Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
JA 529

Bản dịch

JA 529Chuyện Hiền giả Sonaka (Tiền thân Sonaka)

1 Soṇakajātaka

3508. “Người nào nói cho trẫm về vị Soṇaka, người bạn đã cùng trẫm đùa nghịch đất cát, trẫm sẽ ban một trăm cho người nào đã nghe, một ngàn để trẫm nhìn thấy vị Soṇaka?”

3509. Khi ấy, một đứa bé trai dòng Bà-la-môn có năm búi tóc đã nói rằng: “Xin bệ hạ hãy cho một trăm sau khi lắng nghe lời nói của con, rồi một ngàn để nhìn thấy vị Soṇaka. Con sẽ nói về vị Soṇaka, người bạn đã cùng bệ hạ đùa nghịch đất cát.”

3510. “Vị Soṇaka ấy đã được con nhìn thấy ở đâu, ở xứ sở nào, ở các quốc độ nào và các thị trấn nào? Được hỏi, con hãy giải thích điều ấy cho trẫm.”

3511. “Tâu bệ hạ, ở lãnh địa của chính bệ hạ, ở khu đất thuộc vườn thượng uyển của chính bệ hạ, có những cây sālā to lớn, giống cây có thân thẳng, có tán màu xanh lục, làm thích ý. Chúng đứng thẳng, nương tựa với nhau, đáng yêu, tương tự đám mây.

3512. Vị Soṇaka tham thiền ở gốc của những cây ấy, không còn chấp thủ, đã được tịch tịnh, trong khi các chúng sanh có sự chấp thủ đang bị thiêu đốt.”

3513. Và sau đó, đức vua đã xuất phát cùng với bốn binh chủng. Sau khi đã cho làm bằng phẳng con đường, đức vua đã đi đến nơi vị Soṇaka trú ngụ.

3514. Sau khi đi đến khu đất thuộc vườn thượng uyển, trong lúc đang đi loanh quanh ở khu vườn rộng lớn, đức vua đã nhìn thấy vị Soṇaka đang ngồi, đã được tịnh tịnh, ở giữa những người đang bị thiêu đốt.

3515. “Vị tỳ khưu này quả thật khốn khổ, đầu cạo trọc, được trùm lại với tấm y khoác ngoài, không có mẹ, không có cha, đang tham thiền ở gốc cây.”

3516. Sau khi nghe được lời nói ấy, vị Soṇaka đã nói điều này: “Tâu bệ hạ, người đạt được thiện pháp bằng thân thì không khốn khổ.

3517. Ở đây, người nào lơ là thiện pháp và hành theo bất thiện pháp, tâu bệ hạ, người ấy bị khốn khổ, là kẻ ác, có sự nương tựa vào việc ác.”

3518. “Tên của trẫm là: ‘Arindama (bậc thuần hóa kẻ thù).’ Mọi người biết trẫm là: ‘Vua của xứ Kāsi.’ Thưa vị Soṇaka, có lẽ sự nghỉ ngơi của ngài được thoải mái khi đến ở đây?”

3519. “Vị tỳ khưu không có tài sản, không có nhà cửa, luôn luôn có điều tốt đẹp là: Các vị ấy không cất giữ ở nhà kho, trong lu chậu, trong túi xách. Các vị có sự hành trì tốt đẹp nuôi thân bằng vật xin được ở nhà của những người khác.

3520. Điều tốt đẹp thứ nhì của vị tỳ khưu không có tài sản, không có nhà cửa là: Thọ dụng miếng ăn không tội lỗi và không bị bất cứ ai quấy rầy.

3521. Điều tốt đẹp thứ ba của vị tỳ khưu không có tài sản, không có nhà cửa là: Thọ dụng miếng ăn đã được quán xét và không bị bất cứ ai quấy rầy.

3522. Điều tốt đẹp thứ tư của vị tỳ khưu không có tài sản, không có nhà cửa là: Đối với vị đã được giải thoát đang du hành ở quốc độ, sự quyến luyến của vị ấy không hiện diện.

3523. Điều tốt đẹp thứ năm của vị tỳ khưu không có tài sản, không có nhà cửa là: Khi thành phố đang bị đốt cháy, không có một vật nào thuộc về vị ấy bị đốt cháy.

