Bản dịch
JA 529 — Chuyện Hiền giả Sonaka (Tiền thân Sonaka)
1 Soṇakajātaka
3508. “Người nào nói cho trẫm về vị Soṇaka, người bạn đã cùng trẫm đùa nghịch đất cát, trẫm sẽ ban một trăm cho người nào đã nghe, một ngàn để trẫm nhìn thấy vị Soṇaka?”
3509. Khi ấy, một đứa bé trai dòng Bà-la-môn có năm búi tóc đã nói rằng: “Xin bệ hạ hãy cho một trăm sau khi lắng nghe lời nói của con, rồi một ngàn để nhìn thấy vị Soṇaka. Con sẽ nói về vị Soṇaka, người bạn đã cùng bệ hạ đùa nghịch đất cát.”
3510. “Vị Soṇaka ấy đã được con nhìn thấy ở đâu, ở xứ sở nào, ở các quốc độ nào và các thị trấn nào? Được hỏi, con hãy giải thích điều ấy cho trẫm.”
3511. “Tâu bệ hạ, ở lãnh địa của chính bệ hạ, ở khu đất thuộc vườn thượng uyển của chính bệ hạ, có những cây sālā to lớn, giống cây có thân thẳng, có tán màu xanh lục, làm thích ý. Chúng đứng thẳng, nương tựa với nhau, đáng yêu, tương tự đám mây.
3512. Vị Soṇaka tham thiền ở gốc của những cây ấy, không còn chấp thủ, đã được tịch tịnh, trong khi các chúng sanh có sự chấp thủ đang bị thiêu đốt.”
3513. Và sau đó, đức vua đã xuất phát cùng với bốn binh chủng. Sau khi đã cho làm bằng phẳng con đường, đức vua đã đi đến nơi vị Soṇaka trú ngụ.
3514. Sau khi đi đến khu đất thuộc vườn thượng uyển, trong lúc đang đi loanh quanh ở khu vườn rộng lớn, đức vua đã nhìn thấy vị Soṇaka đang ngồi, đã được tịnh tịnh, ở giữa những người đang bị thiêu đốt.
3515. “Vị tỳ khưu này quả thật khốn khổ, đầu cạo trọc, được trùm lại với tấm y khoác ngoài, không có mẹ, không có cha, đang tham thiền ở gốc cây.”
3516. Sau khi nghe được lời nói ấy, vị Soṇaka đã nói điều này: “Tâu bệ hạ, người đạt được thiện pháp bằng thân thì không khốn khổ.
3517. Ở đây, người nào lơ là thiện pháp và hành theo bất thiện pháp, tâu bệ hạ, người ấy bị khốn khổ, là kẻ ác, có sự nương tựa vào việc ác.”
3518. “Tên của trẫm là: ‘Arindama (bậc thuần hóa kẻ thù).’ Mọi người biết trẫm là: ‘Vua của xứ Kāsi.’ Thưa vị Soṇaka, có lẽ sự nghỉ ngơi của ngài được thoải mái khi đến ở đây?”
3519. “Vị tỳ khưu không có tài sản, không có nhà cửa, luôn luôn có điều tốt đẹp là: Các vị ấy không cất giữ ở nhà kho, trong lu chậu, trong túi xách. Các vị có sự hành trì tốt đẹp nuôi thân bằng vật xin được ở nhà của những người khác.
3520. Điều tốt đẹp thứ nhì của vị tỳ khưu không có tài sản, không có nhà cửa là: Thọ dụng miếng ăn không tội lỗi và không bị bất cứ ai quấy rầy.
3521. Điều tốt đẹp thứ ba của vị tỳ khưu không có tài sản, không có nhà cửa là: Thọ dụng miếng ăn đã được quán xét và không bị bất cứ ai quấy rầy.
3522. Điều tốt đẹp thứ tư của vị tỳ khưu không có tài sản, không có nhà cửa là: Đối với vị đã được giải thoát đang du hành ở quốc độ, sự quyến luyến của vị ấy không hiện diện.
3523. Điều tốt đẹp thứ năm của vị tỳ khưu không có tài sản, không có nhà cửa là: Khi thành phố đang bị đốt cháy, không có một vật nào thuộc về vị ấy bị đốt cháy.
3524. Điều tốt đẹp thứ sáu của vị tỳ khưu không có tài sản, không có nhà cửa là: Khi quốc độ đang bị cướp bóc, không có một vật nào thuộc về vị ấy bị cướp bóc.
3525. Điều tốt đẹp thứ bảy của vị tỳ khưu không có tài sản, không có nhà cửa là: Ở con đường được bảo hộ bởi bọn trộm cướp và ở những nơi có các bọn đạo tặc khác, vị có sự hành trì tốt đẹp mang theo bình bát và y ra đi một cách bình yên.
3526. Điều tốt đẹp thứ tám của vị tỳ khưu không có tài sản, không có nhà cửa là: Khi khởi hành đi đến bất cứ phương trời nào, vị ấy ra đi không có trông mong.
3527. “Thưa vị tỳ khưu, ngài ca ngợi nhiều điều tốt đẹp của các vị Sa-môn. Còn trẫm thì thèm khát các dục, thưa vị Soṇaka, trẫm sẽ làm thế nào?
3528. Các dục thuộc về nhân gian được trẫm yêu thích, và (các dục) thuộc về Thiên giới cũng được trẫm yêu thích; vậy thì bằng cách nào chúng tôi đạt được cả hai thế giới ấy?”
3529. “Những người thèm khát các dục, thích thú các dục, bị mê mẫn ở các dục, làm các việc ác rồi sanh vào khổ cảnh.
3530. Và những người đã dứt bỏ, đã đi ra ngoài các dục, không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu, đã đạt đến trạng thái chuyên nhất (của tâm), những người ấy không đi đến khổ cảnh.
3531. Tâu đấng thuần hóa kẻ thù, bần đạo sẽ làm ví dụ cho bệ hạ. Xin bệ hạ lắng nghe chuyện ấy. Cũng nhờ vào ví dụ, một số người sáng suốt hiểu được ý nghĩa.
3532. Sau khi nhìn thấy thây (con voi) chết ở sông Gaṅgā đang trôi nổi ở vũng nước lớn, con quạ thiểu trí, vô tư, đã nghĩ rằng:
3533. ‘Vật đã đạt được này quả thật là phương tiện di chuyển, vật này còn là thức ăn không phải ít. Ban đêm ở nơi ấy, ban ngày ở nơi ấy, tâm (của ta) ưa thích ở chính nơi ấy.’
