Bản dịch
JA 527 — Chuyện kỹ nữ Ummadantì (Tiền thân Ummadantì)
2 Ummādantījātaka
3382. “Này Sunanda, biệt thự này là của người nào
mà được bảo vệ bởi tường thành xây bằng gạch màu cam?
Cô nàng nào được nhìn thấy từ đàng xa tựa như ngọn lửa,
tựa như đống lửa trên đỉnh ngọn núi ở giữa không trung?
3383. Này Sunanda, cô này là con gái của ai?
Cô này là con dâu của ai, rồi là vợ của ai nữa?
Được hỏi, khanh hãy mau mau trả lời cho ta, ngay tại đây,
nàng còn chưa được cưới hỏi, hay là đã có chồng?”
3384. “Tâu vị chúa của loài người, thần quả có biết về cô này,
về bên mẹ và về bên cha, rồi luôn cả người chồng của cô ấy.
Tâu đấng hộ quốc, người đàn ông ấy là thuộc về chính bệ hạ,
ngày đêm không xao lãng đối với phúc lợi của bệ hạ.
3385. (Người ấy) giàu có, dư dả, vô cùng phát đạt.
và là một vị quan đại thần của bệ hạ, tâu vị chúa của loài người.
Nàng ấy là người vợ của vị Ahipāraka ấy,
với tên gọi là ‘Cô gái làm cho điên cuồng,’ tâu bệ hạ.”
3386. “Trời! Trời! Cái tên này dành cho nàng này
đã được mẹ và cha tạo ra thật khéo léo!
Bởi vì đối với trẫm là như thế ấy, trong khi nhìn trẫm,
nàng Ummadantī đã làm cho trẫm trở thành kẻ điên cuồng.
3387. Nàng ấy, vào đêm trăng tròn, có cặp mắt ngơ ngác của loài nai,
đã ngồi ở bên cửa sổ, có làn da và cơ thể màu hoa sen trắng.
Sau khi nhìn thấy nàng mặc y phục màu đỏ tựa như chân chim bồ câu,
trẫm nghĩ rằng đã có hai mặt trăng tròn.
3388. Vào lúc nàng ngước nhìn lên, nàng khiến cho trẫm say đắm bởi hàng lông mi dài, xinh đẹp, dễ thương. Trong lúc nghiêng người (ném bông hoa), nàng chiếm lấy tâm trí của trẫm, tựa như loài nhân điểu cái sanh ra ở trong khu rừng, ở nơi núi non (thu hút nhân điểu đực).
3389. Bởi vì vào lúc ấy, người phụ nữ quý phái, có màu da màu hoàng kim, có bông tai bằng ngọc trai và ngọc ma-ni, có trang phục chỉ một tấm vải, tựa như con nai cái ngước nhìn lên trong lúc đang đi quanh quẩn.
3390. Vậy thì khi nào thì người phụ nữ xinh đẹp đến tận đỉnh đầu, có móng tay màu đồng đỏ, có mái tóc đẹp, có hai cánh tay mềm mại, được thoa tinh chất trầm hương, có các ngón tay tròn trịa, có các cử chỉ khôn khéo đã được tính toán, sẽ đoái hoài đến trẫm?
3391. Vậy thì khi nào thì người con gái có tấm lưới bằng vàng che ở ngực, có làn eo thon của (gia tộc) Tirīṭi, sẽ ôm chặt lấy trẫm bằng hai cánh tay mềm mại, tựa như loài dây leo māluvā quấn chặt lấy thân cây mọc lên ở khu rừng bao la?
3392. Vậy thì khi nào người phụ nữ có làn da đẹp hồng hào với màu cánh kiến, có bầu ngực tròn, có làn da và cơ thể màu hoa sen trắng, sẽ mặt đối mặt dâng lên chén rượu, tựa như kẻ say sưa đối với kẻ say sưa?
3393. Vào lúc trẫm nhìn thấy nàng ấy, với toàn bộ cơ thể làm thích ý, đang đứng, từ khi ấy, trẫm không còn nhận biết bất cứ người nào ở trong tâm của mình nữa.
3394. (Từ khi) trẫm nhìn thấy nàng Ummādantī có bông tai bằng ngọc trai và ngọc ma-ni, trẫm không ngủ ban ngày và ban đêm, tựa như kẻ đã bị đánh bại một ngàn lần.
3395. Nếu Thiên Chủ Sakka ban cho trẫm điều ước muốn, và điều ước muốn ấy có thể đạt được bởi trẫm. Trẫm (ước muốn) có thể trở thành Ahipāraka một đêm hoặc hai đêm, sau khi vui sướng cùng Ummādantī rồi lại trở thành vua xứ Sivi.”
3396. “Tâu vị chúa tể của muôn dân, lúc thần đang lễ bái các thần linh,
có vị Dạ-xoa đi đến và đã nói điều này như vầy:
‘Tâm trí của đức vua đã bị vương vấn với Ummadantī.’
Thần dâng nàng Ummadantī đến bệ hạ. Bệ hạ hãy bảo nàng ấy hầu hạ.”
3397. “Trẫm sẽ hủy hoại các phước báu, và trẫm không phải là người. Loài người có thể biết về điều xấu xa này của trẫm. Và có thể có nhiều sự khó chịu ở tâm trí của khanh do không được nhìn thấy nàng, sau khi đã dâng hiến nàng Ummadantī yêu quý.”
3398. “Tâu vị chúa của loài người, ngoại trừ bệ hạ và hạ thần, tất cả mọi người đều không thể nào biết về hành động đã được làm. Bởi vì nàng Ummadantī đã được thần dâng đến bệ hạ, tâu bệ hạ, xin bệ hạ hãy tận hưởng thú yêu đương, rồi hoàn trả lại (nàng cho hạ thần).”