3524. Điều tốt đẹp thứ sáu của vị tỳ khưu không có tài sản, không có nhà cửa là: Khi quốc độ đang bị cướp bóc, không có một vật nào thuộc về vị ấy bị cướp bóc.

3525. Điều tốt đẹp thứ bảy của vị tỳ khưu không có tài sản, không có nhà cửa là: Ở con đường được bảo hộ bởi bọn trộm cướp và ở những nơi có các bọn đạo tặc khác, vị có sự hành trì tốt đẹp mang theo bình bát và y ra đi một cách bình yên.

3526. Điều tốt đẹp thứ tám của vị tỳ khưu không có tài sản, không có nhà cửa là: Khi khởi hành đi đến bất cứ phương trời nào, vị ấy ra đi không có trông mong.

3527. “Thưa vị tỳ khưu, ngài ca ngợi nhiều điều tốt đẹp của các vị Sa-môn. Còn trẫm thì thèm khát các dục, thưa vị Soṇaka, trẫm sẽ làm thế nào?

3528. Các dục thuộc về nhân gian được trẫm yêu thích, và (các dục) thuộc về Thiên giới cũng được trẫm yêu thích; vậy thì bằng cách nào chúng tôi đạt được cả hai thế giới ấy?”

3529. “Những người thèm khát các dục, thích thú các dục, bị mê mẫn ở các dục, làm các việc ác rồi sanh vào khổ cảnh.

3530. Và những người đã dứt bỏ, đã đi ra ngoài các dục, không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu, đã đạt đến trạng thái chuyên nhất (của tâm), những người ấy không đi đến khổ cảnh.

3531. Tâu đấng thuần hóa kẻ thù, bần đạo sẽ làm ví dụ cho bệ hạ. Xin bệ hạ lắng nghe chuyện ấy. Cũng nhờ vào ví dụ, một số người sáng suốt hiểu được ý nghĩa.

3532. Sau khi nhìn thấy thây (con voi) chết ở sông Gaṅgā đang trôi nổi ở vũng nước lớn, con quạ thiểu trí, vô tư, đã nghĩ rằng:

3533. ‘Vật đã đạt được này quả thật là phương tiện di chuyển, vật này còn là thức ăn không phải ít. Ban đêm ở nơi ấy, ban ngày ở nơi ấy, tâm (của ta) ưa thích ở chính nơi ấy.’

3534. Trong khi ăn các miếng thịt của con voi, trong khi uống nước của sông Bhāgīrathī, trong khi nhìn xem các bảo tháp ở khu rừng, con chim đã không bỏ đi.

3535. Và bị say đắm, thích thú ở thây chết, với sự trôi xuôi theo dòng sông Gaṅgā, con quạ ấy đã đi sâu vào biển khơi, nơi không phải là chỗ đến của loài chim.

3536. Và khi thức ăn đã hết hẳn, con chim ấy đã bay lên, về hướng tây không được, về hướng đông không được, hướng bắc không được, và hướng nam cũng không được (vì bốn bề đều là biển cả).

3537. Nó đã không đạt đến được hòn đảo. Và nó đã ngã xuống ngay tại nơi ấy, nơi không phải là chỗ đến của loài chim, giống như một kẻ yếu ớt.

3538. Và các loài cá ở biển, cá sấu, cá đao, cá dữ, với những hành động tàn bạo, đã ăn thịt con chim đang run rẩy, không còn sức để vỗ cánh bay lên.

3539. Tâu bệ hạ, tương tự y như vậy, bệ hạ và những người khác có sự thọ hưởng các dục, rồi bị tham đắm, nếu những người ấy không ói ra, thì họ có sự hiểu biết tựa như trí tuệ của con quạ.

3540. Tâu bệ hạ, ví dụ này đã được tạo ra cho bệ hạ, có sự chỉ rõ ý nghĩa, và bệ hạ sẽ được hiểu rõ điều ấy, và tùy thuộc bệ hạ sẽ làm hay không làm.”

3541. Vị có lòng thương tưởng có thể thuyết một lời, hai lời, và không thể nói nhiều hơn thế, tựa như người tớ trai bên cạnh ông chủ.

