Saṅghāta, và hai địa ngục Roruva, rồi địa ngục khác nữa là địa ngục Mahāvīci, địa ngục Tapana, và địa ngục Patāpana.
3590. Tám địa ngục này được nói đến như thế, là rất khó thoát ra, đông đúc những người có hành động tàn bạo; mỗi một địa ngục này bằng mười sáu địa ngục Ussada.
3591. Các địa ngục có ngọn lửa ghê gớm thiêu đốt những kẻ bỏn xẻn, có sự sợ hãi lớn lao, có dáng vẻ khiến lông dựng đứng, khủng khiếp, gây ra sự sợ hãi, khổ đau.
3592. Bốn góc có bốn cửa ra vào, được phân chia, được đo đạc thành từng phần, được bao quanh bởi tường thành bằng sắt, được đậy lại bằng vòm sắt.
3593. Mặt đất của các địa ngục làm bằng sắt, được đốt nóng, được tràn ngập bởi sức nóng. Các địa ngục luôn luôn được lan tỏa và duy trì sức nóng ở xung quanh một trăm d0-tuần.
3594. Những kẻ nói lời xúc phạm với các vị ẩn sĩ, với các vị đạo sĩ khổ hạnh đã tự kiềm chế, những kẻ này rơi vào địa ngục với tư thế chân phía trên, đầu phía dưới.
3595. Những con người gây ra tội ác, những kẻ ấy bị nung nấu với sự hành hạ được gia tăng trong vô số năm không đếm được, giống như những con cá bị cắt thành từng khúc rồi nướng chín.
3596. Với thân thể thường xuyên bị đốt cháy bên trong lẫn bên ngoài, có những kẻ tìm kiếm lối thoát ra khỏi địa ngục nhưng không đến được cánh cửa.
3597. Chúng chạy về hướng đông, sau đó chạy về hướng tây, chúng còn chạy về hướng bắc, sau đó chạy về hướng nam.
3598. Bởi vì mỗi một cánh cửa nào mà chúng đi đến, chính cánh cửa ấy bị đóng lại. Những con người có sự đi đến địa ngục trong nhiều ngàn năm giơ các cánh tay lên khóc lóc, sau khi đã chịu sự khổ đau không phải là ít.
3599. Tựa như con rắn có nọc độc, bị nổi giận, có oai lực, khó chế ngự, không nên công kích các vị có bề ngoài tốt đẹp, các vị đạo sĩ khổ hạnh đã tự kiềm chế.
3600. Gã cung thủ vĩ đại có thân hình lực lưỡng Ajjuna, chúa tể xứ Kekaka, có ngàn cánh tay, đã bị tiêu diệt sau khi công kích vị ẩn sĩ Gotama.
3601. Vua Daṇḍakī, sau khi ném vật dơ vào bậc vô nhiễm Vaccha Kisa, vị vua ấy đã đi đến sự hủy diệt, tựa như cây thốt nốt bị chặt đứt tận gốc.
3602. Sau khi có tâm ý xấu xa với vị ẩn sĩ Mātaṅga có danh tiếng, vua xứ Mejjha cùng toàn bộ xứ sở đã bị tiêu diệt. Từ đó, đã có khu rừng Mejjha.
3603. Những người con trai của Andhakaveṇhu sau khi công kích vị ẩn sĩ Kaṇhadīpāyana đã dùng chày giết hại lẫn nhau, rồi đã đi đến lãnh địa của Diêm Vương. 3604. Rồi vị vua Cetiya này, trước kia có sự di chuyển ở không trung, về sau bị nguyền rủa bởi vị ẩn sĩ, đã rơi vào trong trái đất, có bản thân bị tiêu hoại, đã đạt đến đoạn cuối của cuộc sống.
3605. Chính vì thế, các bậc sáng suốt không khen ngợi việc đi theo sự ham muốn. Người có tâm không xấu xa nên nói lời nói liên quan đến sự thật.
3606. Người nào với tâm ý xấu xa, nếu soi mói bậc hiền trí đã được thành tựu sự hiểu biết và đức hạnh, người ấy là kẻ đi đến địa ngục ở bên dưới.
3607. Những người nào có sự ra sức thô lỗ, mắng nhiếc các bậc trưởng thượng, những kẻ ấy trở thành không có con cái, không người thừa tự, tựa như cây thốt nốt bị trốc gốc.
3608. Kẻ nào giết hại bậc xuất gia, bậc đại ẩn sĩ đã hoàn thành phận sự, kẻ ấy bị nung nấu ở địa ngục Kāḷasutta trong thời gian lâu dài.
3609. Và vị vua nào duy trì sự bất công, có sự hủy hoại đất nước, bị tẩy chay, sau khi làm cho xứ sở bị điêu tàn, khi chết đi, bị nung nấu ở địa ngục Tāpana.
3610. Và kẻ ấy bị nung nấu một trăm ngàn năm theo cách tính của cõi Trời. Bị vây quanh bởi những đám lửa, kẻ ấy nhận chịu cảm thọ khổ đau.
3611. Từ thân thể của kẻ ấy, có những ngọn lửa phát ra chói sáng. Các bộ phận cơ thể cùng với các lông và các móng trở thành mồi của ngọn lửa.
3612. Với thân thể thường xuyên bị đốt cháy bên trong lẫn bên ngoài, kẻ bị khổ đau hành hạ gào thét, giống như con voi bị áp đảo bởi các móc câu.
3613. Kẻ nào giết cha vì tham lam, hay vì sân hận, là kẻ đốn mạt, kẻ ấy bị nung nấu ở địa ngục Kāḷasutta trong thời gian lâu dài.
3614. Kẻ như thế ấy bị nung nấu ở vạc đồng. Và họ (những người cai quản địa ngục) đâm kẻ đã bị nấu chín bằng những cây giáo đến khi không còn lớp da ngoài. Họ làm cho con người thuộc hạng như thế ấy bị mù, rồi cho ăn phân và nước tiểu, sau đó nhấn chìm trong nước muối.
