Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
JA 527

Bản dịch

JA 527Chuyện kỹ nữ Ummadantì (Tiền thân Ummadantì)

2 Ummādantījātaka

3382. “Này Sunanda, biệt thự này là của người nào

mà được bảo vệ bởi tường thành xây bằng gạch màu cam?

Cô nàng nào được nhìn thấy từ đàng xa tựa như ngọn lửa,

tựa như đống lửa trên đỉnh ngọn núi ở giữa không trung?

3383. Này Sunanda, cô này là con gái của ai?

Cô này là con dâu của ai, rồi là vợ của ai nữa?

Được hỏi, khanh hãy mau mau trả lời cho ta, ngay tại đây,

nàng còn chưa được cưới hỏi, hay là đã có chồng?”

3384. “Tâu vị chúa của loài người, thần quả có biết về cô này,

về bên mẹ và về bên cha, rồi luôn cả người chồng của cô ấy.

Tâu đấng hộ quốc, người đàn ông ấy là thuộc về chính bệ hạ,

ngày đêm không xao lãng đối với phúc lợi của bệ hạ.

3385. (Người ấy) giàu có, dư dả, vô cùng phát đạt.

và là một vị quan đại thần của bệ hạ, tâu vị chúa của loài người.

Nàng ấy là người vợ của vị Ahipāraka ấy,

với tên gọi là ‘Cô gái làm cho điên cuồng,’ tâu bệ hạ.”

3386. “Trời! Trời! Cái tên này dành cho nàng này

đã được mẹ và cha tạo ra thật khéo léo!

Bởi vì đối với trẫm là như thế ấy, trong khi nhìn trẫm,

nàng Ummadantī đã làm cho trẫm trở thành kẻ điên cuồng.

3387. Nàng ấy, vào đêm trăng tròn, có cặp mắt ngơ ngác của loài nai,

đã ngồi ở bên cửa sổ, có làn da và cơ thể màu hoa sen trắng.

Sau khi nhìn thấy nàng mặc y phục màu đỏ tựa như chân chim bồ câu,

trẫm nghĩ rằng đã có hai mặt trăng tròn.

3388. Vào lúc nàng ngước nhìn lên, nàng khiến cho trẫm say đắm bởi hàng lông mi dài, xinh đẹp, dễ thương. Trong lúc nghiêng người (ném bông hoa), nàng chiếm lấy tâm trí của trẫm, tựa như loài nhân điểu cái sanh ra ở trong khu rừng, ở nơi núi non (thu hút nhân điểu đực).

3389. Bởi vì vào lúc ấy, người phụ nữ quý phái, có màu da màu hoàng kim, có bông tai bằng ngọc trai và ngọc ma-ni, có trang phục chỉ một tấm vải, tựa như con nai cái ngước nhìn lên trong lúc đang đi quanh quẩn.

3390. Vậy thì khi nào thì người phụ nữ xinh đẹp đến tận đỉnh đầu, có móng tay màu đồng đỏ, có mái tóc đẹp, có hai cánh tay mềm mại, được thoa tinh chất trầm hương, có các ngón tay tròn trịa, có các cử chỉ khôn khéo đã được tính toán, sẽ đoái hoài đến trẫm?

3391. Vậy thì khi nào thì người con gái có tấm lưới bằng vàng che ở ngực, có làn eo thon của (gia tộc) Tirīṭi, sẽ ôm chặt lấy trẫm bằng hai cánh tay mềm mại, tựa như loài dây leo māluvā quấn chặt lấy thân cây mọc lên ở khu rừng bao la?

3392. Vậy thì khi nào người phụ nữ có làn da đẹp hồng hào với màu cánh kiến, có bầu ngực tròn, có làn da và cơ thể màu hoa sen trắng, sẽ mặt đối mặt dâng lên chén rượu, tựa như kẻ say sưa đối với kẻ say sưa?

3393. Vào lúc trẫm nhìn thấy nàng ấy, với toàn bộ cơ thể làm thích ý, đang đứng, từ khi ấy, trẫm không còn nhận biết bất cứ người nào ở trong tâm của mình nữa.