3399. “Kẻ nào là người có làm hành động xấu xa, kẻ ấy nghĩ rằng: ‘Mong rằng những người khác đừng biết về việc này của ta.’ Các thần linh và những hạng người nào ở trái đất được gắn bó với thần thông thì nhìn thấy kẻ làm việc ấy.”
3400. “Có người đàn ông nào khác ở trên trái đất, ở trên thế gian, có thể tin được lời của khanh rằng: ‘Ummadantī không được tôi yêu mến’? Và có thể có nhiều sự khó chịu ở tâm trí của khanh do không được nhìn thấy nàng, sau khi đã dâng hiến nàng Ummadantī yêu quý.”
3401. “Nàng ấy quả thật là người yêu quý của thần, tâu vị chúa của loài người. Nàng ấy không phải là không được thần yêu quý, tâu đấng hộ quốc. Bệ hạ hãy đi đến với Ummadantī, thưa bậc đáng tôn kính, tựa như con sư tử đực đi đến hang của con sư tử cái.”
3402. “Không vì bị hành hạ bởi sự khổ đau của bản thân,
mà các bậc sáng trí buông bỏ việc làm có quả báo an lạc.
Dầu cho bị hoàn toàn mê muội, hoặc bị đắm say hạnh phúc,
các vị vẫn không thực hiện hành động xấu xa.”
3403. “Bởi vì bệ hạ là người mẹ và là người cha của hạ thần,
là người chồng, là chủ nhân, là người nuôi dưỡng, và là vị Thiên thần.
Hạ thần cùng với vợ con đều là tôi tớ của bệ hạ.
Tâu Sibba, xin bệ hạ hãy hưởng dụng dục lạc một cách thoải mái.”
3404. “Kẻ nào (nghĩ rằng): ‘Ta là chúa tể’ rồi làm việc ác,
và sau khi làm xong, kẻ ấy không tỏ ra hối lỗi đối với những người khác.
Do điều ấy, kẻ ấy không sống cuộc sống dài lâu.
Ngay cả chư Thiên cũng nhìn kẻ ấy với ánh mắt xấu xa.”
3405. “Khi các chủ nhân biếu tặng vật ngoại thân
và những người đã trú vào thiện pháp tiếp nhận vật thí,
trong trường hợp ấy, người nhận lãnh và luôn cả người bố thí
đều thực hiện việc làm có quả báo an lạc.”
3406. “Có người đàn ông nào khác ở trên trái đất, ở trên thế gian, có thể tin được lời của khanh rằng: ‘Ummadantī không được tôi yêu mến’? Và có thể có nhiều sự khó chịu ở tâm trí của khanh do không được nhìn thấy nàng, sau khi đã dâng hiến nàng Ummadantī yêu quý.”
3407. “Nàng ấy quả thật là người yêu quý của thần, tâu vị chúa của loài người. Nàng ấy không phải là không được thần yêu quý, tâu đấng hộ quốc. Bởi vì nàng Ummadantī đã được thần dâng đến bệ hạ, tâu bệ hạ, xin bệ hạ hãy tận hưởng thú yêu đương, rồi hoàn trả lại (nàng cho hạ thần).”
3408. “Kẻ nào tạo ra khổ đau cho người khác bằng khổ đau của mình, hoặc tạo ra hạnh phúc cho mình bằng hạnh phúc của người khác, (nghĩ rằng): ‘Việc này đối với ta y như thế nào thì đối với những người khác là như vậy;’ người nào biết như vậy, người ấy hiểu biết về đạo đức.”
3409. “Có người đàn ông nào khác ở trên trái đất, ở trên thế gian, có thể tin được lời của khanh rằng: ‘Ummadantī không được tôi yêu mến’? Và có thể có nhiều sự khó chịu ở tâm trí của khanh do không được nhìn thấy nàng, sau khi đã dâng hiến nàng Ummadantī yêu quý.”
3410. “Tâu vị chúa của loài người, bệ hạ biết rằng nàng ấy là người yêu quý của thần. Tâu đấng hộ quốc, nàng ấy không phải là không được thần yêu quý. Tâu vị chúa của loài người, thần dâng hiến vật yêu quý đến bệ hạ vì lòng yêu quý. Tâu bệ hạ, những người bố thí vật yêu quý đạt được vật yêu quý.”
3411. “Không lẽ trẫm đây sẽ hủy hoại bản thân vì nguyên nhân dục vọng! Trẫm không bao giờ ra sức để hủy hoại đạo đức bởi điều phi đạo đức.”
3412. “Tâu vị chúa của loài người, nếu bệ hạ nghĩ rằng nàng đang thuộc về hạ thần, tâu vị dũng sĩ hạng nhất ở loài người, nên bệ hạ không ham muốn nàng. Tâu Sibba, hãy để thần xả bỏ nàng ấy đến tất cả mọi người. Khi nàng đã được thần trả tự do, sau đó, bệ hạ hãy đưa nàng đi.”
3413. “Này Ahipāraka, nếu nàng không có lỗi lầm mà khanh
bỏ rơi nàng khi không còn lợi ích đối với khanh, này người có công lao,
có thể có sự chỉ trích lớn đối với khanh,
và thậm chí dư luận ở thành phố có thể không thuộc về khanh.”
3414. “Thần sẽ chịu đựng sự chỉ trích ấy,
sự chê bai, sự khen ngợi, và mọi sự khiển trách.
Tâu đấng hộ quốc, hãy để việc ấy xảy đến với thần.
Tâu Sibba, xin bệ hạ hãy hưởng dụng dục lạc một cách thoải mái.”