3615. Các quỷ sứ đã cầm các lưỡi cày dài đã được đốt nóng nhiều ngày đêm, được nối với những sợi dây thừng, rồi banh miệng (và kéo cái lưỡi ra), sau đó nhét vào cục sắt đã được đốt nóng đến cháy đỏ ở cái miệng đã được mở rộng.
3616. Những con chó màu đen, những con chim kên kên có sức mạnh,
những bầy quạ, và những con chim có mỏ sắt
tụ tập lại ngấu nghiến kẻ đang giãy giụa,
sau khi đã xâu xé cái lưỡi thành những mẫu thịt đẫm máu.
3617. Các quỷ sứ vừa di chuyển theo sau kẻ ấy vừa đánh đập, và kẻ ấy có thân thể bị nát tan, tựa như cây thốt nốt bị thiêu đốt. Chính các quỷ sứ ấy có sự khoái lạc, còn những kẻ khác (chúng sanh ở địa ngục) thì có sự khổ đau. Những kẻ sống ở địa ngục giống như vầy là những kẻ đã giết chết cha ruột ở thế gian này.
3618. Và đứa con, sau khi giết chết người mẹ, thì từ thế gian này đi đến trú xứ của Diêm Vương và nhận lãnh nhiều sự khổ đau, là kẻ bị gánh chịu quả báo về hành động của bản thân.
3619. Các phi nhân có sức mạnh vượt trội hành hạ kẻ giết hại mẫu thân bằng những sợi dây roi làm bằng sắt lượt này đến lượt khác.
3620. Họ bắt kẻ giết mẹ uống máu của bản thân được rỉ ra từ chính cơ thể của mình, tựa như nước đồng đỏ đã được nung nóng tan chảy.
3621. Kẻ ấy đứng, chìm ngập trong hố nước, là vũng lầy của phân, nhờm gớm, có mùi hôi thối của thây chết đã bị hoại rửa, tựa như mủ máu.
3622. Tại nơi ấy, những con giòi có thân hình to lớn, có miệng bằng sắt, xuyên thủng thân xác kẻ ấy ở lớp da ngoài, rồi ngấu nghiến thịt và máu với vẻ thèm khát.
3623. Và kẻ ấy, khi đã đạt đến địa ngục Sataporisa ấy, bị chìm đắm (ngập đầu), và tỏa ra mùi thây chết hôi thối ở xung quanh đến một trăm do-tuần.
3624. Bởi vì, ngay cả kẻ sáng mắt cũng bị hư hoại đôi mắt bởi mùi hôi ấy. Tâu Brahmadatta, kẻ giết chết mẹ ruột nhận lãnh khổ đau như thế ấy.
3625. Sau khi vượt qua địa ngục Khuradhāra (Lưỡi Dao Cạo) sắc bén, khó có thể chịu đựng, các phụ nữ phá thai rơi vào dòng sông Vetaraṇī hiểm trở.
3626. Có những cây bông gòn làm bằng sắt có gai nhọn dài mười sáu ngón tay treo lòng thòng ở hai bên bờ của dòng sông Vetaraṇī hiểm trở.
3627. Các chúng sanh ấy đứng với thân rực lửa tựa như những khối lửa ở xa xa, bị cháy rực với ngọn lửa vươn cao một do-tuần ở bên trên.
3628. Những người này, các phụ nữ ngoại tình và các nam nhân đi đến với vợ người khác, tiến vào địa ngục bị đốt nóng, có gai nhọn sắc bén.
3629. Chúng rơi vào với thân chổng ngược; nhiều người bị quay tròn, bị đánh đập. Chúng nằm dài với các phần thân thể bị đâm thủng và không ngủ được suốt đêm dài.
3630. Sau đó, vào cuối đêm, chúng bị ném vào vạc đồng to lớn tương tự quả núi, có nước và lửa bằng nhau bị đốt nóng.
3631. Như vậy, ngày và đêm, những kẻ có bản chất xấu xa, bị bao phủ bởi si mê, chịu đựng nghiệp của mình đã làm trước đây của bản thân.
3632. Và cô vợ nào được mua về bằng tài sản mà khinh khi người chồng, hoặc mẹ chồng, hoặc cha chồng, hoặc anh chồng, hoặc em gái chồng,–
3633. –những người cai quản địa ngục kéo chót lưỡi của cô ấy ra bằng lưỡi câu, có sự cột lại (rồi lôi đi). Cô ấy nhìn thấy cái lưỡi (bị kéo ra) có kích thước dài một sải tay của mình đầy giòi, và không thể nào than vãn. Sau khi chết đi, cô ấy bị nung nấu ở địa ngục Tāpana.
3634. Những người giết mổ cừu, giết mổ heo, ngư phủ, bẫy thú, trộm cướp, giết mổ bò, những kẻ hung bạo, những kẻ ca ngợi điều xấu xa,–
3635. – (những kẻ ấy) bị đánh đập bằng các cây giáo, bằng những búa đồng, bằng những thanh gươm, và bằng những mũi tên, rồi rơi vào dòng sông nước mặn, có đầu chúc xuống.
3636. Những kẻ sáng chiều làm công việc lường gạt bị đánh bằng những cây búa sắt, sau đó luôn phải thọ dụng vật ói mửa ra của những kẻ tồi tệ khác.
3637. Những con quạ, những con chó rừng, những con chim kên kên, và những con quạ đen có mỏ sắt ngấu nghiến con người gây ra tội ác đang bị giãy giụa.
3638. Những kẻ nào giết hại thú vật bằng thú vật, hoặc là giết hại chim chóc bằng chim chóc (làm mồi nhử), những kẻ ấy không tốt lành, bị che lấp bởi bụi bặm; họ là những kẻ đi đến địa ngục Ussada.