3394. (Từ khi) trẫm nhìn thấy nàng Ummādantī có bông tai bằng ngọc trai và ngọc ma-ni, trẫm không ngủ ban ngày và ban đêm, tựa như kẻ đã bị đánh bại một ngàn lần.

3395. Nếu Thiên Chủ Sakka ban cho trẫm điều ước muốn, và điều ước muốn ấy có thể đạt được bởi trẫm. Trẫm (ước muốn) có thể trở thành Ahipāraka một đêm hoặc hai đêm, sau khi vui sướng cùng Ummādantī rồi lại trở thành vua xứ Sivi.”

3396. “Tâu vị chúa tể của muôn dân, lúc thần đang lễ bái các thần linh,

có vị Dạ-xoa đi đến và đã nói điều này như vầy:

‘Tâm trí của đức vua đã bị vương vấn với Ummadantī.’

Thần dâng nàng Ummadantī đến bệ hạ. Bệ hạ hãy bảo nàng ấy hầu hạ.”

3397. “Trẫm sẽ hủy hoại các phước báu, và trẫm không phải là người. Loài người có thể biết về điều xấu xa này của trẫm. Và có thể có nhiều sự khó chịu ở tâm trí của khanh do không được nhìn thấy nàng, sau khi đã dâng hiến nàng Ummadantī yêu quý.”

3398. “Tâu vị chúa của loài người, ngoại trừ bệ hạ và hạ thần, tất cả mọi người đều không thể nào biết về hành động đã được làm. Bởi vì nàng Ummadantī đã được thần dâng đến bệ hạ, tâu bệ hạ, xin bệ hạ hãy tận hưởng thú yêu đương, rồi hoàn trả lại (nàng cho hạ thần).”

3399. “Kẻ nào là người có làm hành động xấu xa, kẻ ấy nghĩ rằng: ‘Mong rằng những người khác đừng biết về việc này của ta.’ Các thần linh và những hạng người nào ở trái đất được gắn bó với thần thông thì nhìn thấy kẻ làm việc ấy.”

3400. “Có người đàn ông nào khác ở trên trái đất, ở trên thế gian, có thể tin được lời của khanh rằng: ‘Ummadantī không được tôi yêu mến’? Và có thể có nhiều sự khó chịu ở tâm trí của khanh do không được nhìn thấy nàng, sau khi đã dâng hiến nàng Ummadantī yêu quý.”

3401. “Nàng ấy quả thật là người yêu quý của thần, tâu vị chúa của loài người. Nàng ấy không phải là không được thần yêu quý, tâu đấng hộ quốc. Bệ hạ hãy đi đến với Ummadantī, thưa bậc đáng tôn kính, tựa như con sư tử đực đi đến hang của con sư tử cái.”

3402. “Không vì bị hành hạ bởi sự khổ đau của bản thân,

mà các bậc sáng trí buông bỏ việc làm có quả báo an lạc.

Dầu cho bị hoàn toàn mê muội, hoặc bị đắm say hạnh phúc,

các vị vẫn không thực hiện hành động xấu xa.”

3403. “Bởi vì bệ hạ là người mẹ và là người cha của hạ thần,

là người chồng, là chủ nhân, là người nuôi dưỡng, và là vị Thiên thần.

Hạ thần cùng với vợ con đều là tôi tớ của bệ hạ.

Tâu Sibba, xin bệ hạ hãy hưởng dụng dục lạc một cách thoải mái.”

3404. “Kẻ nào (nghĩ rằng): ‘Ta là chúa tể’ rồi làm việc ác,

và sau khi làm xong, kẻ ấy không tỏ ra hối lỗi đối với những người khác.

Do điều ấy, kẻ ấy không sống cuộc sống dài lâu.

Ngay cả chư Thiên cũng nhìn kẻ ấy với ánh mắt xấu xa.”

3405. “Khi các chủ nhân biếu tặng vật ngoại thân

và những người đã trú vào thiện pháp tiếp nhận vật thí,

trong trường hợp ấy, người nhận lãnh và luôn cả người bố thí

đều thực hiện việc làm có quả báo an lạc.”

3406. “Có người đàn ông nào khác ở trên trái đất, ở trên thế gian, có thể tin được lời của khanh rằng: ‘Ummadantī không được tôi yêu mến’? Và có thể có nhiều sự khó chịu ở tâm trí của khanh do không được nhìn thấy nàng, sau khi đã dâng hiến nàng Ummadantī yêu quý.”

