Bản dịch
JA 528 — Chuyện hiền giả đại Bồ đề (Tiền thân Mahà-Bodhi)
3. Mahābodhijātaka
3449. “Tại sao ngài có vẻ vội vã cầm lấy cây gậy chống, mảnh y phục da dê, cái dù che, đôi đép, cái móc câu, cái bình bát, và luôn cả tấm y khoác ngoài? Thưa vị Bà-la-môn, ngài mong muốn đi về hướng nào?”
3450. “Mười hai năm này được sống gần bệ hạ, bần đạo không biết gì về tiếng sủa của con chó hung.
3451. Sau khi nghe được bệ hạ và hoàng hậu không còn niềm tin đối với bần đạo, con chó này đây gầm gừ tựa như kiêu ngạo, còn nhe răng trắng hếu.”
3452. “Thưa vị Bà-la-môn, lỗi lầm ấy đã được tạo ra giống như ngài nói. Trẫm đây tin tưởng vào ngài nhiều hơn nữa. Thưa vị Bà-la-môn, ngài hãy ở lại, xin chớ ra đi.”
3453. “Trước đây, đã là cơm trắng toàn bộ. Sau đó, đã có lấm tấm (trộn lẫn gạo đỏ). Bây giờ, toàn bộ gạo đỏ. Là thời điểm ra đi của bần đạo.
3454. Trước đây, (chỗ ngồi) là ở phòng trong, sau đó là phòng giữa, kế đến là ở bên ngoài. Bần đạo hãy tự mình ra đi trước khi có việc tống khứ.
3455. Không nên thân cận người đã không còn niềm tin (đối với mình), tựa như cái giếng không còn nước, thậm chí nếu có thể đào sâu thêm thì cũng chỉ là nước bùn có mùi hôi.
3456. Nên thân cận người thật sự tin tưởng (mình), nên xa lánh kẻ không tin tưởng, nên gần gũi người tin tưởng (mình), tựa như người cần nước gần gũi cái hồ.
3457. Nên cộng sự với người cộng sự (với mình), không nên cộng sự với kẻ không cộng sự (với mình). Kẻ nào không cộng sự với người cộng sự (có thiện tâm), kẻ ấy có bản chất của kẻ phi chân nhân.
3458. Kẻ nào không cộng sự với người đang cộng sự, không thân cận người đang thân cận, chính kẻ ấy là tồi tệ nhất ở loài người, giống như loài thú, loài khỉ.
3459. Do gặp gỡ thường xuyên quá nhiều, d0 không hội họp chung, và do yêu cầu không đúng thời, do việc ấy các thân hữu bị suy giảm.
3460. Vì thế, không nên qua lại thường xuyên, và quá lâu không qua lại, nên bày tỏ yêu cầu lúc hợp thời, như vậy thì các thân hữu không bị suy giảm.
3461. Do việc cư ngụ quá lâu mà người yêu quý không còn được yêu quý. Thật vậy, hãy để chúng tôi chào bệ hạ và ra đi, trước khi chúng tôi đây không còn được yêu quý.”
3462. “Nếu như ngài không để tâm đến việc chắp tay của những người đang thỉnh cầu, nếu ngài không nói lời nào với chúng tôi, những người hộ độ ngài, thì chúng tôi thỉnh cầu ngài như vầy: Mong rằng ngài có thể thực hiện việc quay trở lại lần nữa.”
3463. “Tâu đại vương, nếu như sẽ không có nguy biến xảy ra cho chúng tôi trong khi sinh sống, và đối với bệ hạ nữa, hoặc đối với (cả hai) chúng ta, tâu bậc làm hưng thịnh đất nước, có lẽ chúng ta sẽ gặp lại (sau một thời gian) khi những ngày đêm đã qua đi.”
3464. “Nếu nói rằng: Thế gian này diễn tiến d0 điều kiện tự nhiên của sự hội tụ, con người tạo tác việc không nên làm (việc ác) hay việc nên làm (việc thiện) không do ước muốn; trong trường hợp việc được làm không do ước muốn, thì ở đây, ai bị lấm nhơ bởi tội ác?
3465. Nếu ý nghĩa và giáo pháp ấy là tốt lành và không xấu xa, nếu lời nói của ngài là sự thật, thì nhờ tôi mà con khỉ đã được chết tốt đẹp.
3466. Bởi vì, nếu học thuyết của bản thân ngài đã cho rằng không có tội lỗi, thì ngài không thể chê trách tôi; chính học thuyết của ngài là như thế ấy.
3467. Nếu vị chúa tể của toàn bộ thế gian xếp đặt cuộc sống, sự thành tựu, sự được mất, và việc làm tốt xấu, con người là công cụ làm theo sự chỉ định, thì vị chúa tể bị lấm nhơ bởi điều ấy.
3468. Nếu ý nghĩa và giáo pháp ấy là tốt lành và không xấu xa, nếu lời nói của ngài là sự thật, thì nhờ tôi mà con khỉ đã được chết tốt đẹp.
3469. Bởi vì, nếu học thuyết của bản thân ngài đã cho rằng không có tội lỗi, thì ngài không thể chê trách tôi; chính học thuyết của ngài là như thế ấy.
3470. Nếu con người đi đến sướng hay khổ do nhân đã làm kiếp trước, và người ấy thoát khỏi món nợ là việc ác đã làm thời xưa ấy, với việc thoát khỏi món nợ thời xưa ấy, thì ở đây, ai bị lấm nhơ bởi tội ác?
3471. Nếu ý nghĩa và giáo pháp ấy là tốt lành và không xấu xa, nếu lời nói của ngài là sự thật, thì nhờ tôi mà con khỉ đã được chết tốt đẹp.