3639. Và người tốt lành đi đến cõi Trời do nghiệp đã được thực hành tốt đẹp ở thế gian này. Bệ hạ hãy nhìn xem quả báo của người đã thực hành tốt đẹp: là chư Thiên, với Thiên Chủ Inda, và các vị Phạm Thiên.
3640. Tâu đại vương, bần đạo nói với bệ hạ về điều ấy. Tâu vị chúa của đất nước, bệ hạ hãy thực hành thiện pháp. Tâu bệ hạ, bệ hạ hãy thực hành thiện pháp như thế này, như thế này, giống như việc đã được thực hành tốt đẹp ấy thì sẽ không hối hận về sau này.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Saṃkiccāyaṃ anuppatto, isīnaṃ sādhusammato;
Taramānarūpo niyyāhi, khippaṃ passa mahesinaṃ.
‘Saṃkicca has arrived, esteemed as virtuous by the sages. Go forth in haste; quickly see the great sage.’
Vị Saṃkicca này đã đến, người được các vị ẩn sĩ công nhận là bậc thiện lành; xin hãy nhanh chóng khởi hành, hãy mau đến gặp bậc đại sĩ.
71.
71.
71.
‘‘Tato ca rājā taramāno, yuttamāruyha sandanaṃ;
Mittāmaccaparibyūḷho †, agamāsi rathesabho.
Then the king, that bull among charioteers, hastening, mounted a yoked chariot and, surrounded by friends and ministers, departed.
Sau đó, đức vua, bậc tối thắng trong các chiến sĩ xa, vội vã lên cỗ xe đã thắng yên, được bạn bè và các quan đại thần vây quanh, rồi ngài đã ra đi.
72.
72.
72.
‘‘Nikkhippa pañca kakudhāni, kāsīnaṃ raṭṭhavaḍḍhano;
Vāḷabījani † muṇhīsaṃ, khaggaṃ chattañcupāhanaṃ;
The increaser of the Kāsi kingdom set aside the five emblems of royalty: the whisk, the turban, the sword, the parasol, and the sandals.
Vị vua làm cho vương quốc Kāsi phồn thịnh, đã đặt xuống năm món vương giả: phất trần, vương miện, gươm báu, lọng trắng và đôi hài;
73.
73.
73.
‘‘Oruyha rājā yānamhā, ṭhapayitvā paṭicchadaṃ;
Āsīnaṃ dāyapassasmiṃ, saṃkiccamupasaṅkami.
The king, descending from his chariot and setting aside his regalia, approached Saṃkicca, who was seated in the Dāyapassa park.
Đức vua xuống xe, cất đi các trang phục, rồi đến gần ngài Saṃkicca đang ngồi trong khu vườn Dāyapassa.
74.
74.
74.
‘‘Upasaṅkamitvā so rājā, sammodi isinā saha;
Taṃ kathaṃ vītisāretvā, ekamantaṃ upāvisi.
Having approached, that king exchanged friendly greetings with the sage; after concluding that conversation, he sat down to one side.
Sau khi đến gần, vị vua ấy đã cùng vị ẩn sĩ trao đổi những lời chào hỏi thân mật; sau khi kết thúc cuộc trò chuyện đó, ngài ngồi xuống một bên.
75.
75.
75.
‘‘Ekamantaṃ nisinnova, atha kālaṃ amaññatha;
Tato pāpāni kammāni, pucchituṃ paṭipajjatha.
Seated to one side, he then perceived it was the proper time. Then he proceeded to ask about evil deeds.
Vừa ngồi xuống một bên, sau đó ngài nhận thấy đã đến lúc; bấy giờ, ngài bắt đầu hỏi về các nghiệp bất thiện.
76.
76.
76.
‘‘Isiṃ pucchāma † saṃkiccaṃ, isīnaṃ sādhusammataṃ;
Āsīnaṃ dāyapassasmiṃ, isisaṅghapurakkhataṃ †.
‘We ask the sage Saṃkicca, esteemed as virtuous by the sages, seated in the Dāyapassa park, honored by the assembly of sages:
Chúng tôi xin hỏi ẩn sĩ Saṃkicca, người được các ẩn sĩ công nhận là bậc thiện lành, đang ngồi trong khu vườn Dāyapassa, được chúng ẩn sĩ kính trọng.
77.
77.
77.
‘‘Kaṃ gatiṃ pecca gacchanti, narā dhammāticārino;
Aticiṇṇo mayā dhammo, taṃ me akkhāhi pucchito.
‘To what destination do people who transgress the Dhamma go after death? I have transgressed the Dhamma; being asked, please tell me this.’
Những người vi phạm Chánh pháp, sau khi chết sẽ đi về cảnh giới nào? Con đã vi phạm Chánh pháp, xin ngài, người được hỏi, hãy giải thích điều đó cho con.
78.
78.
78.
‘‘Isī avaca saṃkicco, kāsīnaṃ raṭṭhavaḍḍhanaṃ;
Āsīnaṃ dāyapassasmiṃ, mahārāja suṇohi me.
The sage Saṃkicca, seated in the Dāyapassa park, said to the increaser of the Kāsi kingdom: ‘Great king, listen to me.’
Ẩn sĩ Saṃkicca nói với vị vua làm cho vương quốc Kāsi phồn thịnh, đang ngồi trong khu vườn Dāyapassa: ‘Tâu đại vương, xin hãy nghe lời của tôi.’
79.
79.
79.
‘‘Uppathena vajantassa, yo maggamanusāsati;
Tassa ce vacanaṃ kayirā, nāssa maggeyya kaṇṭako.
‘If one who is going on a wrong path were to follow the word of one who instructs him on the right path, no thorn would afflict him.’
Đối với người đang đi sai đường, nếu có ai chỉ cho con đường (đúng), và nếu người ấy làm theo lời chỉ dạy đó, thì gai góc sẽ không làm hại người ấy.
80.
80.
80.
‘‘Adhammaṃ paṭipannassa, yo dhammamanusāsati;
Tassa ce vacanaṃ kayirā, na so gaccheyya duggatiṃ.