3415. “Kẻ nào không quan tâm đến sự chê bai, rồi sự khen ngợi, và sự khiển trách, luôn cả sự dâng cúng, thì vinh quang và sự may mắn rời xa kẻ ấy, giống như nước từ cơn mưa lớn rời khỏi mặt đất.”
3416. “Bất cứ khổ đau hay hạnh phúc nào từ việc này,
và sự vượt qua lề thói đạo đức có sự khó chịu ở tâm trí,
thần sẽ ưỡn ngực đón nhận tất cả,
giống như trái đất đối với mọi thứ, bất động và cử động.”
3417. “Sự vượt qua lề thói đạo đức có sự khó chịu ở tâm trí,
và trẫm không muốn những người khác có sự khổ đau.
Một mình trẫm sẽ vượt qua gánh nặng này,
người đã trú vào thiện pháp không bỏ quên bất cứ một ai.”
3418. “Tâu vị chúa của loài người, việc làm phước đưa đến cõi Trời.
Xin bệ hạ chớ gây chướng ngại cho thần.
Được tịnh tín, thần dâng nàng Ummadantī đến bệ hạ,
tựa như vị vua dâng vật hiến cúng là tài sản đến các vị Bà-la-môn.”
3419. “Này quan đại thần, quả thật khanh là người có lợi ích cho trẫm.
Nàng Ummadantī và khanh là bằng hữu của trẫm.
Chư Thiên, các vị Phạm Thiên, và tất cả cư dân sẽ chê bai,
trong khi nhìn thấy sự xấu xa trong ngày vị lai.”
3420. “Tâu đức vua Sivi, tất cả dân chúng có cả các thị dân không có thể nói rằng: ‘Việc ấy không phải là phi đạo đức.’ Bởi vì nàng Ummadantī đã được thần dâng đến bệ hạ, tâu bệ hạ, xin bệ hạ hãy tận hưởng thú yêu đương, rồi hoàn trả lại (nàng cho hạ thần).”
3421. “Này người có công lao, quả thật khanh là người có lợi ích cho trẫm.
Nàng Ummadantī và khanh là bằng hữu của trẫm.
Các lời giáo huấn của các bậc thiện nhân đã khéo được thuyết giảng
là không thể vi phạm, tựa như bờ biển là không thể được qua.”
3422. “Bệ hạ có sự quan tâm đến điều tốt đẹp, là xứng đáng với sự hiến cúng của thần. Bệ hạ là người nâng đỡ, là người bảo quản, và là người ngự trị các dục. Tâu bệ hạ, các vật đã được dâng hiến đến bệ hạ chắc chắn có quả báo lớn lao. Xin bệ hạ hãy tiếp nhận nàng Ummadantī theo ước muốn của thần.”
3423. “Này Ahipāraka, quả thật khanh đã thực hành mọi phận sự đối với trẫm. Này người con trai của vị quan đại thần, vậy ngoài khanh ra, có con người hai chân nào khác là người tạo ra sự bình yên ở nơi này, ở thế gian của cuộc sống, từ lúc rạng đông?”
3424. “Bệ hạ là hạng nhất, bệ hạ là vô thượng.
Bệ hạ là người bảo vệ đạo lý, là người thông hiểu đạo lý, là bậc thiện trí.
Cầu cho người bảo vệ đạo lý ấy sống thật dài lâu.
Tâu vị hộ trì đạo lý, xin bệ hạ hãy giảng giải đạo lý cho thần.”
3425. “Này Ahipāraka, giờ khanh hãy lắng nghe lời nói của trẫm. Trẫm sẽ giảng giải cho khanh về đạo lý đã được các bậc thiện nhân thực hành.
3426. Tốt đẹp thay vị vua vui thích ở thiện pháp! Tốt đẹp thay con người có trí tuệ! Tốt đẹp thay kẻ không phản bội bạn bè! Không làm điều ác là hạnh phúc.
3427. Ở lãnh địa của vị vua không có sự giận dữ, có công lý đã được thiết lập, loài người có thể sinh sống hạnh phúc trong bóng mát (của thân quyến) ở căn nhà của mình.
3428. Không xem xét mà đã thực hiện hành động là không tốt đẹp. Và trẫm không hứng thú về việc ấy. Chỉ những người nào sau khi đã biết thì tự mình hành động. Khanh hãy lắng nghe ví dụ này của trẫm.
3429. Trong khi bầy bò đang vượt qua sông, nếu con bò đực đi quanh co, tất cả các con bò cái sẽ đi quanh co khi con bò dẫn đường đi quanh co.
3430. Tương tự y như thế ở loài người, nếu người được phong làm thủ lãnh thực hành không đúng pháp, không phải đề cập đến những người khác, toàn bộ đất nước sẽ bị lầm than nếu đức vua là kẻ không công minh.
3431. Trong khi bầy bò đang vượt qua sông, nếu con bò đực đi ngay thẳng, tất cả các con bò cái sẽ đi ngay thẳng khi con bò dẫn đường đi ngay thẳng.
3432. Tương tự y như thế ở loài người, nếu người được phong làm thủ lãnh thực hành đúng pháp, không phải đề cập đến những người khác, toàn bộ đất nước sẽ được hạnh phúc nếu đức vua là người công minh.
3433. Và trẫm cũng không ước nguyện bản thể Thiên nhân một cách phi pháp, hay là để chiến thắng toàn bộ trái đất này, này Ahipāraka.
3434. Bởi vì bất cứ vật gì quý báu ở giữa loài người được tìm thấy ở nơi này: như là trâu bò, nô lệ, vàng, vải vóc, trầm hương màu vàng,–
3435. –ngựa, phụ nữ, bảo vật, vòng ngọc, và luôn cả nơi nào mà mặt trời và mặt trăng (chiếu sáng) bảo hộ cho trẫm, nhưng không vì nguyên nhân của việc ấy mà trẫm hành xử không công bằng, bởi vì trẫm là quý tộc, được sanh ra ở trong dòng tộc Sivi.