3472. Bởi vì, nếu học thuyết của bản thân ngài đã cho rằng không có tội lỗi, thì ngài không thể chê trách tôi; chính học thuyết của ngài là như thế ấy.
3473. Sắc liên quan đến bốn thành phần (đất, nước, lửa, gió) tạo nên sinh vật. Và sắc hình thành từ nơi nào thì sẽ tiến đến chính nơi ấy.
3474. Mạng sống sinh sống ở ngay tại nơi này và tiêu hoại sau khi chết đi, lần này đến lần khác. Thế gian này bị đứt đoạn, những ai là kẻ ngu hay những ai là người trí (đều như nhau). Trong lúc thế gian này bị đứt đoạn, thì ở đây, ai bị lấm nhơ bởi tội ác?
3475. Nếu ý nghĩa và giáo pháp ấy là tốt lành và không xấu xa, nếu lời nói của ngài là sự thật, thì nhờ tôi mà con khỉ đã được chết tốt đẹp. 3476. Bởi vì, nếu học thuyết của bản thân ngài đã cho rằng không có tội lỗi, thì ngài không thể chê trách tôi; chính học thuyết của ngài là như thế ấy.
3477. Hạng người theo thuyết vua chúa ở thế gian, những kẻ ngu dốt lại tự hào là sáng suốt, đã bảo rằng có thể giết chết mẹ, cha, rồi anh trai và luôn cả em trai, có thể giết chết vợ và con, nếu mục đích như thế ấy là cần thiết.
3478. Người ngồi hoặc nằm ở bóng râm của cây nào thì không nên bẻ gãy cành lá của cây ấy, bởi vì kẻ phản bội bạn bè là kẻ ác xấu.
3479. Rồi khi có nhu cầu sanh khởi thì có thể nhổ lên thậm chí luôn cả gốc rễ. Tôi đã có nhu cầu về vật dự phòng, và nhờ tôi mà con khỉ đã được chết tốt đẹp.
3480. Nếu ý nghĩa và giáo pháp ấy là tốt lành và không xấu xa, nếu lời nói của ngài là sự thật, thì nhờ tôi mà con khỉ đã được chết tốt đẹp.
3481. Bởi vì, nếu học thuyết của bản thân ngài đã cho rằng không có tội lỗi, thì ngài không thể chê trách tôi; chính học thuyết của ngài là như thế ấy.
3482. Có người với học thuyết không nguyên nhân, và có người tin vào sự sáng tạo của vị chúa tể, người thì quan niệm do việc đã làm kiếp trước, người thì cho rằng có sự đứt đoạn, và người theo thuyết vua chúa,–
3483. –những người này là các kẻ phi chân nhân ở thế gian, những kẻ ngu dốt lại tự hào là sáng suốt. Kẻ như thế ấy có thể làm điều ác, rồi còn xúi người khác làm. Sự tiếp xúc với kẻ phi chân nhân là việc làm sai trái, là nguồn tạo ra sự đắng cay.
3484. Vào thời quá khứ, có con sói giả dạng con cừu
rồi đi đến gần bầy dê, và đã không bị nghi ngờ.
Sau khi giết hại cừu, dê cái, và dê đực,
sau khi làm cho khiếp sợ, nó tẩu thoát theo như ý muốn.
3485. Tương tự như thế, có một số hạng Sa-môn và Bà-la-môn
thực hiện việc che đậy rồi lừa gạt nhiều người.
Họ không ăn, và nằm ở trên mặt đất,
có bụi bặm và cáu ghét, ra sức ngồi chồm hổm,
có bữa ăn theo định kỳ, và thực hiện việc không uống nước,
có hành vi xấu xa, có sự khoe khoang là A-la-hán.
3486. Những người này là những kẻ phi chân nhân ở thế gian, những kẻ ngu dốt lại tự hào là sáng suốt. Kẻ như thế ấy có thể làm điều ác, rồi còn xúi người khác làm. Sự tiếp xúc với kẻ phi chân nhân là việc làm sai trái, là nguồn tạo ra sự đắng cay.
3487. Những người nào đã nói là không có sự nỗ lực, những người nào không tuyên thuyết về nhân, và những người nào đã ca ngợi việc làm của bản thân và hành động của người khác là rỗng không,–
3488. –những người này là những kẻ phi chân nhân ở thế gian, những kẻ ngu dốt lại tự hào là sáng suốt. Kẻ như thế ấy có thể làm điều ác, rồi còn xúi người khác làm. Sự tiếp xúc với kẻ phi chân nhân là việc làm sai trái, là nguồn tạo ra sự đắng cay.
3489. Bởi vì nếu không có sự nỗ lực, không có nghiệp thiện và ác, đức vua không cấp dưỡng người thợ mộc thì cũng không thể cho thực hiện các công trình xây dựng.
3490. Và bởi vì có sự nỗ lực, có nghiệp thiện và ác, cho nên đức vua cấp dưỡng người thợ mộc và cho thực hiện các công trình xây dựng.
3491. Nếu một trăm năm trời không đổ mưa, cũng không rơi tuyết, thế gian này có thể bị gián đoạn, loài người này có thể bị diệt vong.
3492. Và nhờ vào trời đổ mưa và còn rơi tuyết xuống nữa, nhờ thế các mùa màng được chín rộ và đất nước được hộ trì lâu dài.
3493. Trong khi bầy bò đang vượt qua sông, nếu con bò đực đi quanh co, tất cả các con bò cái sẽ đi quanh co khi con bò dẫn đường đi quanh co.
3494. Tương tự y như thế ở loài người, nếu người được phong làm thủ lãnh thực hành không đúng pháp, nói gì thêm những người khác, toàn bộ đất nước sẽ bị lầm than nếu đức vua là kẻ không công minh.