3542. Sau khi nói điều này, sau khi đã chỉ dạy vị Sát-đế-lỵ, vị Soṇaka có trí giác ngộ vô lượng đã ra đi bằng đường không trung, trên bầu trời.

3543. “Các quan viên làm lễ phong vương, các xa phu, các vị đã đạt đến tài năng đâu rồi? Trẫm sẽ bàn giao vương quyền. Trẫm không còn ham muốn với vương quyền.

3544. Nội trong ngày hôm nay, trẫm sẽ xuất gia. Ai có thể biết được cái chết vào ngày mai. Chớ để trẫm trở thành kẻ thiểu trí, tựa như con quạ đã đi theo sự tác động của các dục.”

3545. “Bệ hạ có người con trai trẻ tuổi Dīghāvu, là bậc làm hưng thịnh đất nước. Bệ hạ hãy tấn phong vị ấy vào vương vị; vị ấy sẽ trở thành đức vua của chúng thần.”

3546. “Hãy mau triệu vời hoàng tử Dīghāvu, bậc làm hưng thịnh đất nước. Trẫm sẽ tấn phong vị ấy vào vương vị; vị ấy sẽ trở thành đức vua của các khanh.”

3547. Kế đó, họ đã triệu vời hoàng tử Dīghāvu, bậc làm hưng thịnh đất nước. Sau khi nhìn thấy vị ấy, đức vua đã nói về điều làm cho thích ý với người con trai độc nhất:

3548. “Có sáu mươi ngàn ngôi làng hoàn toàn đầy đủ về mọi mặt. Này con trai, con hãy tiếp nhận chúng. Trẫm bàn giao vương quyền cho con.

3549. Nội trong ngày hôm nay, trẫm sẽ xuất gia. Ai có thể biết được cái chết vào ngày mai. Chớ để trẫm trở thành kẻ thiểu trí, tựa như con quạ đã đi theo sự tác động của các dục.

3550. Có sáu mươi ngàn con voi đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, có dây đai bằng vàng, là những con voi có trang phục là yên cương bằng vàng.

3551. Chúng được cỡi lên bởi các viên quản tượng có cây thương móc câu ở bàn tay. Này con trai, con hãy tiếp nhận chúng. Trẫm bàn giao vương quyền cho con.

3552. Nội trong ngày hôm nay, trẫm sẽ xuất gia. Ai có thể biết được cái chết vào ngày mai. Chớ để trẫm trở thành kẻ thiểu trí, tựa như con quạ đã đi theo sự tác động của các dục.

3553. Có sáu mươi ngàn con ngựa đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, là thuần chủng về dòng dõi, là giống ngựa Sindhu, có sức chuyển vận mau lẹ.

3554. Chúng được cỡi lên bởi các viên mã phu có mang gươm và cung. Này con trai, con hãy tiếp nhận chúng. Trẫm bàn giao vương quyền cho con.

3555. Nội trong ngày hôm nay, trẫm sẽ xuất gia. Ai có thể biết được cái chết vào ngày mai. Chớ để trẫm trở thành kẻ thiểu trí, tựa như con quạ đã đi theo sự tác động của các dục.

3556. Có sáu mươi ngàn cỗ xe, đã được trang bị, có lá cờ đã được giương lên, có các tấm thảm da báo, da cọp, đã được tô điểm với mọi thứ trang sức.

3557. Chúng được cỡi lên bởi các viên xa phu mặc áo giáp, có cây cung ở tay. Này con trai, con hãy tiếp nhận chúng. Trẫm bàn giao vương quyền cho con.

3558. Nội trong ngày hôm nay, trẫm sẽ xuất gia. Ai có thể biết được cái chết vào ngày mai. Chớ để trẫm trở thành kẻ thiểu trí, tựa như con quạ đã đi theo sự tác động của các dục.

3559. Có sáu mươi ngàn bò cái màu hung đỏ, với các con bò đực đầu đàn. Này con trai, con hãy tiếp nhận chúng. Trẫm bàn giao vương quyền cho con.