‘If one who has practiced unrighteousness were to follow the word of one who instructs him in the Dhamma, he would not go to a woeful state.’
Đối với người thực hành phi pháp, vị nào giáo huấn chánh pháp; nếu người ấy làm theo lời dạy của vị đó, thì sẽ không đi đến khổ cảnh.
81.
81.
81.
‘‘Dhammo patho mahārāja, adhammo pana uppatho;
Adhammo nirayaṃ neti, dhammo pāpeti suggatiṃ.
‘Dhamma is the path, great king, while Adhamma is the wrong path. Adhamma leads to hell; Dhamma leads to a good destination.’
Tâu Đại vương, Chánh pháp là con đường, còn phi pháp là tà đạo. Phi pháp dẫn đến địa ngục, Chánh pháp đưa đến thiện thú.
82.
82.
82.
‘‘Adhammacārino rāja, narā visamajīvino;
Yaṃ gatiṃ pecca gacchanti, niraye te suṇohi me.
‘O king, those who practice unrighteousness, people with dishonest livelihoods—hear from me of the hells, the destination they go to after death.’
Tâu Đại vương, những người hành phi pháp, những người sống tà mạng, sau khi chết họ đi đến cảnh giới nào, xin ngài hãy nghe tôi nói về các địa ngục ấy.
83.
83.
83.
‘‘Sañjīvo kāḷasutto ca, saṅghāto † dve ca roruvā;
Athāparo mahāvīci, tāpano † ca patāpano.
‘Sañjīva, Kāḷasutta, Saṅghāta, and the two Roruvas; then another, Mahā-Avīci, Tāpana, and Patāpana.’
Địa ngục Đẳng Hoạt, Hắc Thằng, và Chúng Hợp, hai địa ngục Khiếu Khiếu; rồi đến Đại Vô Gián, Nhiệt và Đại Nhiệt.
84.
84.
84.
‘‘Iccete aṭṭha nirayā, akkhātā duratikkamā;
Ākiṇṇā luddakammehi, paccekā soḷasussadā.
‘These eight hells have thus been declared, hard to transcend, filled with those of cruel deeds, each with sixteen subsidiary hells.’
Như vậy, tám địa ngục này đã được tuyên thuyết, khó vượt qua; đầy dẫy những kẻ hành động tàn ác, và mỗi địa ngục có mười sáu địa ngục phụ.
85.
85.
85.
‘‘Kadariyatāpanā † ghorā, accimanto † mahabbhayā;
Lomahaṃsanarūpā ca, bhesmā paṭibhayā dukhā.
‘Tormenting the miserly, they are dreadful, blazing, greatly frightening, of a hair-raising nature, fearsome, terrifying, and painful.’
Chúng là nơi hành hạ kẻ keo kiệt, ghê rợn, rực lửa, vô cùng đáng sợ; hình dạng của chúng làm dựng tóc gáy, khủng khiếp, gây kinh hãi, và đau đớn.
86.
86.
86.
‘‘Catukkaṇṇā catudvārā, vibhattā bhāgaso mitā;
Ayopākārapariyantā, ayasā paṭikujjitā.
‘Four-cornered and four-gated, divided into measured portions; bounded by iron ramparts, covered over with iron.’
Chúng có bốn góc, bốn cửa, được phân chia thành các phần bằng nhau; được bao quanh bởi tường sắt, và được che đậy bởi một mái bằng sắt.
87.
87.
87.
‘‘Tesaṃ ayomayā bhūmi, jalitā tejasā yutā;
Samantā yojanasataṃ, phuṭā † tiṭṭhanti sabbadā.
‘Their ground is made of iron, blazing and filled with heat; extending a hundred yojanas all around, they stand perpetually ablaze.’
Nền đất của chúng làm bằng sắt, bốc cháy, rực lửa; xung quanh một trăm do tuần, chúng luôn luôn lan tỏa và tồn tại.
88.
88.
88.
‘‘Ete patanti niraye, uddhaṃpādā avaṃsirā;
Isīnaṃ ativattāro, saññatānaṃ tapassinaṃ.
‘Those who transgress against the sages, the restrained ascetics, fall into these hells, feet upwards and head downwards.’
Những kẻ này rơi vào địa ngục, chân hướng lên, đầu chúc xuống; là những kẻ xúc phạm đến các vị ẩn sĩ, những bậc tự chế, những bậc khổ hạnh.
89.
89.
89.
‘‘Te bhūnahuno paccanti, macchā bilakatā yathā;
Saṃvacchare asaṅkheyye, narā kibbisakārino.
‘Those destroyers of beings are cooked like fish cut into pieces; for innumerable years are the evildoers roasted.’
Những kẻ hủy hoại chúng sinh ấy bị nấu chín, giống như cá bị cắt thành từng mảnh; những người làm điều ác phải chịu như vậy trong vô số năm.
90.
90.
90.
‘‘Ḍayhamānena gattena, niccaṃ santarabāhiraṃ;
Nirayā nādhigacchanti, dvāraṃ nikkhamanesino.
‘With bodies constantly burning, inside and out, those seeking an exit from hell do not find a door.’
Với thân thể luôn bị thiêu đốt cả trong lẫn ngoài, những chúng sinh tìm lối thoát khỏi địa ngục đã không tìm thấy được cánh cửa nào.
91.
91.
91.
‘‘Puratthimena dhāvanti, tato dhāvanti pacchato;
Uttarenapi dhāvanti, tato dhāvanti dakkhiṇaṃ;
Yaṃ yañhi dvāraṃ gacchanti, taṃ tadeva pidhīyare †.
‘They run to the east, then they run to the west; they run to the north, then they run to the south. Whichever door they go to, that very one is shut.’
Họ chạy về hướng đông, rồi lại chạy về hướng tây; họ cũng chạy về hướng bắc, rồi lại chạy về hướng nam. Bất cứ cửa nào họ chạy đến, cửa đó liền đóng lại.
92.
92.
92.