3407. “Nàng ấy quả thật là người yêu quý của thần, tâu vị chúa của loài người. Nàng ấy không phải là không được thần yêu quý, tâu đấng hộ quốc. Bởi vì nàng Ummadantī đã được thần dâng đến bệ hạ, tâu bệ hạ, xin bệ hạ hãy tận hưởng thú yêu đương, rồi hoàn trả lại (nàng cho hạ thần).”

3408. “Kẻ nào tạo ra khổ đau cho người khác bằng khổ đau của mình, hoặc tạo ra hạnh phúc cho mình bằng hạnh phúc của người khác, (nghĩ rằng): ‘Việc này đối với ta y như thế nào thì đối với những người khác là như vậy;’ người nào biết như vậy, người ấy hiểu biết về đạo đức.”

3409. “Có người đàn ông nào khác ở trên trái đất, ở trên thế gian, có thể tin được lời của khanh rằng: ‘Ummadantī không được tôi yêu mến’? Và có thể có nhiều sự khó chịu ở tâm trí của khanh do không được nhìn thấy nàng, sau khi đã dâng hiến nàng Ummadantī yêu quý.”

3410. “Tâu vị chúa của loài người, bệ hạ biết rằng nàng ấy là người yêu quý của thần. Tâu đấng hộ quốc, nàng ấy không phải là không được thần yêu quý. Tâu vị chúa của loài người, thần dâng hiến vật yêu quý đến bệ hạ vì lòng yêu quý. Tâu bệ hạ, những người bố thí vật yêu quý đạt được vật yêu quý.”

3411. “Không lẽ trẫm đây sẽ hủy hoại bản thân vì nguyên nhân dục vọng! Trẫm không bao giờ ra sức để hủy hoại đạo đức bởi điều phi đạo đức.”

3412. “Tâu vị chúa của loài người, nếu bệ hạ nghĩ rằng nàng đang thuộc về hạ thần, tâu vị dũng sĩ hạng nhất ở loài người, nên bệ hạ không ham muốn nàng. Tâu Sibba, hãy để thần xả bỏ nàng ấy đến tất cả mọi người. Khi nàng đã được thần trả tự do, sau đó, bệ hạ hãy đưa nàng đi.”

3413. “Này Ahipāraka, nếu nàng không có lỗi lầm mà khanh

bỏ rơi nàng khi không còn lợi ích đối với khanh, này người có công lao,

có thể có sự chỉ trích lớn đối với khanh,

và thậm chí dư luận ở thành phố có thể không thuộc về khanh.”

3414. “Thần sẽ chịu đựng sự chỉ trích ấy,

sự chê bai, sự khen ngợi, và mọi sự khiển trách.

Tâu đấng hộ quốc, hãy để việc ấy xảy đến với thần.

Tâu Sibba, xin bệ hạ hãy hưởng dụng dục lạc một cách thoải mái.”

3415. “Kẻ nào không quan tâm đến sự chê bai, rồi sự khen ngợi, và sự khiển trách, luôn cả sự dâng cúng, thì vinh quang và sự may mắn rời xa kẻ ấy, giống như nước từ cơn mưa lớn rời khỏi mặt đất.”

3416. “Bất cứ khổ đau hay hạnh phúc nào từ việc này,

và sự vượt qua lề thói đạo đức có sự khó chịu ở tâm trí,

thần sẽ ưỡn ngực đón nhận tất cả,

giống như trái đất đối với mọi thứ, bất động và cử động.”

3417. “Sự vượt qua lề thói đạo đức có sự khó chịu ở tâm trí,

và trẫm không muốn những người khác có sự khổ đau.

Một mình trẫm sẽ vượt qua gánh nặng này,

người đã trú vào thiện pháp không bỏ quên bất cứ một ai.”

3418. “Tâu vị chúa của loài người, việc làm phước đưa đến cõi Trời.

Xin bệ hạ chớ gây chướng ngại cho thần.

Được tịnh tín, thần dâng nàng Ummadantī đến bệ hạ,

tựa như vị vua dâng vật hiến cúng là tài sản đến các vị Bà-la-môn.”