3495. Trong khi bầy bò đang vượt qua sông, nếu con bò đực đi ngay thẳng, tất cả các con bò cái sẽ đi ngay thẳng khi con bò dẫn đường đi ngay thẳng.
3496. Tương tự y như thế ở loài người, nếu người được phong làm thủ lãnh thực hành đúng pháp, nói gì thêm những người khác, toàn bộ đất nước sẽ được hạnh phúc nếu đức vua là người công minh.
3497. Kẻ nào hái trái cây còn non của cội cây lớn đang kết trái, kẻ ấy không biết được vị ngon của trái cây này và hủy hoại hạt giống của nó.
3498. Đất nước được ví như cội cây lớn, kẻ nào cai trị đất nước không công minh, kẻ ấy không biết rõ tiềm lực của nó và hủy hoại đất nước của mình.
3499. Người nào hái trái cây đã chín của cội cây lớn đang kết trái, người ấy biết được vị ngon của trái cây này và không hủy hoại hạt giống của nó.
3500. Đất nước được ví như cội cây lớn, người nào cai trị đất nước công minh, người ấy biết rõ tiềm lực của nó và không hủy hoại đất nước của mình.
3501. Và vị vua nào cai trị xứ sở không công minh, vị vua ấy là Sát- đế- lỵ bị thất bại với mọi giải pháp cứu chữa.
3502. Tương tự y như thế, trong khi hãm hại các thị dân, là những người gắn bó với việc buôn bán, thông qua việc quy định thuế má vào việc vận chuyển hàng hóa, vị vua ấy bị thất bại với ngân sách tồn trữ.
3503. Trong khi hãm hại những người tài giỏi về lãnh vực chiến đấu đã thể hiện sự ra sức ở chiến trường, đã được nổi bật, vị vua ấy bị thất bại với quân đội của chính mình.
3504. Tương tự y như thế, trong khi hãm hại các vị ẩn sĩ có sự tự kiềm chế, có sự thực hành Phạm hạnh, bằng sự hành xử không công minh, vị Sát-đế-lỵ ấy bị thất bại với cõi Trời.
3505. Và vị vua nào duy trì phi pháp, giết chết người vợ không phải là kẻ lăng loàn, và gây ra tội ác tàn bạo, (vị vua ấy) bị thất bại với các con.
3506. Nên hành xử công minh đối với dân chúng, đối với các thị dân, và đối với các đội quân binh. Và không nên hãm hại các vị ẩn sĩ, nên hành xử bình đẳng với vợ con.
3507. Vị như thế ấy là chúa tể của trái đất, đấng hộ trì đất nước, có sự khoan dung, làm cho các lân bang phải khiếp sợ, tựa như vị thần Inda, chúa tể của loài A-tu-la.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Kiṃ nu daṇḍaṃ kimajinaṃ, kiṃ chattaṃ kimupāhanaṃ;
Kimaṅkusañca pattañca, saṅghāṭiñcāpi brāhmaṇa;
Taramānarūpohāsi †, kiṃ nu patthayase disaṃ’’.
Why the staff, why the deerskin, why the parasol, why the sandals? Why the hook, the bowl, and the outer robe, O brāhmaṇa? You appear to be in a hurry; what direction do you seek?
Này Bà-la-môn, vì sao lại mang gậy, vì sao lại mang da thú, vì sao lại mang lọng, vì sao lại mang giày? Vì sao lại mang cả móc câu, cả bình bát, và cả y hai lớp? Ngài có vẻ vội vã, ngài mong muốn đi về phương nào?
125.
125.
125.
‘‘Dvādasetāni vassāni, vusitāni tavantike;
Nābhijānāmi soṇena, piṅgalenābhikūjitaṃ.
For these twelve years that I have lived near you, I do not recall being barked at by your dog, Piṅgala.
Mười hai năm này, tôi đã sống gần ngài. Tôi không hề biết con chó tên Piṅgala đã từng sủa tôi.
126.
126.
126.
‘‘Svāyaṃ dittova nadati, sukkadāṭhaṃ vidaṃsayaṃ;
Tava sutvā sabhariyassa, vītasaddhassa maṃ pati’’.
528. This very dog now barks as if frenzied, showing his white fangs, having heard the words spoken towards me by you, who are with your wife and have lost faith.
Con chó này sủa như thể bị kích động, nhe những chiếc nanh trắng. Sau khi nghe lời của ngài, người đã mất tín tâm, cùng với hoàng hậu của ngài, nói về tôi.
127.
127.
127.
‘‘Ahu esa kato doso, yathā bhāsasi brāhmaṇa;
Esa bhiyyo pasīdāmi, vasa brāhmaṇa māgamā’’.
This fault was indeed committed, just as you say, O brāhmaṇa. Now my faith in you is even greater. Dwell here, O brāhmaṇa, do not go away.
Này Bà-la-môn, lỗi lầm này đã được thực hiện, đúng như ngài nói. Nay tôi lại càng thêm tịnh tín. Này Bà-la-môn, xin hãy ở lại, đừng đi.
128.
128.
128.
‘‘Sabbaseto pure āsi, tatopi sabalo ahu;
Sabbalohitako dāni, kālo pakkamituṃ mama.
Formerly, the offering was all white; after that, it became mottled; now, it is entirely red. It is time for me to depart.
Trước kia, (cơm) hoàn toàn trắng, sau đó trở nên lốm đốm. Bây giờ, nó hoàn toàn đỏ. Đã đến lúc tôi phải ra đi.
129.
129.
129.
‘‘Abbhantaraṃ pure āsi, tato majjhe tato bahi;
Purā niddhamanā hoti, sayameva vajāmahaṃ.
Formerly, my place was within; then in the middle; then outside. Before I am driven out, I shall depart of my own accord.