‘‘Bahūni vassasahassāni, janā nirayagāmino;
Bāhā paggayha kandanti, patvā dukkhaṃ anappakaṃ.
‘For many thousands of years, the people bound for hell wail with upraised arms, having attained immense suffering.’
Trong nhiều ngàn năm, những chúng sinh đi đến địa ngục, sau khi chịu đựng nỗi khổ không lường, đã giơ tay lên trời mà than khóc.
93.
93.
93.
‘‘Āsīvisaṃva kupitaṃ, tejassiṃ duratikkamaṃ;
Na sādhurūpe āsīde, saññatānaṃ tapassinaṃ.
‘One should not assail restrained ascetics of gentle appearance, who are like an angry viper, fiery and hard to overcome.’
Chớ nên xúc phạm đến những bậc thiện đức, những bậc tự chế, những bậc khổ hạnh, là những người có uy lực và khó vượt qua, cũng như không nên chọc giận một con rắn độc.
94.
94.
94.
‘‘Atikāyo mahissāso, ajjuno kekakādhipo;
Sahassabāhu ucchinno, isimāsajja gotamaṃ.
‘Arjuna, lord of the Kekas, of huge body and a great archer, also known as Sahassabāhu, was destroyed for having assailed the sage Gotama.’
Vua Ajjuna, chúa của xứ Kekaka, thân hình to lớn, một cung thủ vĩ đại, có ngàn cánh tay, đã bị hủy diệt sau khi xúc phạm đến ẩn sĩ Gotama.
95.
95.
95.
‘‘Arajaṃ rajasā vacchaṃ, kisaṃ avakiriya daṇḍakī;
Tālova mūlato † chinno, sa rājā vibhavaṅgato.
‘King Daṇḍakī, having defiled the dustless sage Kisavaccha with dust, was cut down like a palm tree from the root; that king went to ruin.’
Vua Daṇḍakī, với bụi bặm của mình, đã xúc phạm đến vị ẩn sĩ Kisavaccha không còn bụi bặm, và đã bị chặt đứt tận gốc như cây cọ. Vị vua ấy đã đi đến chỗ diệt vong.
96.
96.
96.
‘‘Upahacca manaṃ majjho †, mātaṅgasmiṃ yasassine;
Sapārisajjo ucchinno, majjhāraññaṃ tadā ahu.
‘King Majjha, having offended the glorious sage Mātaṅga, was destroyed along with his retinue, and his kingdom then became the Majjha forest.’
Vua Majjha, sau khi xúc phạm đến vị ẩn sĩ danh tiếng Mātaṅga, đã bị hủy diệt cùng với quần thần. Khi ấy, vương quốc Majjha đã trở thành một khu rừng.
97.
97.
97.
‘‘Kaṇhadīpāyanāsajja, isiṃ andhakaveṇḍayo †;
Aññoññaṃ † musalā † hantvā, sampattā yamasādhanaṃ †.
‘Having assailed the sage Kaṇhadīpāyana, the Andhakaveṇḍas, striking each other with clubs, reached the abode of Yama.’
Những người Andhakaveṇḍa, sau khi xúc phạm đến ẩn sĩ Kaṇhadīpāyana, đã dùng chày giết hại lẫn nhau và đi đến cõi của Diêm vương.
98.
98.
98.
‘‘Athāyaṃ isinā satto, antalikkhacaro pure;
Pāvekkhi pathaviṃ † cecco, hīnatto pattapariyāyaṃ.
‘Then this king of Ceti, formerly a sky-farer, being cursed by a sage, entered the earth, humbled and having come to his end.’
Và rồi, vua xứ Ceti, người trước đây có thể đi lại trên không, bị một vị ẩn sĩ nguyền rủa, đã mất hết năng lực, đi đến chỗ tận cùng, và bị chôn vùi vào lòng đất.
99.
99.
99.
‘‘Tasmā hi chandāgamanaṃ, nappasaṃsanti paṇḍitā;
Aduṭṭhacitto bhāseyya, giraṃ saccūpasaṃhitaṃ.
‘Therefore, the wise do not praise going astray through desire; with an uncorrupted mind, one should speak words connected with truth.’
Vì vậy, bậc hiền trí không tán thán việc đi theo thiên vị. Với tâm không sân hận, người ta nên nói lời chân thật.
100.
100.
100.
‘‘Manasā ce paduṭṭhena, yo naro pekkhate muniṃ;
Vijjācaraṇasampannaṃ, gantā so nirayaṃ adho.
‘If a person with a corrupted mind looks upon a sage accomplished in knowledge and conduct, that person will go to the hell below.’
Nếu người nào với tâm ô nhiễm mà nhìn một bậc mâu-ni, người đã thành tựu minh và hạnh, thì người ấy sẽ đi xuống địa ngục.
101.
101.
101.
‘‘Ye vuḍḍhe † paribhāsanti, pharusūpakkamā janā;
Anapaccā adāyādā, tālavatthu † bhavanti te.
‘Those people of harsh behavior who revile the elders become childless and without heirs, like the stump of a palm tree.’
Những người nào với hành vi thô bạo mà phỉ báng các bậc trưởng thượng, những người ấy sẽ trở thành như gốc cây cọ, không con cái, không người thừa tự.
102.
102.
102.
‘‘Yo ca pabbajitaṃ hanti, katakiccaṃ mahesinaṃ;
Sa kāḷasutte niraye, cirarattāya paccati.
‘And whoever kills a renunciant, a great sage who has done what was to be done, roasts in the Kāḷasutta hell for a long time.’
Và người nào giết hại một vị xuất gia, một bậc đại sĩ đã hoàn thành phận sự, người ấy sẽ bị nấu trong địa ngục Hắc Thằng một thời gian rất dài.
103.
103.
103.
‘‘Yo ca rājā adhammaṭṭho, raṭṭhaviddhaṃsano mago †;
Tāpayitvā janapadaṃ, tāpane pecca paccati.