3436. Là bậc lãnh đạo, người cha, người nổi bật, đấng hộ trì đất nước,
trong lúc tôn kính truyền thống của người dân Sivi,
trong lúc suy xét về chính truyền thống ấy, trẫm đây.
do đó, không thể hành động theo sự tác động của tâm mình.”
3437. “Tâu đại vương, đúng vậy, bệ hạ sẽ cai trị vương quốc lâu dài, vĩnh viễn, không bị suy sụp, an toàn, bởi vì trí tuệ của bệ hạ là như thế ấy.
3438. Thần tùy hỷ với điều ấy của bệ hạ, về việc bệ hạ không xao lãng truyền thống. Sau khi xao lãng truyền thống, vị Sát-đế-lỵ, vị chúa tể đánh mất ngôi vị.
3439. Tâu đại vương, hãy hành xử đúng pháp đối với mẹ cha, tâu vị Sát-đế-lỵ. Sau khi hành thiện pháp ở nơi này, tâu bệ hạ, bệ hạ sẽ đi đến cõi Trời.
3440. Tâu đại vương, hãy hành xử đúng pháp đối với vợ con, tâu vị Sát-đế-lỵ. Sau khi hành thiện pháp ở nơi này, tâu bệ hạ, bệ hạ sẽ đi đến cõi Trời.
3441. Tâu đại vương, hãy hành xử đúng pháp đối với bạn bè và đồng nghiệp, tâu vị Sát-đế-lỵ. Sau khi hành thiện pháp ở nơi này, tâu bệ hạ, bệ hạ sẽ đi đến cõi Trời.
3442. Tâu đại vương, hãy hành xử đúng pháp đối với các đội xe và các đoàn quân, tâu vị Sát-đế-lỵ. Sau khi hành thiện pháp ở nơi này, tâu bệ hạ, bệ hạ sẽ đi đến cõi Trời.
3443. Tâu đại vương, hãy hành xử đúng pháp đối với các làng mạc và các thị trấn, tâu vị Sát-đế-lỵ. Sau khi hành thiện pháp ở nơi này, tâu bệ hạ, bệ hạ sẽ đi đến cõi Trời.
3444. Tâu đại vương, hãy hành xử đúng pháp đối với các quốc độ và các xứ sở, tâu vị Sát-đế-lỵ. Sau khi hành thiện pháp ở nơi này, tâu bệ hạ, bệ hạ sẽ đi đến cõi Trời.
3445. Tâu đại vương, hãy hành xử đúng pháp đối với các vị Sa-môn và Bà-la-môn, tâu vị Sát-đế-lỵ. Sau khi hành thiện pháp ở nơi này, tâu bệ hạ, bệ hạ sẽ đi đến cõi Trời.
3446. Tâu đại vương, hãy hành xử đúng pháp đối với các loài thú và chim chóc, tâu vị Sát-đế-lỵ. Sau khi hành thiện pháp ở nơi này, tâu bệ hạ, bệ hạ sẽ đi đến cõi Trời.
3447. Tâu đại vương, hãy hành xử đúng pháp. Thiện pháp được thực hành là nguồn dem lại sự an lạc, tâu vị Sát-đế-lỵ. Sau khi hành thiện pháp ở nơi này, tâu bệ hạ, bệ hạ sẽ đi đến cõi Trời.
3448. Tâu đại vương, hãy hành xử đúng pháp. Chư Thiên, với Thiên chủ Đế Thích, với các Phạm Thiên, đã đạt được Thiên cung do đã khéo thực thành. Tâu bệ hạ, chớ có sự xao lãng thiện pháp.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Nivesanaṃ kassa nudaṃ sunanda, pākārena paṇḍumayena guttaṃ;
Kā dissati aggisikhāva dūre, vehāyasaṃ † pabbataggeva acci.
Whose dwelling is this, Sunanda, guarded by a pale brick wall? Who is that seen from afar like the tip of a flame, like a fire in the sky upon a mountain peak?
Này Sunanda, ngôi nhà này là của ai, được bảo vệ bởi bức tường gạch đỏ? Ai kia trông như ngọn lửa từ xa, như một ngọn lửa trên đỉnh núi giữa không trung?
58.
58.
58.
‘‘Dhītā nvayaṃ † kassa sunanda hoti, suṇisā nvayaṃ † kassa athopi bhariyā;
Akkhāhi me khippamidheva puṭṭho, avāvaṭā yadi vā atthi bhattā’’.
Whose daughter is she, Sunanda? Whose daughter-in-law, or whose wife? Being asked, tell me quickly now: is she unclaimed, or does she have a husband?
Này Sunanda, nàng là con gái của ai, là con dâu của ai, hay là vợ của ai? Khi được hỏi, hãy mau nói cho ta biết ngay tại đây, nàng có người bảo hộ hay có chồng không?
59.
59.
59.
‘‘Ahañhi jānāmi janinda etaṃ, matyā ca petyā ca athopi assā;
Taveva so puriso bhūmipāla, rattindivaṃ appamatto tavatthe.
Indeed I know her, O lord of men, through her mother and father, and I also know her husband. That man, O protector of the earth, is yours indeed, diligent day and night in your service.
Tâu Đại vương, thần biết người phụ nữ này, biết cả mẹ, cha và chồng của nàng. Tâu vị Hộ trì quốc độ, người ấy chính là người của ngài, ngày đêm không lơ là trong công việc của ngài.
60.
60.
60.
‘‘Iddho ca phīto ca suvaḍḍhito † ca, amacco ca te aññataro janinda;
Tassesā bhariyābhipārakassa †, ummādantī † nāmadheyyena rāja’’.