Trước kia, (chỗ ngồi) ở bên trong, sau đó ở giữa, rồi sau đó ở bên ngoài. Trước khi bị đuổi đi, tôi tự mình ra đi.
130.
130.
130.
‘‘Vītasaddhaṃ na seveyya, udapānaṃvanodakaṃ;
Sacepi naṃ anukhaṇe, vāri kaddamagandhikaṃ.
One should not associate with a person who has lost faith, who is like a waterless well. Even if one were to dig in it, the water would smell of mud.
Không nên gần gũi người đã mất tín tâm, giống như một cái giếng không có nước. Dù cho có đào nó lên, nước cũng sẽ có mùi bùn.
131.
131.
131.
‘‘Pasannameva seveyya, appasannaṃ vivajjaye;
Pasannaṃ payirupāseyya, rahadaṃ vudakatthiko.
One should associate only with the faithful and avoid the faithless. As one in need of water resorts to a clear, deep lake, so should one attend upon a person of faith.
Chỉ nên gần gũi người có lòng tịnh tín, nên tránh xa người không có lòng tịnh tín. Nên đến gần người có lòng tịnh tín, giống như người cần nước tìm đến hồ nước trong.
132.
132.
132.
‘‘Bhaje bhajantaṃ purisaṃ, abhajantaṃ na bhajjaye †;
Asappurisadhammo so, yo bhajantaṃ na bhajjati †.
One should associate with a person who associates with oneself, and not associate with one who does not. It is the way of an unworthy person not to associate with one who seeks association.
Nên kết giao với người muốn kết giao với mình, không nên kết giao với người không muốn kết giao. Kẻ nào không kết giao với người muốn kết giao, kẻ đó có pháp của người bất thiện.
133.
133.
133.
‘‘Yo bhajantaṃ na bhajati, sevamānaṃ na sevati;
Sa ve manussapāpiṭṭho, migo sākhassito yathā.
He who does not associate with one who seeks association, nor attend to one who attends upon him, is truly the most wicked of men, like a beast clinging to a branch.
Kẻ nào không kết giao với người muốn kết giao, không gần gũi người muốn gần gũi, kẻ đó thật là kẻ đê tiện nhất trong loài người, giống như con khỉ (phá hoại) cành cây mà nó bám vào.
134.
134.
134.
‘‘Accābhikkhaṇasaṃsaggā, asamosaraṇena ca;
Etena mittā jīranti, akāle yācanāya ca.
Through overly frequent association, and through a lack of contact, and also through untimely requests: by these things friendships decay.
Do giao du quá thường xuyên, và do không giao du, và do việc xin xỏ không đúng lúc; vì những lý do này mà tình bạn tan vỡ.
135.
135.
135.
‘‘Tasmā nābhikkhaṇaṃ gacche, na ca gacche cirāciraṃ;
Kālena yācaṃ yāceyya, evaṃ mittā na jīyare †.
Therefore, one should not visit too frequently, nor stay away for too long. One should make a request at the proper time; in this way, friendships do not decay.
Do đó, không nên đến quá thường xuyên, cũng không nên không đến quá lâu. Nên xin xỏ vào lúc thích hợp; như vậy, tình bạn sẽ không tan vỡ.
136.
136.
136.
‘‘Aticiraṃ nivāsena, piyo bhavati appiyo;
Āmanta kho taṃ gacchāma, purā te homa appiyā’’.
Through staying too long, one who is dear becomes disliked. We now ask your leave to depart, before we become disliked by you.
Do ở quá lâu, người thân trở thành người không ưa. Chúng tôi xin cáo từ ngài để ra đi, trước khi chúng tôi trở thành người không được ngài ưa thích.
137.
137.
137.
‘‘Evaṃ ce yācamānānaṃ, añjaliṃ nāvabujjhasi;
Paricārakānaṃ sataṃ †, vacanaṃ na karosi no;
Evaṃ taṃ abhiyācāma, puna kayirāsi pariyāyaṃ’’.
If you do not heed the reverential gesture of us who are requesting, and do not listen to the words of us, your attendants, then we implore you thus: may you make an occasion to return again.
Nếu ngài không hiểu được cử chỉ chắp tay của chúng tôi đang khẩn cầu như vậy, nếu ngài không làm theo lời của chúng tôi, những người phục vụ ngài, thì chúng tôi tha thiết khẩn cầu ngài, xin ngài hãy trở lại một lần nữa.
138.
138.
138.
‘‘Evaṃ ce no viharataṃ, antarāyo na hessati;
Tuyhaṃ vāpi † mahārāja, mayhaṃ vā † raṭṭhavaddhana;
Appeva nāma passema, ahorattānamaccaye’’.
If, while we are living thus, no obstacle should arise for you, great king, or for me, O promoter of the kingdom, then perhaps we may see each other again after the passing of days and nights.
Tâu Đại vương, người làm cho quốc độ phồn vinh, nếu trong khi chúng ta sống, không có chướng ngại nào xảy ra cho ngài hoặc cho tôi, thì có lẽ chúng ta sẽ gặp lại nhau sau khi ngày đêm trôi qua.
139.
139.
139.
‘‘Udīraṇā ce saṃgatyā, bhāvāya manuvattati;
Akāmā akaraṇīyaṃ vā, karaṇīyaṃ vāpi kubbati;
Ākāmākaraṇīyamhi, kvidha pāpena lippati †.
If you say that the world proceeds by association or by nature, and that one unwillingly does what should or should not be done, then, this being so, who here is stained by evil?
Nếu (mọi sự) xảy ra do sự kết hợp ngẫu nhiên và do bản chất tự nhiên, người ta làm điều không nên làm hoặc điều nên làm mà không do ý muốn; khi việc làm không do ý muốn, thì ở đây ai bị ô nhiễm bởi tội lỗi?