3534. Trong khi ăn các miếng thịt của con voi, trong khi uống nước của sông Bhāgīrathī, trong khi nhìn xem các bảo tháp ở khu rừng, con chim đã không bỏ đi.
3535. Và bị say đắm, thích thú ở thây chết, với sự trôi xuôi theo dòng sông Gaṅgā, con quạ ấy đã đi sâu vào biển khơi, nơi không phải là chỗ đến của loài chim.
3536. Và khi thức ăn đã hết hẳn, con chim ấy đã bay lên, về hướng tây không được, về hướng đông không được, hướng bắc không được, và hướng nam cũng không được (vì bốn bề đều là biển cả).
3537. Nó đã không đạt đến được hòn đảo. Và nó đã ngã xuống ngay tại nơi ấy, nơi không phải là chỗ đến của loài chim, giống như một kẻ yếu ớt.
3538. Và các loài cá ở biển, cá sấu, cá đao, cá dữ, với những hành động tàn bạo, đã ăn thịt con chim đang run rẩy, không còn sức để vỗ cánh bay lên.
3539. Tâu bệ hạ, tương tự y như vậy, bệ hạ và những người khác có sự thọ hưởng các dục, rồi bị tham đắm, nếu những người ấy không ói ra, thì họ có sự hiểu biết tựa như trí tuệ của con quạ.
3540. Tâu bệ hạ, ví dụ này đã được tạo ra cho bệ hạ, có sự chỉ rõ ý nghĩa, và bệ hạ sẽ được hiểu rõ điều ấy, và tùy thuộc bệ hạ sẽ làm hay không làm.”
3541. Vị có lòng thương tưởng có thể thuyết một lời, hai lời, và không thể nói nhiều hơn thế, tựa như người tớ trai bên cạnh ông chủ.
3542. Sau khi nói điều này, sau khi đã chỉ dạy vị Sát-đế-lỵ, vị Soṇaka có trí giác ngộ vô lượng đã ra đi bằng đường không trung, trên bầu trời.
3543. “Các quan viên làm lễ phong vương, các xa phu, các vị đã đạt đến tài năng đâu rồi? Trẫm sẽ bàn giao vương quyền. Trẫm không còn ham muốn với vương quyền.
3544. Nội trong ngày hôm nay, trẫm sẽ xuất gia. Ai có thể biết được cái chết vào ngày mai. Chớ để trẫm trở thành kẻ thiểu trí, tựa như con quạ đã đi theo sự tác động của các dục.”
3545. “Bệ hạ có người con trai trẻ tuổi Dīghāvu, là bậc làm hưng thịnh đất nước. Bệ hạ hãy tấn phong vị ấy vào vương vị; vị ấy sẽ trở thành đức vua của chúng thần.”
3546. “Hãy mau triệu vời hoàng tử Dīghāvu, bậc làm hưng thịnh đất nước. Trẫm sẽ tấn phong vị ấy vào vương vị; vị ấy sẽ trở thành đức vua của các khanh.”
3547. Kế đó, họ đã triệu vời hoàng tử Dīghāvu, bậc làm hưng thịnh đất nước. Sau khi nhìn thấy vị ấy, đức vua đã nói về điều làm cho thích ý với người con trai độc nhất:
3548. “Có sáu mươi ngàn ngôi làng hoàn toàn đầy đủ về mọi mặt. Này con trai, con hãy tiếp nhận chúng. Trẫm bàn giao vương quyền cho con.
3549. Nội trong ngày hôm nay, trẫm sẽ xuất gia. Ai có thể biết được cái chết vào ngày mai. Chớ để trẫm trở thành kẻ thiểu trí, tựa như con quạ đã đi theo sự tác động của các dục.
3550. Có sáu mươi ngàn con voi đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, có dây đai bằng vàng, là những con voi có trang phục là yên cương bằng vàng.
3551. Chúng được cỡi lên bởi các viên quản tượng có cây thương móc câu ở bàn tay. Này con trai, con hãy tiếp nhận chúng. Trẫm bàn giao vương quyền cho con.
3552. Nội trong ngày hôm nay, trẫm sẽ xuất gia. Ai có thể biết được cái chết vào ngày mai. Chớ để trẫm trở thành kẻ thiểu trí, tựa như con quạ đã đi theo sự tác động của các dục.
3553. Có sáu mươi ngàn con ngựa đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, là thuần chủng về dòng dõi, là giống ngựa Sindhu, có sức chuyển vận mau lẹ.
3554. Chúng được cỡi lên bởi các viên mã phu có mang gươm và cung. Này con trai, con hãy tiếp nhận chúng. Trẫm bàn giao vương quyền cho con.
3555. Nội trong ngày hôm nay, trẫm sẽ xuất gia. Ai có thể biết được cái chết vào ngày mai. Chớ để trẫm trở thành kẻ thiểu trí, tựa như con quạ đã đi theo sự tác động của các dục.
3556. Có sáu mươi ngàn cỗ xe, đã được trang bị, có lá cờ đã được giương lên, có các tấm thảm da báo, da cọp, đã được tô điểm với mọi thứ trang sức.
3557. Chúng được cỡi lên bởi các viên xa phu mặc áo giáp, có cây cung ở tay. Này con trai, con hãy tiếp nhận chúng. Trẫm bàn giao vương quyền cho con.
3558. Nội trong ngày hôm nay, trẫm sẽ xuất gia. Ai có thể biết được cái chết vào ngày mai. Chớ để trẫm trở thành kẻ thiểu trí, tựa như con quạ đã đi theo sự tác động của các dục.
3559. Có sáu mươi ngàn bò cái màu hung đỏ, với các con bò đực đầu đàn. Này con trai, con hãy tiếp nhận chúng. Trẫm bàn giao vương quyền cho con.
3560. Nội trong ngày hôm nay, trẫm sẽ xuất gia. Ai có thể biết được cái chết vào ngày mai. Chớ để trẫm trở thành kẻ thiểu trí, tựa như con quạ đã đi theo sự tác động của các dục.
3561. Có sáu mươi ngàn nữ nhân đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, có vải vóc và đồ trang sức đủ màu sắc rực rỡ, có các bông tai bằng ngọc trai và ngọc ma-ni. Này con trai, con hãy tiếp nhận các nàng ấy. Trẫm bàn giao vương quyền cho con.
3562. Nội trong ngày hôm nay, trẫm sẽ xuất gia. Ai có thể biết được cái chết vào ngày mai. Chớ để trẫm trở thành kẻ thiểu trí, tựa như con quạ đã đi theo sự tác động của các dục.”