3419. “Này quan đại thần, quả thật khanh là người có lợi ích cho trẫm.

Nàng Ummadantī và khanh là bằng hữu của trẫm.

Chư Thiên, các vị Phạm Thiên, và tất cả cư dân sẽ chê bai,

trong khi nhìn thấy sự xấu xa trong ngày vị lai.”

3420. “Tâu đức vua Sivi, tất cả dân chúng có cả các thị dân không có thể nói rằng: ‘Việc ấy không phải là phi đạo đức.’ Bởi vì nàng Ummadantī đã được thần dâng đến bệ hạ, tâu bệ hạ, xin bệ hạ hãy tận hưởng thú yêu đương, rồi hoàn trả lại (nàng cho hạ thần).”

3421. “Này người có công lao, quả thật khanh là người có lợi ích cho trẫm.

Nàng Ummadantī và khanh là bằng hữu của trẫm.

Các lời giáo huấn của các bậc thiện nhân đã khéo được thuyết giảng

là không thể vi phạm, tựa như bờ biển là không thể được qua.”

3422. “Bệ hạ có sự quan tâm đến điều tốt đẹp, là xứng đáng với sự hiến cúng của thần. Bệ hạ là người nâng đỡ, là người bảo quản, và là người ngự trị các dục. Tâu bệ hạ, các vật đã được dâng hiến đến bệ hạ chắc chắn có quả báo lớn lao. Xin bệ hạ hãy tiếp nhận nàng Ummadantī theo ước muốn của thần.”

3423. “Này Ahipāraka, quả thật khanh đã thực hành mọi phận sự đối với trẫm. Này người con trai của vị quan đại thần, vậy ngoài khanh ra, có con người hai chân nào khác là người tạo ra sự bình yên ở nơi này, ở thế gian của cuộc sống, từ lúc rạng đông?”

3424. “Bệ hạ là hạng nhất, bệ hạ là vô thượng.

Bệ hạ là người bảo vệ đạo lý, là người thông hiểu đạo lý, là bậc thiện trí.

Cầu cho người bảo vệ đạo lý ấy sống thật dài lâu.

Tâu vị hộ trì đạo lý, xin bệ hạ hãy giảng giải đạo lý cho thần.”

3425. “Này Ahipāraka, giờ khanh hãy lắng nghe lời nói của trẫm. Trẫm sẽ giảng giải cho khanh về đạo lý đã được các bậc thiện nhân thực hành.

3426. Tốt đẹp thay vị vua vui thích ở thiện pháp! Tốt đẹp thay con người có trí tuệ! Tốt đẹp thay kẻ không phản bội bạn bè! Không làm điều ác là hạnh phúc.

3427. Ở lãnh địa của vị vua không có sự giận dữ, có công lý đã được thiết lập, loài người có thể sinh sống hạnh phúc trong bóng mát (của thân quyến) ở căn nhà của mình.

3428. Không xem xét mà đã thực hiện hành động là không tốt đẹp. Và trẫm không hứng thú về việc ấy. Chỉ những người nào sau khi đã biết thì tự mình hành động. Khanh hãy lắng nghe ví dụ này của trẫm.

3429. Trong khi bầy bò đang vượt qua sông, nếu con bò đực đi quanh co, tất cả các con bò cái sẽ đi quanh co khi con bò dẫn đường đi quanh co.

3430. Tương tự y như thế ở loài người, nếu người được phong làm thủ lãnh thực hành không đúng pháp, không phải đề cập đến những người khác, toàn bộ đất nước sẽ bị lầm than nếu đức vua là kẻ không công minh.

3431. Trong khi bầy bò đang vượt qua sông, nếu con bò đực đi ngay thẳng, tất cả các con bò cái sẽ đi ngay thẳng khi con bò dẫn đường đi ngay thẳng.

3432. Tương tự y như thế ở loài người, nếu người được phong làm thủ lãnh thực hành đúng pháp, không phải đề cập đến những người khác, toàn bộ đất nước sẽ được hạnh phúc nếu đức vua là người công minh.

3433. Và trẫm cũng không ước nguyện bản thể Thiên nhân một cách phi pháp, hay là để chiến thắng toàn bộ trái đất này, này Ahipāraka.