140.
140.
140.
‘‘So ce attho ca dhammo ca, kalyāṇo na ca pāpako;
Bhoto ce vacanaṃ saccaṃ, suhato vānaro mayā.
If that meaning and that doctrine of yours are good and not evil, and if your words are true, then the monkey was well-killed by me.
Nếu ý nghĩa và pháp ấy là tốt đẹp chứ không phải xấu xa, nếu lời của ngài là sự thật, thì con khỉ đã bị tôi giết một cách tốt đẹp.
141.
141.
141.
‘‘Attano ce hi vādassa, aparādhaṃ vijāniyā †;
Na maṃ tvaṃ garaheyyāsi, bhoto vādo hi tādiso’’.
If you would but recognize the fault in your own doctrine, you would not blame me, for your doctrine is indeed of such a nature.
Nếu ngài nhận ra lỗi lầm trong chính học thuyết của mình, thì ngài đã không khiển trách tôi, vì học thuyết của ngài chính là như vậy.
142.
142.
142.
‘‘Issaro sabbalokassa, sace kappeti jīvitaṃ;
Iddhiṃ † byasanabhāvañca, kammaṃ kalyāṇapāpakaṃ;
Niddesakārī puriso, issaro tena lippati.
If a Lord of the entire world ordains life, prosperity and ruin, and action both good and evil, then a person is merely an agent carrying out a command, and it is the Lord who is stained by it.
Nếu một Đấng Sáng Tạo của toàn thế giới sắp đặt mạng sống, sự thịnh suy, và nghiệp thiện ác, thì con người chỉ là người thừa hành mệnh lệnh, và Đấng Sáng Tạo mới là người bị ô nhiễm bởi điều đó.
143.
143.
143.
‘‘So ce attho ca dhammo ca, kalyāṇo na ca pāpako;
Bhoto ce vacanaṃ saccaṃ, suhato vānaro mayā.
If that meaning and that doctrine of yours are good and not evil, and if your words are true, then the monkey was well-killed by me.
Nếu ý nghĩa và pháp ấy là tốt đẹp chứ không phải xấu xa, nếu lời của ngài là sự thật, thì con khỉ đã bị tôi giết một cách tốt đẹp.
144.
144.
144.
‘‘Attano ce hi vādassa, aparādhaṃ vijāniyā;
Na maṃ tvaṃ garaheyyāsi, bhoto vādo hi tādiso’’.
If you would but recognize the fault in your own doctrine, you would not blame me, for your doctrine is indeed of such a nature.
Nếu ngài nhận ra lỗi lầm trong chính học thuyết của mình, thì ngài đã không khiển trách tôi, vì học thuyết của ngài chính là như vậy.
145.
145.
145.
‘‘Sace pubbekatahetu, sukhadukkhaṃ nigacchati;
Porāṇakaṃ kataṃ pāpaṃ, tameso muccate † iṇaṃ;
Porāṇakaiṇamokkho, kvidha pāpena lippati.
If one experiences happiness and suffering only because of past deeds, and by this one is released from the debt of evil done in the past, then in this release from an ancient debt, who here is stained by evil?
Nếu do nhân đã làm trong quá khứ mà người ta gặp phải hạnh phúc và đau khổ, thì người ấy đang được giải thoát khỏi món nợ là tội lỗi đã làm trong quá khứ. Khi được giải thoát khỏi món nợ quá khứ, thì ở đây ai bị ô nhiễm bởi tội lỗi?
146.
146.
146.
‘‘So ce attho ca dhammo ca, kalyāṇo na ca pāpako;
Bhoto ce vacanaṃ saccaṃ, suhato vānaro mayā.
If that purpose and the Dhamma are good, and not evil, and if your words are true, then the monkey was well-killed by me.
Nếu ý nghĩa và pháp ấy là tốt đẹp chứ không phải xấu xa, nếu lời của ngài là sự thật, thì con khỉ đã bị tôi giết một cách tốt đẹp.
147.
147.
147.
‘‘Attano ce hi vādassa, aparādhaṃ vijāniyā;
Na maṃ tvaṃ garaheyyāsi, bhoto vādo hi tādiso’’.
If you would recognize a fault in your own statement, you would not blame me, for your statement is indeed like that.
Nếu ngài nhận ra lỗi lầm trong chính học thuyết của mình, thì ngài đã không khiển trách tôi, vì học thuyết của ngài chính là như vậy.
148.
148.
148.
‘‘Catunnaṃyevupādāya, rūpaṃ sambhoti pāṇinaṃ;
Yato ca rūpaṃ sambhoti, tatthevānupagacchati;
Idheva jīvati jīvo, pecca pecca vinassati.
Supported by the four elements, form arises for beings; and from where form arises, there it ceases. Here the living being lives, perishing again and again after death.
Sắc thân của chúng sanh sinh khởi từ bốn (đại) y cứ. Sắc thân sinh khởi từ đâu, nó sẽ trở về nơi đó. Sinh mạng sống ở đời này, sau khi chết, nó bị hủy diệt.
149.
149.
149.
Ucchijjati ayaṃ loko, ye bālā ye ca paṇḍitā;
Ucchijjamāne lokasmiṃ, kvidha pāpena lippati.
This world is annihilated—both the foolish and the wise. When the world is being annihilated, who here is stained by evil?
Thế giới này bị đoạn diệt, cả kẻ ngu lẫn người trí. Khi thế giới bị đoạn diệt, thì ở đây ai bị ô nhiễm bởi tội lỗi?
150.
150.
150.
‘‘So ce attho ca dhammo ca, kalyāṇo na ca pāpako;
Bhoto ce vacanaṃ saccaṃ, suhato vānaro mayā.