3563. “Ngay từ khi con còn nhỏ, thưa cha, mẹ của con đã chết, con đã được nghe như thế. Thưa cha, không có cha, con không thể sống được.
3564. Giống như con voi con đi theo phía sau con voi lớn sống ở rừng, trong lúc dạo chơi ở những khe núi hiểm trở, ở những nơi bằng phẳng và lồi lõm.
3565. Tương tự như vậy, con sẽ cầm bình bát đi theo cha ở phía sau. Con sẽ là dễ nuôi đối với cha, con sẽ là không khó nuôi đối với cha.”
3566. “Giống như chiếc tàu biển của những người thương buôn đang tầm cầu tài sản có thể gặp xoáy nước ở biển khơi, người thương buôn có thể có sự rủi ro; tương tự y như vậy, này đứa con bất hạnh, đây là việc gây chướng ngại cho trẫm.
3567. Các khanh hãy tấn phong cho hoàng tử này tại lâu đài có sự hưng thịnh về lạc thú. Tại nơi ấy, các nữ nhân có cánh tay bằng vàng. Tại nơi ấy, các nàng ấy sẽ làm cho hoàng tử thích thú, và hoàng tử sẽ thích thú với các nàng ấy, giống như các nàng tiên nữ làm cho Thiên Chủ Sakka thích thú vậy.”
3568. Kế đó, họ đã tấn phong cho vị hoàng tử tại lâu đài có sự hưng thịnh về lạc thú. Sau khi nhìn thấy hoàng tử, các cô gái đã nói với hoàng tử Dīghāvu, bậc làm hưng thịnh đất nước rằng:
3569. “Phải chăng ngài là vị Thiên nhân, là vị Càn-thát-bà, hay là Thiên Chủ Sakka, vị đã bố thí trước đây? Chàng là ai, chàng là con của người nào? Làm thế nào bọn thiếp có thể biết về chàng?”
3570. “Ta không phải là Thiên nhân, không phải là Càn-thát-bà, cũng không phải là Thiên Chủ Sakka, vị đã bố thí trước đây. Ta là con trai của đức vua xứ Kāsi, là Dīghāvu, bậc làm hưng thịnh đất nước. Các nàng hãy chấp nhận ta; điều tốt lành sẽ đến với các nàng. Ta là chồng của các nàng.”
3571. Tại nơi ấy, các cô gái đã nói với vị Dīghāvu ấy, bậc làm hưng thịnh đất nước, rằng: “Hoàng thượng đã đến được nơi nào? Từ nơi này hoàng thượng đã đi đến nơi nào?”
3572. “Hoàng thượng đã vượt qua vũng lầy (ngũ dục). Hoàng thượng đã đứng vững ở đất bằng (xuất gia), đã thực hành đạo lộ lớn (đạo lộ giải thoát) không có gai nhọn (ô nhiễm), không có sự nắm giữ (các ô nhiễm).
3573. Còn ta đang thực hành đạo lộ đưa đến cảnh giới khổ đau, có gai nhọn, có sự nắm giữ, do đạo lộ đó chúng sanh đi đến cảnh giới khổ đau.”
3574. “Tâu bệ hạ, chào mừng bệ hạ đã ngự đến, tựa như việc đi đến hang núi của con sư tử. Tâu đại vương, xin đại vương hãy chỉ dạy. Đại vương là chúa tể của tất cả chúng thần.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Tassa sutvā sataṃ dammi, sahassaṃ diṭṭha † soṇakaṃ;
Ko me soṇakamakkhāti, sahāyaṃ paṃsukīḷitaṃ’’.
"To one who has heard of him and tells me, I will give a hundred; a thousand to one who has seen Soṇaka and tells me. Who will tell me of Soṇaka, my companion in dust-play?"
Ta sẽ cho một trăm cho ai nghe tin về người ấy, một ngàn cho ai thấy được Soṇaka. Ai sẽ cho ta biết về Soṇaka, người bạn chơi thuở còn tắm bụi?
2.
2.
2.
‘‘Athabravī māṇavako, daharo pañcacūḷako;
Mayhaṃ sutvā sataṃ dehi, sahassaṃ diṭṭha † soṇakaṃ;
Ahaṃ te soṇakakkhissaṃ †, sahāyaṃ paṃsukīḷitaṃ’’.
"Then a young man, a youth with five topknots, spoke: 'Give me a hundred for news of him, and a thousand for my having seen Soṇaka. I will tell you of Soṇaka, your companion in dust-play.'"
Bấy giờ, một thanh niên trẻ tuổi tên Pañcacūḷaka nói: ‘Hãy cho tôi một trăm khi nghe tin, một ngàn khi thấy được Soṇaka; tôi sẽ cho ngài biết về Soṇaka, người bạn chơi thuở còn tắm bụi’.
3.
3.
3.
‘‘Katamasmiṃ † so janapade, raṭṭhesu nigamesu ca;
Kattha soṇakamaddakkhi †, taṃ me akkhāhi pucchito’’.
"In which province, in which kingdoms or towns, where did you see Soṇaka? Being asked, tell me this."
Người ấy ở thôn quê nào, ở quốc độ hay thị trấn nào? Ngươi đã thấy Soṇaka ở đâu? Khi được hỏi, hãy cho ta biết điều đó.
4.
4.
4.
‘‘Taveva deva vijite, tavevuyyānabhūmiyā;
Ujuvaṃsā mahāsālā, nīlobhāsā manoramā.
"In your own dominion, Your Majesty, in your very own parkland, are delightful, great sal trees with straight trunks and a dark-blue luster.
Tâu Đại vương, ngay trong lãnh thổ của ngài, trong khu vườn của ngài, có những cây sala lớn, thân thẳng, màu xanh sẫm, đẹp đẽ.
5.
5.
5.
‘‘Tiṭṭhanti meghasamānā, rammā aññoññanissitā;
Tesaṃ mūlamhi † soṇako, jhāyatī anupādano †;
Upādānesu lokesu, ḍayhamānesu nibbuto.
"They stand like clouds, lovely, intertwined with one another. At their roots Soṇaka meditates, without clinging, extinguished amidst the burning worlds of attachment."
Chúng đứng đó, giống như những đám mây, đáng ưa thích, nương tựa vào nhau. Dưới gốc cây ấy, Soṇaka đang thiền định, không còn chấp thủ; giữa thế gian đầy chấp thủ đang bị thiêu đốt, vị ấy đã được tịch tịnh.
6.
6.
6.
‘‘Tato ca rājā pāyāsi, senāya caturaṅgiyā;
Kārāpetvā samaṃ maggaṃ, agamā yena soṇako.