3434. Bởi vì bất cứ vật gì quý báu ở giữa loài người được tìm thấy ở nơi này: như là trâu bò, nô lệ, vàng, vải vóc, trầm hương màu vàng,–

3435. –ngựa, phụ nữ, bảo vật, vòng ngọc, và luôn cả nơi nào mà mặt trời và mặt trăng (chiếu sáng) bảo hộ cho trẫm, nhưng không vì nguyên nhân của việc ấy mà trẫm hành xử không công bằng, bởi vì trẫm là quý tộc, được sanh ra ở trong dòng tộc Sivi.

3436. Là bậc lãnh đạo, người cha, người nổi bật, đấng hộ trì đất nước,

trong lúc tôn kính truyền thống của người dân Sivi,

trong lúc suy xét về chính truyền thống ấy, trẫm đây.

do đó, không thể hành động theo sự tác động của tâm mình.”

3437. “Tâu đại vương, đúng vậy, bệ hạ sẽ cai trị vương quốc lâu dài, vĩnh viễn, không bị suy sụp, an toàn, bởi vì trí tuệ của bệ hạ là như thế ấy.

3438. Thần tùy hỷ với điều ấy của bệ hạ, về việc bệ hạ không xao lãng truyền thống. Sau khi xao lãng truyền thống, vị Sát-đế-lỵ, vị chúa tể đánh mất ngôi vị.

3439. Tâu đại vương, hãy hành xử đúng pháp đối với mẹ cha, tâu vị Sát-đế-lỵ. Sau khi hành thiện pháp ở nơi này, tâu bệ hạ, bệ hạ sẽ đi đến cõi Trời.

3440. Tâu đại vương, hãy hành xử đúng pháp đối với vợ con, tâu vị Sát-đế-lỵ. Sau khi hành thiện pháp ở nơi này, tâu bệ hạ, bệ hạ sẽ đi đến cõi Trời.

3441. Tâu đại vương, hãy hành xử đúng pháp đối với bạn bè và đồng nghiệp, tâu vị Sát-đế-lỵ. Sau khi hành thiện pháp ở nơi này, tâu bệ hạ, bệ hạ sẽ đi đến cõi Trời.

3442. Tâu đại vương, hãy hành xử đúng pháp đối với các đội xe và các đoàn quân, tâu vị Sát-đế-lỵ. Sau khi hành thiện pháp ở nơi này, tâu bệ hạ, bệ hạ sẽ đi đến cõi Trời.

3443. Tâu đại vương, hãy hành xử đúng pháp đối với các làng mạc và các thị trấn, tâu vị Sát-đế-lỵ. Sau khi hành thiện pháp ở nơi này, tâu bệ hạ, bệ hạ sẽ đi đến cõi Trời.

3444. Tâu đại vương, hãy hành xử đúng pháp đối với các quốc độ và các xứ sở, tâu vị Sát-đế-lỵ. Sau khi hành thiện pháp ở nơi này, tâu bệ hạ, bệ hạ sẽ đi đến cõi Trời.

3445. Tâu đại vương, hãy hành xử đúng pháp đối với các vị Sa-môn và Bà-la-môn, tâu vị Sát-đế-lỵ. Sau khi hành thiện pháp ở nơi này, tâu bệ hạ, bệ hạ sẽ đi đến cõi Trời.

3446. Tâu đại vương, hãy hành xử đúng pháp đối với các loài thú và chim chóc, tâu vị Sát-đế-lỵ. Sau khi hành thiện pháp ở nơi này, tâu bệ hạ, bệ hạ sẽ đi đến cõi Trời.

3447. Tâu đại vương, hãy hành xử đúng pháp. Thiện pháp được thực hành là nguồn dem lại sự an lạc, tâu vị Sát-đế-lỵ. Sau khi hành thiện pháp ở nơi này, tâu bệ hạ, bệ hạ sẽ đi đến cõi Trời.

3448. Tâu đại vương, hãy hành xử đúng pháp. Chư Thiên, với Thiên chủ Đế Thích, với các Phạm Thiên, đã đạt được Thiên cung do đã khéo thực thành. Tâu bệ hạ, chớ có sự xao lãng thiện pháp.”