If that meaning and that doctrine of yours are good and not evil, and if your words are true, then the monkey was well-killed by me.
Nếu ý nghĩa ấy và pháp ấy là tốt đẹp, không phải là xấu xa; nếu lời nói của ngài là sự thật, thì con khỉ đã được ta giết một cách tốt đẹp.
151.
151.
151.
‘‘Attano ce hi vādassa, aparādhaṃ vijāniyā;
Na maṃ tvaṃ garaheyyāsi, bhoto vādo hi tādiso’’.
If you would but recognize the fault in your own doctrine, you would not blame me, for your doctrine is indeed of such a nature.
Nếu ngài biết được lỗi lầm trong chủ thuyết của chính mình, thì ngài đã không khiển trách ta, vì chủ thuyết của ngài cũng giống như vậy.
152.
152.
152.
‘‘Āhu khattavidā † loke, bālā paṇḍitamānino.
Mātaraṃ pitaraṃ haññe, atho jeṭṭhampi bhātaraṃ;
Haneyya putta † dāre ca, attho ce tādiso siyā.
There are those in the world who profess the warrior's creed—fools who consider themselves wise. They say one may kill one's mother and father, and also one's elder brother; one may kill children and wife, if such a purpose should arise.
Ở đời, những kẻ ngu si tự cho mình là bậc trí, những người theo học thuyết Khattavida, đã nói rằng: 'Nên giết mẹ, giết cha, và cả anh cả; nên giết con, giết vợ, nếu có nhu cầu như vậy phát sinh.'
153.
153.
153.
‘‘Yassa rukkhassa chāyāya, nisīdeyya sayeyya vā;
Na tassa sākhaṃ bhañjeyya, mittadubbho † hi pāpako.
Of the tree in whose shade one might sit or lie down, one should not break a branch; for a betrayer of a friend is an evil person.
Dưới bóng của cây nào, dù ngồi hay nằm, không nên bẻ cành của cây ấy. Kẻ phản bạn quả là xấu xa.
154.
154.
154.
‘‘Atha atthe samuppanne, samūlamapi abbahe †;
Attho me sambalenāpi, suhato vānaro mayā.
But you say that when a purpose arises, one should uproot it, even with its root. I had a purpose regarding provisions, therefore the monkey was well-killed by me.
Thế nhưng, khi nhu cầu phát sinh, có thể nhổ lên cả gốc rễ. Ta đây cũng có nhu cầu về lương thực, nên con khỉ đã được ta giết một cách tốt đẹp.
155.
155.
155.
† ‘‘So ce attho ca dhammo ca, kalyāṇo na ca pāpako;
Bhoto ce vacanaṃ saccaṃ, suhato vānaro mayā †.
If that meaning and that doctrine of yours are good and not evil, and if your words are true, then the monkey was well-killed by me.
Nếu ý nghĩa ấy và pháp ấy là tốt đẹp, không phải là xấu xa; nếu lời nói của ngài là sự thật, thì con khỉ đã được ta giết một cách tốt đẹp.
156.
156.
156.
‘‘Attano ce hi vādassa, aparādhaṃ vijāniyā;
Na maṃ tvaṃ garaheyyāsi, bhoto vādo hi tādiso.
If you would but recognize the fault in your own doctrine, you would not blame me, for your doctrine is indeed of such a nature.
Nếu ngài biết được lỗi lầm trong chủ thuyết của chính mình, thì ngài đã không khiển trách ta, vì chủ thuyết của ngài cũng giống như vậy.
157.
157.
157.
‘‘Ahetuvādo puriso, yo ca issarakuttiko;
Pubbekatī ca ucchedī, yo ca khattavido naro.
The person who holds the doctrine of causelessness, the one who holds to creation by a Lord, the one who believes only in past action, the annihilationist, and the person who professes the warrior's creed.
Người theo thuyết vô nhân, người theo thuyết do đấng sáng tạo, người theo thuyết định mệnh do nghiệp quá khứ, người theo thuyết đoạn diệt, và người theo học thuyết Khattavida.
158.
158.
158.
‘‘Ete asappurisā loke, bālā paṇḍitamānino;
Kareyya tādiso pāpaṃ, atho aññampi kāraye;
Asappurisasaṃsaggo, dukkhanto † kaṭukudrayo.
These are the ignoble persons in the world, fools who consider themselves wise. Such a person would do evil and also cause others to do it. Association with the ignoble ends in suffering and yields a bitter fruit.
Những kẻ này là người xấu ác ở đời, ngu si mà tự cho là bậc trí. Kẻ như vậy tự mình làm điều ác, lại còn xui khiến người khác làm theo. Giao du với người xấu ác, kết quả là khổ đau và cay đắng.
159.
159.
159.
‘‘Urabbharūpena vakassu † pubbe, asaṃkito ajayūthaṃ upeti;
Hantvā uraṇiṃ ajikaṃ † ajañca, utrāsayitvā † yena kāmaṃ paleti.
Formerly, a wolf in the guise of a ram fearlessly approached a flock of goats. Having killed a ewe, a she-goat, and a he-goat, and having terrified the flock, it flees wherever it pleases.
Thuở xưa, con sói trong hình dạng con cừu đực, không chút sợ hãi, tiến đến bầy dê. Sau khi giết cừu cái, dê cái và dê đực, nó làm cho bầy dê kinh hãi rồi chạy đi bất cứ nơi nào nó muốn.
160.
160.
160.
‘‘Tathāvidheke samaṇabrāhmaṇāse, chadanaṃ katvā vañcayanti manusse;
Anāsakā thaṇḍilaseyyakā ca, rajojallaṃ ukkuṭikappadhānaṃ;
Pariyāyabhattañca apānakattā, pāpācārā arahanto vadānā.