Then the king, having had the road made level, set out with his fourfold army and went to where Soṇaka was.
Sau đó, nhà vua, sau khi cho san bằng con đường, đã khởi hành cùng với bốn binh chủng, đi đến nơi có Soṇaka.
7.
7.
7.
‘‘Uyyānabhūmiṃ gantvāna, vicaranto brahāvane;
Āsīnaṃ soṇakaṃ dakkhi, ḍayhamānesu nibbutaṃ’’.
Having gone to the parkland and wandering in the great forest, he saw Soṇaka seated, extinguished amidst those who are burning.
Sau khi đến khu vườn, đi dạo trong khu rừng lớn, nhà vua đã thấy Soṇaka đang ngồi, vị đã tịch tịnh giữa những chúng sanh đang bị thiêu đốt.
8.
8.
8.
‘‘Kapaṇo vatayaṃ bhikkhu, muṇḍo saṅghāṭipāruto;
Amātiko apitiko, rukkhamūlasmi jhāyati’’.
"Alas, this monk is pitiable! Shaven-headed, clad in an outer robe, without mother or father, he meditates at the foot of a tree."
Vị Tỳ-khưu này thật đáng thương thay, đầu trọc, khoác y tăng-già-lê; không mẹ, không cha, đang thiền định dưới gốc cây.
9.
9.
9.
‘‘Imaṃ vākyaṃ nisāmetvā, soṇako etadabravi;
‘Na rāja kapaṇo hoti, dhammaṃ kāyena phassayaṃ †.
Having heard this speech, Soṇaka said this: 'One is not pitiable, O king, who realizes the Dhamma with his own body.'
Nghe những lời này, Soṇaka đã nói điều này: ‘Tâu Đại vương, người không đáng thương, khi đang thân chứng Chánh pháp.
10.
10.
10.
‘Yo ca † dhammaṃ niraṃkatvā †, adhammamanuvattati;
Sa rāja kapaṇo hoti, pāpo pāpaparāyano’’’.
"'But he who, having rejected the Dhamma, follows what is not the Dhamma, that one, O king, is pitiable—evil, and bound for an evil destination.'"
Còn người nào từ bỏ Chánh pháp, và đi theo phi pháp, vị vua ấy mới là người đáng thương, là người xấu ác, có ác thú là cảnh giới kế tiếp.’
11.
11.
11.
‘‘‘Arindamoti me nāmaṃ, kāsirājāti maṃ vidū;
Kacci bhoto sukhasseyyā †, idha pattassa soṇaka’’’.
"'My name is Arindama, and I am known as the king of Kāsi. Having arrived here, venerable sir, did you sleep well, Soṇaka?'"
‘Tên của ta là Arindama, người ta biết ta là vua xứ Kāsī. Này Soṇaka, ngài đến đây, có được an nghỉ thoải mái chăng?’
12.
12.
12.
‘‘Sadāpi bhadramadhanassa, anāgārassa bhikkhuno;
Na tesaṃ koṭṭhe openti, na kumbhiṃ na khaḷopiyaṃ †;
Paraniṭṭhitamesānā, tena yāpenti subbatā.
"It is always well for the possessionless, homeless monk. They do not store things in a granary, nor in a pot, nor in a basket. The virtuous, seeking what has been prepared by others, subsist on that.
Vị Tỳ-khưu không tài sản, không nhà cửa, luôn được an lành. Họ không cất chứa (vật thực) trong kho, trong vựa, hay trong giỏ. Những bậc khéo tu trì tìm kiếm vật thực do người khác chuẩn bị, và sống nhờ vào đó.
13.
13.
13.
‘‘Dutiyampi bhadramadhanassa, anāgārassa bhikkhuno;
Anavajjapiṇḍo † bhottabbo, na ca kocūparodhati.
"A second time, it is well for the possessionless, homeless monk. He is to eat blameless alms-food, and no defilement obstructs him.
Lần thứ hai, vị Tỳ-khưu không tài sản, không nhà cửa, được an lành. Vật thực khất thực không có lỗi lầm nên được thọ dụng, và không có gì làm phiền nhiễu.
14.
14.
14.
‘‘Tatiyampi bhadramadhanassa, anāgārassa bhikkhuno;
Nibbuto piṇḍo bhottabbo, na ca kocūparodhati.
"A third time, it is well for the possessionless, homeless monk. He is to eat cooled alms-food, and no defilement obstructs him.
Lần thứ ba, vị Tỳ-khưu không tài sản, không nhà cửa, được an lành. Vật thực khất thực được thọ dụng một cách nguội lạnh, và không có gì làm phiền nhiễu.
15.
15.
15.
‘‘Catutthampi † bhadramadhanassa, anāgārassa bhikkhuno;
Muttassa raṭṭhe carato, saṅgo yassa na vijjati.
"A fourth time, it is well for the possessionless, homeless monk: for him who wanders in the land, liberated, for whom no attachment is found.
Lần thứ tư, vị Tỳ-khưu không tài sản, không nhà cửa, được an lành. Vị ấy đã được giải thoát, đi lại trong quốc độ, không có sự dính mắc nào.
16.
16.
16.
‘‘Pañcamampi † bhadramadhanassa, anāgārassa bhikkhuno;
Nagaramhi ḍayhamānamhi, nāssa kiñci aḍayhatha.
"A fifth time, it is well for the possessionless, homeless monk. When a city is burning, nothing of his is burned.
Lần thứ năm, vị Tỳ-khưu không tài sản, không nhà cửa, được an lành. Khi thành phố bị cháy, không có gì của vị ấy bị cháy.
17.
17.
17.
‘‘Chaṭṭhampi † bhadramadhanassa, anāgārassa bhikkhuno;
Raṭṭhe vilumpamānamhi †, nāssa kiñci ahīratha †.
"A sixth time, it is well for the possessionless, homeless monk. When the country is being plundered, nothing of his is stolen.
Lần thứ sáu, vị Tỳ-khưu không tài sản, không nhà cửa, được an lành. Khi quốc độ bị cướp phá, không có gì của vị ấy bị lấy đi.
18.
18.
18.
‘‘Sattamampi † bhadramadhanassa, anāgārassa bhikkhuno;
Corehi rakkhitaṃ maggaṃ, ye caññe paripanthikā;
Pattacīvaramādāya, sotthiṃ gacchati subbato.
"A seventh time, it is well for the possessionless, homeless monk. On a road beset by thieves and other highwaymen, the virtuous one, taking his bowl and robe, travels in safety.