And a king who is unrighteous, a destroyer of the realm, a fool—having tormented the populace, he is cooked in the Tāpana Hell after death.
Và vị vua nào không theo chánh pháp, là kẻ hủy hoại vương quốc, một kẻ ngu si; sau khi làm thống khổ dân chúng, sau khi chết sẽ bị nấu trong địa ngục Nhiệt.
104.
104.
104.
‘‘So ca vassasahassāni †, sataṃ dibbāni paccati;
Accisaṅghapareto so, dukkhaṃ vedeti vedanaṃ.
For a hundred thousand divine years, he is cooked; surrounded by a mass of flames, he feels painful suffering.
Và người ấy bị nấu trong một trăm ngàn năm của cõi trời. Bị bao vây bởi khối lửa, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn.
105.
105.
105.
‘‘Tassa aggisikhā kāyā, niccharanti pabhassarā;
Tejobhakkhassa gattāni, lomehi ca † nakhehi ca.
Radiant flames shoot forth from his body; from the limbs, hairs, and nails of that fire-consumer they emerge.
Từ thân thể của người ấy, những ngọn lửa rực rỡ phóng ra; từ các chi phần, từ các lỗ chân lông và từ móng tay của kẻ ăn lửa ấy.
106.
106.
106.
‘‘Ḍayhamānena gattena, niccaṃ santarabāhiraṃ;
Dukkhābhitunno nadati, nāgo tuttaṭṭito † yathā.
With his body constantly burning, inside and out, overwhelmed by pain, he cries out like an elephant pierced by a goad.
Với thân thể luôn bị thiêu đốt cả trong lẫn ngoài, bị nỗi khổ áp đảo, người ấy gào thét như một con voi bị đâm bởi cây gậy nhọn.
107.
107.
107.
‘‘Yo lobhā pitaraṃ hanti, dosā vā purisādhamo;
Sa kāḷasutte niraye, cirarattāya paccati.
That vile man who kills his father out of greed or out of hatred is cooked in the Kāḷasutta Hell for a long time.
Kẻ hạ tiện nào vì tham lam hoặc vì sân hận mà giết cha mình, kẻ ấy sẽ bị nấu trong địa ngục Hắc Thằng một thời gian rất dài.
108.
108.
108.
‘‘Sa tādiso paccati lohakumbhiyaṃ, pakkañca sattīhi hananti nittacaṃ;
Andhaṃ karitvā muttakarīsabhakkhaṃ, khāre nimujjanti tathāvidhaṃ naraṃ.
Such a one is cooked in an iron cauldron, and while cooking, they strike the skinless one with spears. Having blinded him and made him eat urine and feces, they plunge such a man into caustic water.
Người như vậy bị nấu trong vạc đồng. Khi đã chín, họ dùng giáo đâm và lột da. Sau khi làm cho mù, họ bắt ăn phân và nước tiểu. Họ nhận chìm người như vậy vào trong nước tro.
109.
109.
109.
‘‘Tattaṃ pakkuthitamayoguḷañca †, dīghe ca phāle cirarattatāpite;
Vikkhambhamādāya vibandha † rajjubhi, vivaṭe mukhe sampavisanti † rakkhasā.
A heated, boiling iron ball, and long stakes heated for a long time—these the demons, having bound him with ropes and propped his mouth open, thrust into his gaping mouth.
Các quỷ sứ lấy một quả cầu sắt nóng bỏng, sôi sùng sục, và những cây cọc dài đã được nung nóng từ lâu; sau khi trói bằng dây thừng và cạy miệng ra, chúng nhét những thứ đó vào miệng đang mở của người ấy.
110.
110.
110.
‘‘Sāmā ca soṇā sabalā ca gijjhā, kākoḷasaṅghā ca dijā ayomukhā;
Saṅgamma khādanti vipphandamānaṃ, jivhaṃ vibhajja vighāsaṃ salohitaṃ.
Dark and spotted dogs, and iron-beaked vultures, flocks of crows, and other birds, gathering together, devour him as he writhes, tearing apart his tongue for their bloody feast.
Lũ chó sắc vàng, chó lang, kền kền, bầy quạ, và các loài chim mỏ sắt; Cùng nhau tụ lại, xé lưỡi kẻ đang quằn quại, ăn tươi nuốt sống, máu me đầm đìa.
111.
111.
111.
‘‘Taṃ daḍḍhatālaṃ paribhinnagattaṃ, nippothayantā anuvicaranti rakkhasā;
Ratī hi nesaṃ dukhino panītare, etādisasmiṃ niraye vasanti;
Ye keci loke idha pettighātino.
Like a burnt palm tree, with a shattered body, the demons roam about, crushing him. For their delight is in the suffering of others; in such a hell dwell all those in this world who are father-killers.
Thân như thốt nốt cháy, hình hài bị xé tan, quỷ sứ đi quanh đánh đập. Đó là niềm vui của chúng, còn kẻ kia đau khổ. Bất cứ ai ở đời này, kẻ giết cha, đều phải sống trong địa ngục như thế.
112.
112.
112.
‘‘Putto ca mātaraṃ hantvā, ito gantvā yamakkhayaṃ;
Bhusamāpajjate dukkhaṃ, attakammaphalūpago.
A son who kills his mother, going from here to Yama’s abode, encounters intense suffering, undergoing the fruit of his own kamma.
Người con giết mẹ, từ đây đi đến cõi Diêm vương, phải chịu đựng nỗi khổ đau cùng cực, gánh chịu quả báo do chính nghiệp mình gây ra.
113.
113.
113.
‘‘Amanussā atibalā, hantāraṃ janayantiyā;
Ayomayehi vāḷehi †, pīḷayanti punappunaṃ.
Very powerful non-humans crush the slayer of his mother again and again with iron scourges.
Các loài phi nhân vô cùng hung bạo, dùng những dây thừng bằng sắt, siết chặt và nghiền nát kẻ giết mẹ, hết lần này đến lần khác.
114.
114.
114.