In the same way, some ascetics and brahmins, having put on a disguise, deceive people. They practice fasting, sleeping on the bare ground, wearing dust and dirt, and striving in the squatting posture. They eat by turns and abstain from drinking water; though their conduct is evil, they claim to be arahants.
Cũng vậy, có một số sa-môn, bà-la-môn, ngụy trang để lừa dối người đời. Họ thực hành tuyệt thực, nằm trên đất trống, mình mẩy lấm lem bụi bẩn, ngồi xổm tinh tấn, ăn theo phiên và không uống nước. Dù có ác hạnh, họ vẫn tự xưng là bậc A-la-hán.
161.
161.
161.
‘‘Ete asappurisā loke, bālā paṇḍitamānino;
Kareyya tādiso pāpaṃ, atho aññampi kāraye;
Asappurisasaṃsaggo, dukkhanto kaṭukudrayo.
These are the ignoble persons in the world, fools who consider themselves wise. Such a person would do evil and also cause others to do it. Association with the ignoble ends in suffering and yields a bitter fruit.
Những kẻ này là người xấu ác ở đời, ngu si mà tự cho là bậc trí. Kẻ như vậy tự mình làm điều ác, lại còn xui khiến người khác làm theo. Giao du với người xấu ác, kết quả là khổ đau và cay đắng.
162.
162.
162.
‘‘Yamāhu natthi vīriyanti, ahetuñca pavadanti † ye;
Parakāraṃ attakārañca, ye tucchaṃ samavaṇṇayuṃ.
There are those who say, 'There is no effort,' those who declare the doctrine of causelessness, and those who describe the actions of others and the actions of oneself as empty.
Những kẻ nói rằng không có sự tinh tấn, những kẻ tuyên bố thuyết vô nhân, và những kẻ cho rằng hành động của người khác và hành động của chính mình đều là vô ích.
163.
163.
163.
‘‘Ete asappurisā loke, bālā paṇḍitamānino;
Kareyya tādiso pāpaṃ, atho aññampi kāraye;
Asappurisasaṃsaggo, dukkhanto kaṭukudrayo.
These are the ignoble persons in the world, fools who consider themselves wise. Such a person would do evil and also cause others to do it. Association with the ignoble ends in suffering and yields a bitter fruit.
Những kẻ này là người xấu ác ở đời, ngu si mà tự cho là bậc trí. Kẻ như vậy tự mình làm điều ác, lại còn xui khiến người khác làm theo. Giao du với người xấu ác, kết quả là khổ đau và cay đắng.
164.
164.
164.
‘‘Sace hi vīriyaṃ nāssa, kammaṃ kalyāṇapāpakaṃ;
Na bhare vaḍḍhakiṃ rājā, napi yantāni kāraye.
If indeed there were no effect of effort, and no result of good and evil action, a king would not support a carpenter, nor would he have great works constructed.
Nếu quả thật không có sự tinh tấn, không có kết quả của nghiệp thiện ác, thì nhà vua đã không nuôi dưỡng người thợ mộc, và cũng không cho làm ra các máy móc.
165.
165.
165.
‘‘Yasmā ca vīriyaṃ atthi, kammaṃ kalyāṇapāpakaṃ;
Tasmā yantāni kāreti, rājā bharati vaḍḍhakiṃ.
And because there is an effect of effort, and a result of good and evil action, therefore a king has great works constructed and supports a carpenter.
Và bởi vì có sự tinh tấn, có kết quả của nghiệp thiện ác, cho nên nhà vua cho làm ra các máy móc và nuôi dưỡng người thợ mộc.
166.
166.
166.
‘‘Yadi vassasataṃ devo, na vasse na himaṃ pate;
Ucchijjeyya ayaṃ loko, vinasseyya ayaṃ pajā.
If for a hundred years the heavens did not rain and no frost were to fall, this world would be annihilated, these creatures would perish.
Nếu trong một trăm năm trời không mưa, sương tuyết không rơi, thì thế gian này sẽ bị hủy diệt, chúng sanh này sẽ bị tiêu vong.
167.
167.
167.
‘‘Yasmā ca vassatī devo, himañcānuphusāyati;
Tasmā sassāni paccanti, raṭṭhañca pālite † ciraṃ.
And because the heavens send rain and frost gently falls, therefore the crops ripen and the kingdom is long protected.
Và bởi vì trời mưa, sương tuyết cũng rơi theo, cho nên mùa màng chín rộ, và quốc độ được bảo hộ lâu dài.
168.
168.
168.
‘‘Gavaṃ ce taramānānaṃ, jimhaṃ gacchati puṅgavo;
Sabbā tā jimhaṃ gacchanti, nette jimhaṃ † gate sati.
If, while a herd of cattle is crossing, the lead bull goes crookedly, they all go crookedly, the leader having gone astray.
Nếu trong đàn bò đang đi, con bò đầu đàn đi lệch lạc, thì tất cả chúng đều đi lệch lạc, khi con dẫn đầu đã đi sai đường.
169.
169.
169.
172.
172.
172.
‘‘Mahārukkhassa phalino, āmaṃ chindati yo phalaṃ;
Rasañcassa na jānāti, bījañcassa vinassati.
Whoever plucks an unripe fruit from a great fruit-bearing tree does not know its taste, and its seed is also destroyed.
Người nào hái quả xanh của một cây to sai trái, người ấy vừa không biết được vị ngon của nó, mà hạt giống của nó cũng bị hủy hoại.
173.
173.
173.
‘‘Mahārukkhūpamaṃ raṭṭhaṃ, adhammena pasāsati;
Rasañcassa na jānāti, raṭṭhañcassa vinassati.