Lần thứ bảy, vị Tỳ-khưu không tài sản, không nhà cửa, được an lành. Trên con đường có trộm cướp và những kẻ cướp đường khác, bậc khéo tu trì, chỉ mang theo y bát, vẫn đi lại được an toàn.
19.
19.
19.
‘‘Aṭṭhamampi † bhadramadhanassa, anāgārassa bhikkhuno;
Yaṃ yaṃ disaṃ pakkamati, anapekkhova gacchati’’.
"An eighth time, it is well for the possessionless, homeless monk. To whatever direction he proceeds, he goes without longing."
Lần thứ tám, vị Tỳ-khưu không tài sản, không nhà cửa, được an lành. Vị ấy đi đến phương nào, vị ấy đi mà không có sự luyến tiếc.
20.
20.
20.
‘‘Bahūpi bhadrā † etesaṃ, yo tvaṃ bhikkhu pasaṃsasi;
Ahañca giddho kāmesu, kathaṃ kāhāmi soṇaka.
"Many indeed are these blessings that you praise, O monk. But I am greedy for sensual pleasures—how can I do this, Soṇaka?"
Này Tỳ-khưu, ngài tán thán nhiều điều tốt lành của họ, nhưng ta lại tham đắm trong các dục lạc. Này Soṇaka, làm sao ta có thể làm được như vậy?
21.
21.
21.
‘‘Piyā me mānusā kāmā, atho dibyāpi me piyā;
Atha kena nu vaṇṇena, ubho loke labhāmase’’.
"Dear to me are human sensual pleasures, and divine ones are also dear. By what means, then, might we obtain both worlds?"
Ta yêu thích các dục lạc của loài người, và ta cũng yêu thích các dục lạc của chư thiên. Vậy thì, bằng cách nào chúng ta có thể đạt được cả hai thế giới?
22.
22.
22.
‘‘Kāme giddhā † kāmaratā, kāmesu adhimucchitā;
Narā pāpāni katvāna, upapajjanti duggatiṃ.
"Those who are greedy for sensual pleasures, who delight in them and are infatuated by them—such people, having done evil deeds, are reborn in a bad destination.
“Những người tham đắm trong các dục, vui thích trong các dục, say mê trong các dục; sau khi làm các điều ác, họ sanh vào cõi dữ.”
23.
23.
23.
‘‘Ye ca kāme pahantvāna †, nikkhantā akutobhayā;
Ekodibhāvādhigatā, na te gacchanti duggatiṃ.
"But those who, having abandoned sensual pleasures, have gone forth fearless, having attained mental unification, do not go to a bad destination.
“Và những ai, sau khi từ bỏ các dục, đã xuất gia, không còn sợ hãi từ bất cứ đâu; đã đạt đến trạng thái đơn độc, các vị ấy không đi đến cõi dữ.”
24.
24.
24.
‘‘Upamaṃ te karissāmi, taṃ suṇohi arindama;
Upamāya midhekacce †, atthaṃ jānanti paṇḍitā.
"I shall make a comparison for you; listen to it, O Arindama. For here, by means of a comparison, some wise people understand the meaning."
“Ta sẽ đưa ra một ví dụ cho ngài, hỡi Arindama, xin hãy lắng nghe điều ấy. Ở đây, một số bậc trí hiểu được ý nghĩa nhờ vào ví dụ.”
25.
25.
25.
‘‘Gaṅgāya kuṇapaṃ disvā, vuyhamānaṃ mahaṇṇave;
Vāyaso samacintesi, appapañño acetaso.
Seeing a corpse in the Ganges, carried along in the great flood, a crow of little wisdom, a witless creature, thought to itself:
“Sau khi thấy một tử thi đang trôi dạt trên sông lớn Hằng Hà, con quạ ít trí tuệ, không có tâm suy xét, đã suy nghĩ.”
26.
26.
26.
‘‘‘Yānañca vatidaṃ laddhaṃ, bhakkho cāyaṃ anappako’;
Tattha rattiṃ tattha divā, tattheva nirato mano.
‘What a vehicle I have found, and this food is abundant!’ There by night and there by day, on that alone his mind was intent.
“‘Ồ, ta đã có được cỗ xe này, và thức ăn này thật không ít ỏi.’ Ở đó, ban đêm; ở đó, ban ngày; tâm nó chỉ vui thích ở chính nơi đó.”
27.
27.
27.
‘‘Khādaṃ nāgassa maṃsāni, pivaṃ bhāgīrathodakaṃ †;
Sampassaṃ vanacetyāni, na palettha † vihaṅgamo.
Eating the elephant's flesh, drinking the water of the Ganges, and seeing the forest shrines, the bird did not fly away.
“Vừa ăn thịt voi, vừa uống nước sông Hằng, dù nhìn thấy các đền tháp trong rừng, con chim đã không bay đi.”
28.
28.
28.
‘‘Tañca † otaraṇī gaṅgā, pamattaṃ kuṇape rataṃ;
Samuddaṃ ajjhagāhāsi †, agatī yattha pakkhinaṃ.
But the descending Ganges swept him away, heedless and delighting in the corpse, and carried him to the ocean, where there is no resort for birds.
“Và dòng sông Hằng chảy xuôi đã mang nó, kẻ phóng dật, vui thích nơi tử thi, đến đại dương, nơi không có chỗ đến cho loài chim.”
29.
29.
29.
‘‘So ca bhakkhaparikkhīṇo, udapatvā † vihaṅgamo.
Na pacchato na purato, nuttaraṃ nopi dakkhiṇaṃ.
And when his food was exhausted, the bird flew up. Not backwards, not forwards, not north, and not south did he find a place to rest.
“Và nó, khi thức ăn đã hết, con chim bay lên, không (thấy bờ) ở phía sau, không ở phía trước, không ở phía bắc, cũng không ở phía nam.”
30.
30.
30.
‘‘Dīpaṃ so najjhagāgañchi †, agatī yattha pakkhinaṃ;
So ca tattheva pāpattha, yathā dubbalako tathā.
He did not find an island, having gone where there is no resort for birds. And there he fell, just as a weak one does.
“Nó đã không tìm thấy hòn đảo nào, nó đã đến nơi không có chỗ đến cho loài chim. Và nó đã rơi xuống chính nơi đó, giống như một kẻ yếu đuối vậy.”
31.
31.
31.
‘‘Tañca sāmuddikā macchā, kumbhīlā makarā susū;
Pasayhakārā khādiṃsu, phandamānaṃ vipakkhakaṃ †.