He is prosperous, affluent, and well-established, a certain minister of yours, O lord of men. She is the wife of that Abhipāraka, and her name, O king, is Ummādantī.
Tâu Đại vương, có một vị cận thần của ngài, giàu có, thịnh vượng, và phát đạt. Nàng là vợ của vị Abhipāraka ấy, tâu đức vua, tên là Ummādantī.
61.
61.
61.
‘‘Ambho ambho nāmamidaṃ imissā, matyā ca petyā ca kataṃ susādhu;
Tadā † hi mayhaṃ avalokayantī, ummattakaṃ ummadantī akāsi’’.
Oh, what a name is this of hers, so very well given by her mother and father! For just then, as she was looking at me, Ummādantī drove me mad.
Ôi, ôi! Cái tên này của nàng, do cha mẹ đặt, thật là hay thay! Vì khi nhìn ta, nàng Ummādantī đã làm cho ta trở nên điên cuồng.
62.
62.
62.
‘‘Yā puṇṇamāse † migamandalocanā, upāvisi puṇḍarīkattacaṅgī;
Dve puṇṇamāyo tadahū amaññahaṃ, disvāna pārāvatarattavāsiniṃ.
She with eyes like a gazelle, with limbs like white lotuses, sat there on the full moon day. Seeing her clothed in the red of a dove's feet, I thought on that day two full moons had risen.
Nàng có đôi mắt như mắt nai tơ, thân thể như hoa sen trắng, đã ngồi đó vào ngày rằm. Khi thấy nàng mặc y phục màu đỏ như chân chim bồ câu, vào ngày đó, ta đã nghĩ rằng có hai vầng trăng rằm mọc lên.
63.
63.
63.
‘‘Aḷārapamhehi subhehi vaggubhi, palobhayantī maṃ yadā udikkhati;
Vijambhamānā harateva me mano, jātā vane kimpurisīva pabbate.
When she looks up, enticing me with her curved, beautiful, lovely eyelashes, she unfolds in beauty and steals away my mind, like a kinnarī born in the mountain forest.
Khi nàng nhìn ta, quyến rũ với cặp lông mi cong vút, xinh đẹp, mỹ miều; khi nàng duyên dáng, nàng chiếm đoạt tâm ta, như nàng kinnarī sinh trong rừng trên núi.
64.
64.
64.
‘‘Tadā hi brahatī sāmā, āmuttamaṇikuṇḍalā;
Ekaccavasanā nārī, migī bhantāvudikkhati.
Then that stately, golden-hued woman, wearing jeweled earrings and a single garment, looks up like a startled doe.
Khi ấy, người phụ nữ cao quý, da màu vàng óng, đeo đôi bông tai ngọc, mặc một lớp y, nhìn ta như một con nai cái hoảng hốt.
65.
65.
65.
‘‘Kadāssu maṃ tambanakhā sulomā, bāhāmudū candanasāralittā;
Vaṭṭaṅgulī sannatadhīrakuttiyā, nārī upaññissati sīsato subhā.
When, I wonder, will that beautiful woman—with copper-red nails and fine body-hair, with soft arms anointed with sandalwood essence, with tapering fingers—when will she, with graceful and gentle demeanor, attend to me from head to toe?
Bao giờ người phụ nữ xinh đẹp, có móng tay màu đồng đỏ, lông tơ mịn màng, cánh tay mềm mại, thân thoa bột đàn hương, ngón tay tròn trịa, sẽ chăm sóc ta từ đầu với cử chỉ khéo léo, dịu dàng?
66.
66.
66.
‘‘Kadāssu maṃ kañcanajāluracchadā, dhītā tirīṭissa vilaggamajjhā;
Mudūhi bāhāhi palissajissati, brahāvane jātadumaṃva māluvā.
When will the daughter of Tirīṭi, adorned with a golden-net ornament and possessing a slender waist, embrace me with her soft arms, as a māluvā creeper embraces a noble tree in the great forest?
Bao giờ con gái của Tirīṭi, eo thon, mình trang sức tựa lưới vàng, sẽ ôm lấy ta bằng đôi cánh tay mềm mại, như dây leo māluvā quấn lấy cây hoa lài trong khu rừng lớn?
67.
67.
67.
‘‘Kadāssu † lākhārasarattasucchavī, bindutthanī puṇḍarīkattacaṅgī;
Mukhaṃ mukhena upanāmayissati, soṇḍova soṇḍassa surāya thālaṃ.
When will she, whose fair skin is reddened as if with lac-dye, whose breasts are like globules, and whose limbs are fair as the white lotus, bring her face to my face, as one drunkard offers to another a cup full of liquor?
Bao giờ người có làn da đẹp, hồng hào như nhuộm cánh kiến, đôi vú tròn như giọt nước, thân hình phủ làn da tựa hoa sen hồng, sẽ đưa mặt kề mặt với ta, như người nghiện rượu đưa chén rượu đầy cho người nghiện rượu khác?
68.
68.
68.
‘‘Yadāddasaṃ † taṃ tiṭṭhantiṃ, sabbabhaddaṃ † manoramaṃ;
Tato sakassa cittassa, nāvabodhāmi kañcinaṃ †.
Ever since I saw her standing there, wholly auspicious and delightful, I have understood nothing at all of my own mind.
Kể từ khi ta thấy nàng đứng đó, toàn vẹn mọi đức tính tốt, làm vui lòng, ta không còn biết một chút gì về tâm của chính mình nữa.
69.
69.
69.
‘‘Ummādantimahaṃ daṭṭhā †, āmuttamaṇikuṇḍalaṃ;
Na supāmi divārattiṃ, sahassaṃva parājito.
Having seen Ummādantī wearing her jeweled earrings, I cannot sleep day or night, like a gambler who has lost a thousand.