3560. Nội trong ngày hôm nay, trẫm sẽ xuất gia. Ai có thể biết được cái chết vào ngày mai. Chớ để trẫm trở thành kẻ thiểu trí, tựa như con quạ đã đi theo sự tác động của các dục.

3561. Có sáu mươi ngàn nữ nhân đã được tô điểm với mọi thứ trang sức, có vải vóc và đồ trang sức đủ màu sắc rực rỡ, có các bông tai bằng ngọc trai và ngọc ma-ni. Này con trai, con hãy tiếp nhận các nàng ấy. Trẫm bàn giao vương quyền cho con.

3562. Nội trong ngày hôm nay, trẫm sẽ xuất gia. Ai có thể biết được cái chết vào ngày mai. Chớ để trẫm trở thành kẻ thiểu trí, tựa như con quạ đã đi theo sự tác động của các dục.”

3563. “Ngay từ khi con còn nhỏ, thưa cha, mẹ của con đã chết, con đã được nghe như thế. Thưa cha, không có cha, con không thể sống được.

3564. Giống như con voi con đi theo phía sau con voi lớn sống ở rừng, trong lúc dạo chơi ở những khe núi hiểm trở, ở những nơi bằng phẳng và lồi lõm.

3565. Tương tự như vậy, con sẽ cầm bình bát đi theo cha ở phía sau. Con sẽ là dễ nuôi đối với cha, con sẽ là không khó nuôi đối với cha.”

3566. “Giống như chiếc tàu biển của những người thương buôn đang tầm cầu tài sản có thể gặp xoáy nước ở biển khơi, người thương buôn có thể có sự rủi ro; tương tự y như vậy, này đứa con bất hạnh, đây là việc gây chướng ngại cho trẫm.

3567. Các khanh hãy tấn phong cho hoàng tử này tại lâu đài có sự hưng thịnh về lạc thú. Tại nơi ấy, các nữ nhân có cánh tay bằng vàng. Tại nơi ấy, các nàng ấy sẽ làm cho hoàng tử thích thú, và hoàng tử sẽ thích thú với các nàng ấy, giống như các nàng tiên nữ làm cho Thiên Chủ Sakka thích thú vậy.”

3568. Kế đó, họ đã tấn phong cho vị hoàng tử tại lâu đài có sự hưng thịnh về lạc thú. Sau khi nhìn thấy hoàng tử, các cô gái đã nói với hoàng tử Dīghāvu, bậc làm hưng thịnh đất nước rằng:

3569. “Phải chăng ngài là vị Thiên nhân, là vị Càn-thát-bà, hay là Thiên Chủ Sakka, vị đã bố thí trước đây? Chàng là ai, chàng là con của người nào? Làm thế nào bọn thiếp có thể biết về chàng?”

3570. “Ta không phải là Thiên nhân, không phải là Càn-thát-bà, cũng không phải là Thiên Chủ Sakka, vị đã bố thí trước đây. Ta là con trai của đức vua xứ Kāsi, là Dīghāvu, bậc làm hưng thịnh đất nước. Các nàng hãy chấp nhận ta; điều tốt lành sẽ đến với các nàng. Ta là chồng của các nàng.”

3571. Tại nơi ấy, các cô gái đã nói với vị Dīghāvu ấy, bậc làm hưng thịnh đất nước, rằng: “Hoàng thượng đã đến được nơi nào? Từ nơi này hoàng thượng đã đi đến nơi nào?”

3572. “Hoàng thượng đã vượt qua vũng lầy (ngũ dục). Hoàng thượng đã đứng vững ở đất bằng (xuất gia), đã thực hành đạo lộ lớn (đạo lộ giải thoát) không có gai nhọn (ô nhiễm), không có sự nắm giữ (các ô nhiễm).

3573. Còn ta đang thực hành đạo lộ đưa đến cảnh giới khổ đau, có gai nhọn, có sự nắm giữ, do đạo lộ đó chúng sanh đi đến cảnh giới khổ đau.”

3574. “Tâu bệ hạ, chào mừng bệ hạ đã ngự đến, tựa như việc đi đến hang núi của con sư tử. Tâu đại vương, xin đại vương hãy chỉ dạy. Đại vương là chúa tể của tất cả chúng thần.”