The ocean’s fish, crocodiles, makaras, and porpoises, using force, devoured him as he struggled with broken wings.
“Những loài cá biển, cá sấu, ma-kết, và cá sấu nhỏ đã hung bạo ăn thịt nó, đang run rẩy, gãy cánh.”
32.
32.
32.
‘‘Evameva tuvaṃ rāja, ye caññe kāmabhogino;
Giddhā ce na vamissanti, kākapaññāva † te vidū.
Just so, O king, you and other enjoyers of sensual pleasures, if, being greedy, you do not renounce them, the wise know you to be of crow-like wisdom.
“Cũng như vậy, tâu Đại vương, và những người khác hưởng thụ các dục, nếu tham đắm mà không từ bỏ, bậc trí biết họ có trí tuệ như con quạ.”
33.
33.
33.
‘‘Esā te upamā rāja, atthasandassanī katā;
Tvañca paññāyase tena, yadi kāhasi vā na vā.
This simile, O king, has been made for you to show the meaning. By this you will be known, whether you act upon it or not.
“Tâu Đại vương, ví dụ này để chỉ rõ ý nghĩa đã được đưa ra cho ngài. Và ngài được biết đến qua điều đó, dù ngài sẽ làm theo hay không.”
34.
34.
34.
‘‘Ekavācampi dvivācaṃ, bhaṇeyya anukampako;
Tatuttariṃ na bhāseyya, dāsovayyassa † santike’’.
A compassionate one should speak a word or two; beyond that, he should not speak, like a servant in the presence of his master.
“Người có lòng bi mẫn nên nói một lời hay hai lời, không nên nói nhiều hơn thế; (nếu không) sẽ giống như người tôi tớ trước mặt chủ nhân.”
35.
35.
35.
‘‘Idaṃ vatvāna pakkāmi, soṇako amitabuddhimā †;
Vehāse antalikkhasmiṃ, anusāsitvāna khattiyaṃ’’.
Having said this, Soṇaka of limitless wisdom departed, flying through the air in the sky after having instructed the king.
“Sau khi nói điều này, ngài Soṇaka, bậc có trí tuệ vô lượng, sau khi giáo huấn vị vua Sát-đế-lỵ, đã bay đi vào hư không, lên không trung.”
36.
36.
36.
‘‘Ko nume rājakattāro, suddā veyyattamāgatā †;
Rajjaṃ niyyādayissāmi, nāhaṃ rajjena matthiko.
Where now are my ministers, pure and proficient? I shall hand over the kingdom; I have no need of kingship.
“Đâu là những người thợ cạo, những người đầu bếp, những người hầu cận của ta? Ta sẽ từ bỏ vương quốc, ta không còn cần đến vương quốc nữa.”
37.
37.
37.
‘‘Ajjeva pabbajissāmi, ko jaññā maraṇaṃ suve;
Māhaṃ kākova dummedho, kāmānaṃ vasamanvagaṃ’’ †.
This very day I will go forth; who knows of death tomorrow? May I not, like a foolish crow, come under the sway of sensual pleasures.
“Ngay hôm nay ta sẽ xuất gia, ai biết được cái chết (đến) vào ngày mai? Mong rằng ta, kẻ ngu si, không đi theo quyền lực của các dục như con quạ.”
38.
38.
38.
‘‘Atthi te daharo putto, dīghāvu raṭṭhavaḍḍhano;
Taṃ rajje abhisiñcassu, so no rājā bhavissati’’.
You have a young son, Dīghāvu, the increaser of the kingdom. Anoint him in the kingdom—he shall be our king.
“Ngài có một người con trai trẻ, tên là Dīghāvu, người làm cho quốc độ phồn thịnh. Xin hãy làm lễ quán đảnh cho vị ấy lên ngôi vua, vị ấy sẽ là vua của chúng tôi.”
39.
39.
39.
‘‘Khippaṃ kumāramānetha, dīghāvuṃ raṭṭhavaḍḍhanaṃ;
Taṃ rajje abhisiñcissaṃ, so vo rājā bhavissati’’.
Quickly bring the prince, Dīghāvu, the increaser of the kingdom. I will anoint him in the kingdom—he shall be your king.
“Hãy mau đưa hoàng tử Dīghāvu, người làm cho quốc độ phồn thịnh, đến đây. Ta sẽ làm lễ quán đảnh cho vị ấy lên ngôi vua, vị ấy sẽ là vua của các ngươi.”
40.
40.
40.
‘‘Tato kumāramānesuṃ, dīghāvuṃ raṭṭhavaḍḍhanaṃ;
Taṃ disvā ālapī rājā, ekaputtaṃ manoramaṃ.
Then they brought Prince Dīghāvu, the increaser of the kingdom. Seeing his delightful only son, the king addressed him:
“Sau đó, họ đã đưa hoàng tử Dīghāvu, người làm cho quốc độ phồn thịnh, đến. Nhà vua, sau khi thấy người con trai duy nhất, khả ái của mình, đã nói.”
41.
41.
41.
‘‘Saṭṭhi gāmasahassāni, paripuṇṇāni sabbaso;
Te putta paṭipajjassu, rajjaṃ niyyādayāmi te.
Sixty thousand villages, completely prosperous in every way. Take charge of them, my son; I hand over the kingdom to you.
“Này con, sáu mươi ngàn ngôi làng, hoàn toàn sung túc về mọi mặt, con hãy cai quản chúng. Ta trao lại vương quốc cho con.”
42.
42.
42.
‘‘Ajjeva pabbajissāmi, ko jaññā maraṇaṃ suve;
Māhaṃ kākova dummedho, kāmānaṃ vasamanvagaṃ †.
This very day I will go forth; who knows of death tomorrow? May I not, like a foolish crow, come under the sway of sensual pleasures.
“Ngay hôm nay ta sẽ xuất gia, ai biết được cái chết (đến) vào ngày mai? Mong rằng ta, kẻ ngu si, không đi theo quyền lực của các dục như con quạ.”
43.
43.
43.
‘‘Saṭṭhi nāgasahassāni, sabbālaṅkārabhūsitā;
Suvaṇṇakacchā mātaṅgā, hemakappanavāsasā.
Sixty thousand elephants, adorned with all ornaments, majestic beasts with golden girths and golden trappings.
“Sáu mươi ngàn con voi, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức, những con voi chiến có đai yên bằng vàng, với yên cương và trang phục bằng vàng.”
44.
44.
44.
‘‘Ārūḷhā gāmaṇīyehi, tomaraṅkusapāṇibhi;
Te putta paṭipajjassu, rajjaṃ niyyādayāmi te.