Vì đã thấy nàng Ummādantī đeo đôi bông tai ngọc, ta không ngủ được cả ngày lẫn đêm, như người thua cuộc một ngàn (đồng tiền).
70.
70.
70.
‘‘Sakko ce † me varaṃ dajjā, so ca labbhetha me varo;
Ekarattaṃ dvirattaṃ † vā, bhaveyyaṃ abhipārako;
Ummādantyā ramitvāna, sivirājā tato siyaṃ’’ †.
If Sakka were to grant me a boon, and that boon were obtainable by me, I would wish that for one night or two, I could be Abhipādaka. Having delighted with Ummādantī, I would then become King Sivi again.
Nếu vua trời Sakka ban cho ta một điều ước, và điều ước ấy có thể đạt được, ta mong được làm Abhipāraka một đêm hay hai đêm. Sau khi vui vầy với Ummādantī, ta sẽ trở lại làm vua Sivi.
71.
71.
71.
‘‘Bhūtāni me bhūtapatī namassato, āgamma yakkho idametadabravi;
Rañño mano ummadantyā niviṭṭho, dadāmi te taṃ paricārayassu’’.
As I was paying homage to the spirits and their lord, a yakkha approached and spoke thus to me: 'The king's mind is fixed upon Ummādantī.' Therefore, I give her to you; take your pleasure with her.
Khi tôi đang đảnh lễ các vị trời, một vị dạ xoa, chúa tể của các loài hữu tình, đã đến và nói với tôi lời này: 'Tâm của đức vua đã đắm chìm nơi Ummādantī. Tôi xin dâng nàng ấy cho ngài, xin ngài hãy vui hưởng'.
72.
72.
72.
‘‘Puññā vidhaṃse amaro na camhi, jano ca me pāpamidañca † jaññā;
Bhuso ca tyassa manaso vighāto, datvā piyaṃ ummadantiṃ adaṭṭhā’’.
My merit would be destroyed, and I am not immortal; the people would come to know of this evil deed of mine. Moreover, great would be the distress of your mind, having given your beloved Ummādantī and then seeing her no more.
Ta sẽ bị suy giảm phước báu, và ta cũng không phải là bất tử. Dân chúng sẽ biết việc ác này của ta. Và ngươi sẽ vô cùng đau khổ trong tâm, sau khi dâng nàng Ummādantī yêu quý mà không được thấy nàng.
73.
73.
73.
‘‘Janinda nāññatra tayā mayā vā, sabbāpi kammassa katassa jaññā;
Yaṃ te mayā ummadantī padinnā, bhusehi rājā vanathaṃ sajāhi’’.
O lord of men, no one other than you or I will know of this deed. Since Ummādantī is given to you by me, O King, indulge your desire, then let it go.
Thưa đấng nhân chủ, ngoài ngài và tôi, không một ai sẽ biết về việc đã làm này. Rằng Ummādantī đã được tôi dâng cho ngài. Thưa đức vua, xin ngài hãy thỏa mãn lòng ham muốn, rồi sau đó hãy buông bỏ.
74.
74.
74.
‘‘Yo pāpakaṃ kamma karaṃ manusso, so maññati māyida † maññiṃsu aññe;
Passanti bhūtāni karontametaṃ, yuttā ca ye honti narā pathabyā.
A person who commits an evil deed thinks, 'May others not know of this.' But spirits see him doing it, as do those men on earth who are endowed with spiritual power.
Người nào làm việc ác, người ấy nghĩ rằng: 'Mong rằng những người khác không biết việc này'. (Nhưng) các vị trời thấy người ấy đang làm việc đó, và những người có thần thông trên mặt đất cũng thấy.
75.
75.
75.
‘‘Añño nu te koci † naro pathabyā, saddheyya † lokasmi na me piyāti;
Bhuso ca tyassa manaso vighāto, datvā piyaṃ ummadantiṃ adaṭṭhā’’.
Surely no other person on earth would believe you if you claimed, 'She is not dear to me.' Moreover, great would be the distress of your mind, having given your beloved Ummādantī and then seeing her no more.
Chắc chắn không một người nào khác trên thế gian này sẽ tin rằng nàng ấy không phải là người yêu quý của ta. Và ngươi sẽ vô cùng đau khổ trong tâm, sau khi dâng nàng Ummādantī yêu quý mà không được thấy nàng.
76.
76.
76.
‘‘Addhā piyā mayha janinda esā, na sā mamaṃ appiyā bhūmipāla;
Truly, O lord of men, she is dear to me; she is not unloved by me, O protector of the land.
Thưa đấng nhân chủ, thật vậy, nàng này là người yêu quý của tôi. Thưa đấng hộ trì quốc độ, nàng ấy không phải là người không được tôi yêu quý.
Gaccheva tvaṃ ummadantiṃ bhadante, sīhova selassa guhaṃ upeti’’.
Go now to Ummādantī, Your Majesty, as a lion approaches its mountain cave.
Thưa ngài, xin ngài hãy đi đến chỗ Ummādantī, như con sư tử đi vào hang núi của nó.
77.
77.
77.
‘‘Na pīḷitā attadukhena dhīrā, sukhapphalaṃ kamma pariccajanti;
Sammohitā vāpi sukhena mattā, na pāpakammañca † samācaranti’’.
The wise, though afflicted by their own suffering, do not abandon wholesome actions that result in happiness. Nor, when intoxicated by pleasure and utterly deluded, do they commit evil deeds.
Những người trí tuệ, dù bị áp bức bởi nỗi khổ của chính mình, cũng không từ bỏ hành động mang lại kết quả an lạc. Dù say sưa trong hạnh phúc hay bị mê mờ, họ cũng không thực hành việc ác.
78.