‘‘Tamassavaṃ † sakā gattā, ruhiraṃ † attasambhavaṃ;
Tambalohavilīnaṃva, tattaṃ pāyenti mattighaṃ †.
The flowing blood from his own limbs, arisen from himself, hot like molten copper—this they make the matricide drink.
Máu tuôn ra từ chính thân thể của kẻ giết mẹ, nóng bỏng như đồng sôi, chúng bắt kẻ ấy phải uống.
115.
115.
115.
‘‘Jigucchaṃ kuṇapaṃ pūtiṃ, duggandhaṃ gūthakaddamaṃ;
Pubbalohitasaṅkāsaṃ, rahadamogayha † tiṭṭhati.
Into a pool—disgusting, corpse-filled, putrid, foul-smelling, a mire of excrement, resembling pus and blood—he plunges and there he stands.
Kẻ ấy phải đứng, ngập mình trong một cái hồ ghê tởm, đầy tử thi thối rữa, hôi hám, là một vũng bùn phân, giống như mủ và máu.
116.
116.
116.
‘‘Tamenaṃ kimayo tattha, atikāyā ayomukhā;
Chaviṃ bhetvāna † khādanti, saṃgiddhā † maṃsalohite.
There, worms with enormous bodies and iron mouths, greedy for flesh and blood, pierce his skin and devour him.
Tại nơi đó, những con giòi có thân hình khổng lồ, mỏ bằng sắt, xuyên qua da thịt, tham lam ăn thịt và máu của kẻ ấy.
117.
117.
117.
‘‘So ca taṃ nirayaṃ patto, nimuggo sataporisaṃ;
Pūtikaṃ kuṇapaṃ vāti, samantā satayojanaṃ.
And having reached that hell, he is submerged to a depth of a hundred men's heights. A putrid, corpse-like stench blows for a hundred yojanas all around.
Kẻ ấy, khi đến địa ngục đó, bị chìm sâu một trăm lần thân người. Mùi hôi thối của tử thi lan tỏa khắp bốn phương, xa đến một trăm do tuần.
118.
118.
118.
‘‘Cakkhumāpi hi cakkhūhi, tena gandhena jīyati;
Etādisaṃ brahmadatta, mātugho labhate dukhaṃ.
Indeed, even one with sight has his eyes overcome by that stench. Such suffering, O Brahmadatta, does a matricide receive.
Này Brahmadatta, ngay cả người có mắt cũng bị tổn hại bởi mùi hôi thối đó. Kẻ giết mẹ phải chịu nỗi khổ đau như vậy.
119.
119.
119.
‘‘Khuradhāramanukkamma, tikkhaṃ durabhisambhavaṃ;
Patanti gabbhapātiyo †, duggaṃ vetaraṇiṃ † nadiṃ.
Those who cause abortions, treading upon a sharp and hard-to-endure razor's edge, fall into the Vetaraṇī river, so difficult to cross.
Những người phụ nữ phá thai, sau khi đi qua lưỡi dao cạo sắc bén, kinh hoàng, liền rơi xuống sông Vetaraṇī khó vượt qua.
120.
120.
120.
‘‘Ayomayā simbaliyo, soḷasaṅgulakaṇṭakā;
Ubhato abhilambanti, duggaṃ vetaraṇiṃ † nadiṃ.
Iron Simbali trees, with thorns sixteen finger-breadths long, hang over both sides of the Vetaraṇī river, so difficult to cross.
Những cây gạo bằng sắt, với gai dài mười sáu ngón tay, treo lơ lửng trên cả hai bờ của sông Vetaraṇī khó vượt qua.
121.
121.
121.
‘‘Te accimanto tiṭṭhanti, aggikkhandhāva ārakā;
Ādittā jātavedena, uddhaṃ yojanamuggatā.
They stand blazing, like masses of fire from afar; ablaze with fire, they rise up a yojana high.
Những cây ấy đứng đó rực lửa, trông như những khối lửa khổng lồ, bốc cháy ngùn ngụt, cao vút lên đến một do tuần.
122.
122.
122.
‘‘Ete vajanti † niraye, tatte tikhiṇakaṇṭake;
Nāriyo ca aticārā †, narā ca paradāragū.
Adulterous women and men who go to another’s wife—these go to that hell of heated, sharp thorns.
Những người phụ nữ ngoại tình và những người đàn ông thông dâm với vợ người khác, họ phải đi vào địa ngục đó, với những cây gai nhọn và nóng bỏng.
123.
123.
123.
‘‘Te patanti adhokkhandhā, vivattā vihatā puthū;
Sayanti vinividdhaṅgā, dīghaṃ jagganti sabbadā †.
They fall head-first, rolling about, destroyed, one by one. They lie with their limbs pierced through; for a long time, they are ever awake.
Họ rơi xuống, đầu chúc xuống dưới, thân thể tan nát, rã rời. Họ nằm đó với thân thể bị xuyên thủng, luôn luôn tỉnh thức trong một thời gian dài.
124.
124.
124.
‘‘Tato ratyā vivasāne †, mahatiṃ pabbatūpamaṃ;
Lohakumbhiṃ pavajjanti, tattaṃ aggisamūdakaṃ.
Then, at the end of the night, they enter a great iron cauldron like a mountain, filled with heated, fiery water.
Sau đó, khi đêm tàn, họ phải đi vào một cái vạc đồng lớn như quả núi, chứa đầy nước nóng bỏng như lửa.
125.
125.
125.
‘‘Evaṃ divā ca ratto ca, dussīlā mohapārutā;
Anubhonti sakaṃ kammaṃ, pubbe dukkaṭamattano.
Thus, day and night, the immoral, shrouded in delusion, experience their own kamma, the evil formerly done by themselves.
Như vậy, cả ngày lẫn đêm, những kẻ vô giới đức, bị vô minh che lấp, phải gánh chịu nghiệp quả của chính mình, do những ác hạnh đã làm trong quá khứ.
126.
126.
126.