He who rules a kingdom, which is like a great tree, unrighteously, does not know its flavor, and his kingdom is destroyed.
Vị vua nào cai trị một quốc độ ví như cây to, một cách phi pháp, vị ấy vừa không biết được hương vị của nó, mà quốc độ của vị ấy cũng bị hủy hoại.
174.
174.
174.
‘‘Mahārukkhassa phalino, pakkaṃ chindati yo phalaṃ;
Rasañcassa vijānāti, bījañcassa na nassati.
Whoever plucks the ripe fruit of a great, fruit-bearing tree knows its flavor, and its seed does not perish.
Người nào hái quả chín của một cây to sai trái, người ấy vừa biết được vị ngon của nó, mà hạt giống của nó cũng không bị hủy hoại.
175.
175.
175.
‘‘Mahārukkhūpamaṃ raṭṭhaṃ, dhammena yo pasāsati;
Rasañcassa vijānāti, raṭṭhañcassa na nassati.
He who rules a kingdom, which is like a great tree, righteously, knows its flavor, and his kingdom does not perish.
Người nào cai trị một quốc độ ví như cây to, một cách đúng pháp, người ấy vừa biết được hương vị của nó, mà quốc độ của người ấy cũng không bị hủy hoại.
176.
176.
176.
‘‘Yo ca rājā janapadaṃ, adhammena pasāsati;
Sabbosadhīhi so rājā, viruddho hoti khattiyo.
Whatever warrior king rules the country unrighteously, that king comes into conflict with all medicinal herbs.
Vị vua nào cai trị xứ sở một cách phi pháp, vị vua ấy, bậc Sát-đế-lỵ ấy, trở nên đối nghịch với tất cả các loại dược thảo.
177.
177.
177.
‘‘Tatheva negame hiṃsaṃ, ye yuttā kayavikkaye;
Ojadānabalīkāre, sa kosena virujjhati.
Likewise, by harming the townsfolk and those engaged in buying and selling, who provide sustenance and pay tribute, he comes into conflict with his treasury.
Cũng vậy, khi làm hại những người dân thị thành, những người chuyên tâm vào việc mua bán, những người đóng góp của cải và thuế khóa, vị vua ấy trở nên đối nghịch với quốc khố.
178.
178.
178.
‘‘Pahāravarakhettaññū, saṅgāme katanissame †;
Ussite hiṃsayaṃ rājā, sa balena virujjhati.
By harming the renowned who know the best fields for attack and are well-trained in battle, that king comes into conflict with his army.
Khi nhà vua làm hại những vị tướng tài, những người am tường địa thế tấn công, những người thiện chiến trên sa trường, vị vua ấy trở nên đối nghịch với quân đội của mình.
179.
179.
179.
‘‘Tatheva isayo hiṃsaṃ, saññate † brahmacāriyo †;
Adhammacārī khattiyo, so saggena virujjhati.
Likewise, an unrighteous warrior who harms the sages, the restrained and the celibate, comes into conflict with heaven.
Cũng vậy, khi làm hại các bậc ẩn sĩ, những người tự chủ, sống đời phạm hạnh; vị vua Sát-đế-lỵ hành xử phi pháp ấy trở nên đối nghịch với cõi trời.
180.
180.
180.
‘‘Yo ca rājā adhammaṭṭho, bhariyaṃ hanti adūsikaṃ;
Luddaṃ pasavate ṭhānaṃ †, puttehi ca virujjhati.
Whatever king, standing in unrighteousness, harms his innocent wife, produces a cruel destiny and comes into conflict with his sons.
Vị vua nào không an trú trong Chánh pháp, giết hại người vợ không có lỗi lầm; vị ấy tạo ra nhân tàn ác, và mâu thuẫn với các con trai.
181.
181.
181.
‘‘Dhammaṃ care jānapade, negamesu † balesu ca;
Isayo ca na hiṃseyya, puttadāre samaṃ care.
One should practice Dhamma towards the countryfolk, the townsfolk, and the armed forces. One should not harm the sages, and should act impartially towards one's wife and sons.
Nên thực hành Chánh pháp đối với dân chúng ở thôn quê, ở thị trấn, và trong quân đội; và không nên hãm hại các vị ẩn sĩ, nên đối xử bình đẳng với vợ con.
182.
182.
182.
‘‘Sa tādiso bhūmipati, raṭṭhapālo akodhano;
Sapatte † sampakampeti, indova asurādhipo’’ti.
Such a lord of the earth, a protector of the realm, free from anger, makes his enemies tremble, like Indra, the lord of the Asuras.
Vị vua như vậy, người cai quản đất đai, người bảo hộ quốc độ, không có sân hận, làm cho kẻ thù run sợ, như vua trời Inda đối với vua của các a-tu-la.
Mahābodhijātakaṃ tatiyaṃ.
The Mahābodhi Jātaka, the third.
Chuyện Bổn Sanh Mahābodhi, thứ ba.
The Book of Fifty is concluded.
Phẩm Năm Mươi Chuyện đã kết thúc.
Tassuddānaṃ –
The summary thereof:
Kệ tóm tắt của phẩm ấy –
Saniḷīnikamavhayano paṭhamo, dutiyo pana saummadantivaro;
Tatiyo pana bodhisirīvhayano, kathitā pana tīṇi jinena subhāti.
The first is named Saniḷīnika; the second, the excellent Ummadantī; and the third is named Bodhisirī. These three beautiful tales were taught by the Conqueror.
Thứ nhất là chuyện tên Nīlinikā, thứ hai là chuyện Ummadantī cao quý; thứ ba là chuyện Bodhi vẻ vang, ba chuyện tốt đẹp này đã được bậc Chiến Thắng thuyết giảng.