78.
78.
‘‘Tuvañhi mātā ca pitā ca mayhaṃ, bhattā patī posako devatā ca;
Dāso ahaṃ tuyha saputtadāro, yathāsukhaṃ sāmi † karohi kāmaṃ’’.
You are truly my mother and father, my master, lord, nourisher, and deity. I, with my son and wife, am your slave. Do as you please, my lord, and fulfill your desire.
Chính ngài là mẹ và cha của tôi, là chủ, là người bảo hộ, là người nuôi dưỡng, và là vị trời. Tôi cùng với vợ con là người tôi tớ của ngài. Thưa chủ nhân, xin hãy làm theo ý muốn để được an lạc.
79.
79.
79.
‘‘Yo issaromhīti karoti pāpaṃ, katvā ca so nuttasate † paresaṃ;
Na tena so jīvati dīghamāyu †, devāpi pāpena samekkhare naṃ.
He who commits evil thinking, 'I am powerful,' and having done so, feels no fear of others—that one does not live a long life. Even the gods look upon him with disfavor for his evil deed.
Người nào làm việc ác với ý nghĩ 'ta là người có quyền lực', và sau khi làm không sợ hãi những người khác, người ấy sẽ không sống được lâu dài vì việc đó. Cả các vị trời cũng nhìn người ấy với cái nhìn ác cảm.
80.
80.
80.
‘‘Aññātakaṃ sāmikehī padinnaṃ, dhamme ṭhitā ye paṭicchanti dānaṃ;
Paṭicchakā dāyakā cāpi tattha, sukhapphalaññeva karonti kammaṃ’’.
When those who are established in the Dhamma accept a gift given by its rightful owners to one who is not a kinsman, then both the recipients and the donors perform an action that yields a happy result.
Những ai an trú trong Chánh pháp mà nhận vật thí không phải của quyến thuộc, được dâng cúng bởi những người chủ, trong trường hợp đó, cả người nhận và người cho đều làm một hành động chỉ có kết quả là an lạc.
81.
81.
81.
‘‘Añño nu te koci naro pathabyā, saddheyya lokasmi na me piyāti;
Bhuso ca tyassa manaso vighāto, datvā piyaṃ ummadantiṃ adaṭṭhā’’.
Surely no other person on earth would believe you if you claimed, 'She is not dear to me.' Moreover, great would be the distress of your mind, having given your beloved Ummādantī and then seeing her no more.
Chắc chắn không một người nào khác trên thế gian này sẽ tin rằng nàng ấy không phải là người yêu quý của ta. Và ngươi sẽ vô cùng đau khổ trong tâm, sau khi dâng nàng Ummādantī yêu quý mà không được thấy nàng.
82.
82.
82.
‘‘Addhā piyā mayha janinda esā, na sā mamaṃ appiyā bhūmipāla;
Yaṃ te mayā ummadantī padinnā, bhusehi rājā vanathaṃ sajāhi’’.
Truly, O lord of men, she is dear to me; she is not unloved by me, O protector of the land. Since Ummādantī is given to you by me, O King, indulge your desire, then let it go.
Thưa đấng nhân chủ, thật vậy, nàng này là người yêu quý của tôi. Thưa đấng hộ trì quốc độ, nàng ấy không phải là người không được tôi yêu quý. Vì lý do mà Ummādantī đã được tôi dâng cho ngài, thưa đức vua, xin ngài hãy thỏa mãn lòng ham muốn, rồi sau đó hãy buông bỏ.
83.
83.
83.
‘‘Yo attadukkhena parassa dukkhaṃ, sukhena vā attasukhaṃ dahāti;
Yathevidaṃ mayha tathā paresaṃ, yo † evaṃ jānāti † sa vedi dhammaṃ.
He who would transfer his own suffering to another, or who would secure his own happiness at the expense of another's—he does not know the Dhamma. But he who understands, 'As this is for me, so it is for others,' that one truly knows the Dhamma.
Người nào vì nỗi khổ của mình mà gây khổ cho người khác, hoặc vì hạnh phúc của mình mà lấy đi hạnh phúc của người khác, người ấy không biết Chánh pháp. Còn người nào biết rằng: 'Như thế nào đối với ta, cũng như vậy đối với người khác', người ấy biết Chánh pháp.
84.
84.
84.
‘‘Añño nu te koci naro pathabyā, saddheyya lokasmi na me piyāti;
Bhuso ca tyassa manaso vighāto, datvā piyaṃ ummadantiṃ adaṭṭhā’’.
Surely no other person on earth would believe you if you claimed, 'She is not dear to me.' Moreover, great would be the distress of your mind, having given your beloved Ummādantī and then seeing her no more.
Chắc chắn không một người nào khác trên thế gian này sẽ tin rằng nàng ấy không phải là người yêu quý của ta. Và ngươi sẽ vô cùng đau khổ trong tâm, sau khi dâng nàng Ummādantī yêu quý mà không được thấy nàng.
85.
85.
85.
‘‘Janinda jānāsi piyā mamesā, na sā mamaṃ appiyā bhūmipāla;
Piyena te dammi piyaṃ janinda, piyadāyino deva piyaṃ labhanti’’.
O lord of men, you know she is dear to me; she is not unloved by me, O protector of the land. Out of affection I give you my beloved, O lord of men. For givers of what is dear, O king, receive what is dear in return.
Thưa đấng nhân chủ, ngài biết nàng này là người yêu quý của tôi. Thưa đấng hộ trì quốc độ, nàng ấy không phải là người không được tôi yêu quý. Thưa đấng nhân chủ, tôi xin dâng người yêu quý cho ngài với lòng yêu quý. Thưa thiên tử, những người cho vật yêu quý sẽ nhận được vật yêu quý.
86.
86.
86.