Mounted by mahouts with spears and goads in hand—take charge of them, my son; I hand over the kingdom to you.
“Được cưỡi bởi những người quản tượng tay cầm lao và móc sắt; này con, con hãy cai quản chúng. Ta trao lại vương quốc cho con.”
45.
45.
45.
‘‘Ajjeva pabbajissāmi, ko jaññā maraṇaṃ suve;
Māhaṃ kākova dummedho, kāmānaṃ vasamanvagaṃ.
This very day I will go forth; who knows of death tomorrow? May I not, like a foolish crow, come under the sway of sensual pleasures.
“Ngay hôm nay ta sẽ xuất gia, ai biết được cái chết (đến) vào ngày mai? Mong rằng ta, kẻ ngu si, không đi theo quyền lực của các dục như con quạ.”
46.
46.
46.
‘‘Saṭṭhi assasahassāni, sabbālaṅkārabhūsitā;
Ājānīyāva jātiyā, sindhavā sīghavāhino.
Sixty thousand horses, adorned with all ornaments, thoroughbreds by birth, swift steeds from Sindh.
“Sáu mươi ngàn con ngựa, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức, thuộc giống thuần chủng Ājānīya, ngựa xứ Sindh, chạy nhanh.”
47.
47.
47.
‘‘Ārūḷhā gāmaṇīyehi, illiyācāpadhāribhi †;
Te putta paṭipajjassu, rajjaṃ niyyādayāmi te.
Mounted by riders bearing swords and bows—take charge of them, my son; I hand over the kingdom to you.
“Được cưỡi bởi những người nài ngựa tay cầm kiếm và cung; này con, con hãy cai quản chúng. Ta trao lại vương quốc cho con.”
48.
48.
48.
‘‘Ajjeva pabbajissāmi, ko jaññā maraṇaṃ suve;
Māhaṃ kākova dummedho, kāmānaṃ vasamanvagaṃ.
This very day I will go forth; who knows of death tomorrow? May I not, like a foolish crow, come under the sway of sensual pleasures.
“Ngay hôm nay ta sẽ xuất gia, ai biết được cái chết (đến) vào ngày mai? Mong rằng ta, kẻ ngu si, không đi theo quyền lực của các dục như con quạ.”
49.
49.
49.
‘‘Saṭṭhi rathasahassāni, sannaddhā ussitaddhajā;
Dīpā athopi veyyagghā, sabbālaṅkārabhūsitā.
Sixty thousand chariots, fully equipped, with banners raised high, covered with panther and tiger skins, and adorned with all ornaments.
“Sáu mươi ngàn cỗ xe, được trang bị, với cờ xí dựng lên, được bọc bằng da báo và cả da cọp, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức.”
50.
50.
50.
‘‘Ārūḷhā gāmaṇīyehi, cāpahatthehi vammibhi;
Te putta paṭipajjassu, rajjaṃ niyyādayāmi te.
Manned by warriors in armor with bows in hand—take charge of them, my son; I hand over the kingdom to you.
“Được điều khiển bởi những người đánh xe tay cầm cung, mặc áo giáp; này con, con hãy cai quản chúng. Ta trao lại vương quốc cho con.”
51.
51.
51.
‘‘Ajjeva pabbajissāmi, ko jaññā maraṇaṃ suve;
Māhaṃ kākova dummedho, kāmānaṃ vasamanvagaṃ.
This very day I will go forth; who knows of death tomorrow? May I not, like a foolish crow, come under the sway of sensual pleasures.
“Ngay hôm nay ta sẽ xuất gia, ai biết được cái chết (đến) vào ngày mai? Mong rằng ta, kẻ ngu si, không đi theo quyền lực của các dục như con quạ.”
52.
52.
52.
‘‘Saṭṭhi dhenusahassāni, rohaññā puṅgavūsabhā;
Tā putta paṭipajjassu, rajjaṃ niyyādayāmi te.
Sixty thousand tawny milch-cows, with excellent bulls among them—take charge of them, my son; I hand over the kingdom to you.
Này con, có sáu mươi ngàn bò sữa, màu hung đỏ, cùng với bò đực đầu đàn; con hãy nhận lấy chúng, ta trao vương quốc lại cho con.
53.
53.
53.
‘‘Ajjeva pabbajissāmi, ko jaññā maraṇaṃ suve;
Māhaṃ kākova dummedho, kāmānaṃ vasamanvagaṃ.
This very day I will go forth; who knows of death tomorrow? May I not, like a foolish crow, come under the sway of sensual pleasures.
Ta sẽ xuất gia ngay hôm nay, ai biết được cái chết vào ngày mai; mong rằng ta, kẻ kém trí, sẽ không đi theo quyền lực của các dục vọng, giống như con quạ.
54.
54.
54.
‘‘Soḷasitthisahassāni, sabbālaṅkārabhūsitā;
Vicitravatthābharaṇā, āmuttamaṇikuṇḍalā;
Tā putta paṭipajjassu, rajjaṃ niyyādayāmi te.
Sixteen thousand women, adorned with all ornaments, with varied clothes and adornments, wearing jeweled earrings—take charge of them, my son; I hand over the kingdom to you.
Mười sáu ngàn cung nữ, được trang điểm với đủ loại trang sức, y phục và đồ trang hoàng lộng lẫy, đeo hoa tai bằng ngọc châu; này con, con hãy nhận lấy họ, ta trao vương quốc lại cho con.
55.
55.
55.
‘‘Ajjeva pabbajissāmi, ko jaññā maraṇaṃ suve;
Māhaṃ kākova dummedho, kāmānaṃ vasamanvagaṃ’’.
This very day I will go forth; who knows of death tomorrow? May I not, like a foolish crow, come under the sway of sensual pleasures.
Ta sẽ xuất gia ngay hôm nay, ai biết được cái chết vào ngày mai; mong rằng ta, kẻ kém trí, sẽ không đi theo quyền lực của các dục vọng, giống như con quạ.
56.
56.
56.
‘‘Daharasseva me tāta, mātā matāti me sutaṃ;
Tayā vinā ahaṃ tāta, jīvitumpi na ussahe.
Father, I have heard that my mother died when I was just a child. Without you, father, I am not able even to live.
Tâu phụ vương, con nghe rằng mẹ đã qua đời khi con còn nhỏ; tâu phụ vương, không có người, con cũng không thể sống nổi.
57.
57.
57.
‘‘Yathā āraññakaṃ nāgaṃ, poto anveti pacchato;
Jessantaṃ giriduggesu, samesu visamesu ca.