‘‘Yā ca bhariyā dhanakkītā, sāmikaṃ atimaññati;
Sassuṃ vā sasuraṃ vāpi, jeṭṭhaṃ vāpi nanandaraṃ †.
And the wife bought with wealth who disrespects her husband, or her mother-in-law, or father-in-law, or her husband's elder brother or sister,
Người vợ được cưới về bằng tiền của, mà lại khinh thường chồng, hoặc mẹ chồng, cha chồng, hoặc anh chị em của chồng.
127.
127.
127.
‘‘Tassā vaṅkena jivhaggaṃ, nibbahanti sabandhanaṃ;
Sa byāmamattaṃ kiminaṃ, jivhaṃ passati attani †;
Viññāpetuṃ na sakkoti, tāpane pecca paccati.
With a hook they pull out the tip of her tongue, bound fast; she sees her own tongue, a fathom long and full of worms. Unable to plead, she is cooked in the Tāpana hell after death.
Chúng dùng móc sắt kéo đầu lưỡi của người nữ ấy ra, sau khi đã trói lại. Nàng thấy lưỡi của mình dài cả một sải tay, đầy giòi bọ. Nàng không thể cầu xin, và sau khi chết, bị nung nấu trong địa ngục Tāpana.
128.
128.
128.
‘‘Orabbhikā sūkarikā, macchikā migabandhakā;
Corā goghātakā luddā, avaṇṇe vaṇṇakārakā.
Butchers of sheep, butchers of pigs, fishermen, hunters, thieves, cattle-slayers, the cruel, and those who praise the unworthy—
Những kẻ giết cừu, giết heo, những người đánh cá, thợ săn, kẻ trộm, kẻ giết bò, những người tàn bạo, và những kẻ ca ngợi người không đáng được ca ngợi.
129.
129.
129.
‘‘Sattīhi lohakūṭehi, nettiṃsehi usūhi ca;
Haññamānā khāranadiṃ, papatanti † avaṃsirā.
Being struck with spears, iron hammers, swords, and arrows, they fall headlong into the Caustic River.
Bị đánh đập bằng giáo mác, búa sắt, gươm đao và cung tên, họ rơi đầu chúi xuống sông nước kiềm.
130.
130.
130.
‘‘Sāyaṃ pāto kūṭakārī, ayokūṭehi haññati;
Tato vantaṃ durattānaṃ, paresaṃ bhuñjare † sadā.
Morning and evening, the forger is struck with iron hammers; then they must always eat the vomit of other evil-natured ones.
Sáng và tối, kẻ gian lận bị đập bằng búa sắt. Sau đó, họ phải luôn luôn ăn chất nôn mửa của những kẻ ác khác.
131.
131.
131.
‘‘Dhaṅkā bheraṇḍakā † gijjhā, kākoḷā ca ayomukhā;
Vipphandamānaṃ khādanti, naraṃ kibbisakārakaṃ †.
Iron-beaked crows, jackals, vultures, and ravens devour the evil-doing man as he writhes.
Diều hâu, chó rừng, kền kền, và quạ mỏ sắt, ăn thịt kẻ làm điều ác đang quằn quại trong đau đớn.
132.
132.
132.
‘‘Ye migena migaṃ hanti, pakkhiṃ vā pana pakkhinā;
Asanto rajasā channā, gantā † te nirayussadaṃ †.
Those who kill a beast with a beast-decoy, or a bird with a bird-decoy—those unvirtuous ones, covered by defilement, will go to the Ussada hells.
Những kẻ dùng thú để bẫy thú, hoặc dùng chim để bẫy chim, những kẻ xấu xa bị bụi trần che lấp, sẽ phải đi đến địa ngục Ussada.
133.
133.
133.
‘‘Santo ca † uddhaṃ gacchanti, suciṇṇenidha kammunā;
Suciṇṇassa phalaṃ passa, saindā † devā sabrahmakā.
But the virtuous go upwards through their well-practiced kamma here. Behold the fruit of good practice: the gods with Indra and the gods with Brahmā.
Còn những người đức hạnh, nhờ những thiện nghiệp đã làm ở đây, được sanh lên cõi trên. Hãy xem quả của thiện hạnh: các vị trời cùng với Đế Thích và Phạm Thiên.
134.
134.
134.
‘‘Taṃ taṃ brūmi mahārāja, dhammaṃ raṭṭhapatī cara;
Tathā † rāja carāhi dhammaṃ, yathā taṃ suciṇṇaṃ nānutappeyya pacchā’’ti.
Therefore I say to you, great king, lord of the realm, practice the Dhamma. O king, practice the Dhamma in such a way that you will not regret that good practice afterwards.
Vì vậy, tâu Đại vương, tôi nói với ngài: hỡi vị quân chủ, hãy thực hành Chánh pháp. Tâu đức vua, hãy thực hành Chánh pháp theo cách mà sau này ngài sẽ không phải hối hận vì đã thực hành tốt đẹp.
Saṃkiccajātakaṃ dutiyaṃ.
The Saṃkicca Jātaka is concluded.
Bổn sanh Saṃkicca, câu chuyện thứ hai.
The Nipāta of Sixty is concluded.
Phẩm Sáu Mươi Kệ đã kết thúc.
Tassuddānaṃ –
The summary of that:
Phần tóm tắt của phẩm này –
Atha saṭṭhinipātamhi, suṇātha mama bhāsitaṃ;
Jātakasavhayano pavaro, soṇakaarindamasavhayano;
Tathā vuttarathesabhakiccavaroti.
Now in the Section of Sixty, listen to what is spoken by me: the excellent Jātaka named Soṇaka-Arindama, and likewise the excellent Saṃkicca.
Bây giờ, trong Phẩm Sáu Mươi Kệ, hãy lắng nghe lời ta nói. Có hai câu chuyện Bổn sanh cao quý: chuyện tên là Soṇaka-Arindama, và chuyện cao quý tên là Saṃkicca, bậc tối thắng như đã nói.