Just as a young elephant follows a forest elephant from behind, as it goes through difficult mountain terrain, on both level and uneven ground.
Ví như voi con đi theo sau voi chúa trong rừng, khi voi chúa đi qua những nơi hiểm trở trên núi, cả nơi bằng phẳng lẫn gồ ghề.
58.
58.
58.
‘‘Evaṃ taṃ anugacchāmi, puttamādāya † pacchato;
Subharo te bhavissāmi, na te hessāmi dubbharo’’.
Thus, taking your son, please go; I shall follow you from behind. I will be easy for you to support; I will not be difficult for you to support.
Cũng vậy, con sẽ đi theo sau người, xin hãy mang con theo. Con sẽ dễ nuôi dưỡng đối với người, con sẽ không là gánh nặng cho người.
59.
59.
59.
‘‘Yathā sāmuddikaṃ nāvaṃ, vāṇijānaṃ dhanesinaṃ;
Vohāro tattha gaṇheyya, vāṇijā byasanī † siyā.
Just as with an ocean-going ship of wealth-seeking merchants, should disaster befall it at sea, the merchants would meet with misfortune.
Ví như chiếc thuyền đi biển của các thương nhân tìm kiếm của cải, nếu tai họa ập đến ở đó, các thương nhân sẽ gặp khốn đốn.
60.
60.
60.
‘‘Evamevāyaṃ puttakali †, antarāyakaro mama †;
Imaṃ kumāraṃ pāpetha, pāsādaṃ rativaḍḍhanaṃ.
Just so, this troublesome son is an obstacle-maker for me. Take this prince to the pleasure-increasing palace.
Cũng vậy, đứa con bất hạnh này là chướng ngại cho ta; hãy đưa hoàng tử này đến cung điện Rativaḍḍhana (Nơi làm tăng trưởng hỷ lạc).
61.
61.
61.
‘‘Tattha kambusahatthāyo, yathā sakkaṃva accharā;
Tā naṃ tattha ramessanti †, tāhi ceso † ramissati.
There, maidens with hands as smooth as conch shells, like celestial nymphs attending to Sakka, will cause him to delight, and he will delight with them.
Ở đó, những cung nữ tay đeo vòng vàng, giống như các tiên nữ Apsara với vua Sakka, họ sẽ làm cho chàng vui thích ở đó, và chàng cũng sẽ vui thích với họ.
62.
62.
62.
‘‘Tato kumāraṃ pāpesuṃ, pāsādaṃ rativaḍḍhanaṃ;
Taṃ disvā avacuṃ kaññā, dīghāvuṃ raṭṭhavaḍḍhanaṃ.
Then they led the prince to the pleasure-increasing palace. Seeing him, the maidens spoke to Dīghāvu, the increaser of the kingdom.
Sau đó, họ đưa hoàng tử đến cung điện Rativaḍḍhana; thấy chàng, các thiếu nữ hỏi Dīghāvu, người làm cho vương quốc phồn thịnh.
63.
63.
63.
‘‘Devatā nusi gandhabbo, adu † sakko purindado;
Ko vā tvaṃ kassa vā putto, kathaṃ jānemu taṃ mayaṃ’’.
‘Are you a deva, or a gandhabba, or perhaps Sakka, the Giver to Foremost Men? Who are you, or whose son? How may we know you?’
Chàng có phải là một vị trời, hay một Càn-thát-bà, hay là Sakka, người ban tặng trước tiên? Chàng là ai, là con của ai, làm sao chúng tôi có thể biết được chàng?
64.
64.
64.
‘‘Namhi devo na gandhabbo, nāpi † sakko purindado;
Kāsirañño ahaṃ putto, dīghāvu raṭṭhavaḍḍhano;
Mamaṃ † bharatha bhaddaṃ vo †, ahaṃ bhattā bhavāmi vo’’.
‘I am not a deva, nor a gandhabba, nor am I Sakka, the Giver to Foremost Men. I am Dīghāvu, son of the king of Kāsi, the increaser of the kingdom. Support me, and may it be well with you; I shall be your husband.’
Ta không phải là trời, không phải Càn-thát-bà, cũng không phải Sakka, người ban tặng trước tiên; ta là con của vua xứ Kāsi, tên là Dīghāvu, người làm cho vương quốc phồn thịnh. Các nàng hãy chăm sóc ta, chúc các nàng được an lành, ta sẽ là chồng của các nàng.
65.
65.
65.
‘‘Taṃ tattha avacuṃ kaññā, dīghāvuṃ raṭṭhavaḍḍhanaṃ;
‘Kuhiṃ rājā anuppatto, ito rājā kuhiṃ gato’’’.
There the maidens said to Dīghāvu, the kingdom’s prosperer: ‘Where has the king arrived? Where has the king gone from here?’
Ở đó, các thiếu nữ hỏi Dīghāvu, người làm cho vương quốc phồn thịnh: ‘Đức vua đã đến nơi đâu, từ đây đức vua đã đi về đâu?’
66.
66.
66.
‘‘Paṅkaṃ rājā atikkanto, thale rājā patiṭṭhito;
Akaṇṭakaṃ agahanaṃ, paṭipanno mahāpathaṃ.
‘The king has crossed the mire; the king stands on dry land. He has entered the great path, free of thorns and thickets.’
Đức vua đã vượt qua vũng lầy, đức vua đã đứng vững trên đất liền; ngài đã đi vào con đường lớn, không gai góc, không rậm rạp.
67.
67.
67.
‘‘Ahañca paṭipannosmi, maggaṃ duggatigāminaṃ;
Sakaṇṭakaṃ sagahanaṃ, yena gacchanti duggatiṃ’’.
‘And I have set out on the path leading to a woeful state, thorny and dense, by which those headed for a woeful state travel.’
Còn ta, ta đã đi vào con đường dẫn đến khổ cảnh, con đường có gai góc, có rừng rậm, con đường mà người ta đi đến khổ cảnh.
68.
68.
68.
‘‘Tassa te svāgataṃ rāja, sīhasseva giribbajaṃ;
Anusāsa mahārāja, tvaṃ no sabbāsamissaro’’ti.
‘Welcome to you, O king, like a lion to its mountain cave. Instruct us, great king; you are the master of us all.’
Tâu đức vua, sự quang lâm của ngài thật là tốt lành, ví như sư tử đến hang núi của mình; xin hãy chỉ dạy, tâu đại vương, ngài là chủ của tất cả chúng con.
Soṇakajātakaṃ paṭhamaṃ.
The Soṇaka Jātaka, the First.
Bổn sanh Soṇaka, thứ nhất.