‘‘So nūnāhaṃ vadhissāmi, attānaṃ kāmahetukaṃ;
Na hi dhammaṃ adhammena, ahaṃ vadhitumussahe’’.
Must I then destroy myself for the sake of desire? For surely I cannot bring myself to destroy Dhamma by means of unrighteousness.
Chắc chắn ta sẽ không hủy hoại chính mình vì nguyên nhân dục lạc. Quả thật, ta không thể hủy hoại Chánh pháp bằng phi pháp.
87.
87.
87.
‘‘Sace tuvaṃ mayha satiṃ † janinda, na kāmayāsi naravīra seṭṭha;
Cajāmi naṃ sabbajanassa sibyā †, mayā pamuttaṃ tato avhayesi † naṃ’’.
If you do not desire what is mine, O lord of men, noblest of heroes, then I shall renounce her in the midst of all the people, O Sivi. After she has been released by me, you may then summon her.
Thưa đấng nhân chủ, đấng anh hùng cao quý nhất trong loài người, nếu ngài không muốn tài sản của tôi, tôi sẽ từ bỏ nàng ấy giữa tất cả mọi người. Sau đó, ngài có thể gọi nàng ấy, người đã được tôi từ bỏ.
88.
88.
88.
‘‘Adūsiyaṃ ce abhipāraka tvaṃ, cajāsi katte ahitāya tyassa;
Mahā ca te upavādopi assa, na cāpi tyassa nagaramhi pakkho’’.
If you, Abhipādaka, were to renounce a faultless woman, O minister, it would be to your own detriment. Great blame would fall upon you, and you would have no allies in the city.
Này Abhipāraka, hỡi người làm mọi việc, nếu ngươi từ bỏ người không có lỗi, điều đó sẽ không lợi ích cho ngươi. Ngươi sẽ bị chỉ trích nặng nề, và cũng sẽ không có ai ủng hộ ngươi trong thành phố này.
89.
89.
89.
‘‘Ahaṃ sahissaṃ upavādametaṃ, nindaṃ pasaṃsaṃ garahañca sabbaṃ;
Mametamāgacchatu bhūmipāla, yathāsukhaṃ sivi † karohi kāmaṃ’’.
I shall endure all this: the blame, the censure, the praise, and the reproach. Let it all come upon me, O protector of the land. Do as you please, O Sivi, and fulfill your desire.
Tôi sẽ chịu đựng tất cả: sự chỉ trích này, sự chê bai, sự tán dương, và sự khiển trách. Thưa đấng hộ trì quốc độ, hãy để những điều đó đến với tôi. Thưa vua Sivi, xin hãy làm theo ý muốn để được an lạc.
90.
90.
90.
‘‘Yo neva nindaṃ na panappasaṃsaṃ, ādiyati garahaṃ nopi pūjaṃ;
Sirī ca lakkhī ca apeti tamhā, āpo suvuṭṭhīva yathā thalamhā’’.
From one who heeds neither censure nor praise, neither reproach nor honor, glory and good fortune depart, just as water from a heavy rain runs off high ground.
Người nào không quan tâm đến sự chê bai hay tán dương, không nhận lấy sự khiển trách hay tôn kính, thì cả vận may và phước đức sẽ rời bỏ người đó, như nước từ một trận mưa lớn chảy đi khỏi nơi đất cao.
91.
91.
91.
‘‘Yaṃ kiñci dukkhañca sukhañca etto, dhammātisārañca manovighātaṃ;
Urasā ahaṃ paccuttarissāmi † sabbaṃ, pathavī yathā thāvarānaṃ tasānaṃ’’.
Whatever suffering and happiness may come from this, whatever transgression of the Dhamma and distress of mind, I will bear it all upon my breast, just as the earth bears all things, stationary and moving.
Bất cứ khổ đau và hạnh phúc, sự vi phạm Chánh pháp và sự phiền não trong tâm phát sinh từ việc này, tôi sẽ dùng lồng ngực của mình để gánh chịu tất cả, như mặt đất chịu đựng các vật bất động và chuyển động.
92.
92.
92.
‘‘Dhammātisārañca manovighātaṃ, dukkhañca nicchāmi ahaṃ paresaṃ;
Ekovimaṃ hārayissāmi bhāraṃ, dhamme ṭhito kiñci ahāpayanto’’.
I do not wish upon others transgression of the Dhamma, distress of mind, or suffering. Standing firm in the Dhamma and causing no one to fall away, I alone shall carry this burden.
Ta không mong muốn sự vi phạm Chánh pháp, sự phiền muộn trong tâm, và sự đau khổ cho người khác. An trú trong Chánh pháp, không làm tổn hại bất cứ ai, ta sẽ một mình mang gánh nặng này.
93.
93.
93.
‘‘Saggūpagaṃ puññakammaṃ janinda, mā me tuvaṃ antarāyaṃ akāsi;
Dadāmi te ummadantiṃ pasanno, rājāva yaññe dhanaṃ brāhmaṇānaṃ’’.
O lord of men, do not place an obstacle before my meritorious action that leads to heaven. With a devoted heart, I give you Ummādantī, as a king gives wealth to brahmins at a sacrifice.
Tâu Đại vương, người cai trị dân chúng, xin ngài đừng gây trở ngại cho việc phước thiện dẫn đến cõi trời của tôi. Với lòng hoan hỷ, tôi xin dâng nàng Ummadantī lên ngài, cũng như đức vua ban tặng tài sản cho các vị Bà-la-môn trong lễ tế đàn.
94.
94.
94.
‘‘Addhā tuvaṃ katte hitesi mayhaṃ, sakhā mamaṃ ummadantī tuvañca;
Nindeyyu devā pitaro ca sabbe, pāpañca passaṃ abhisamparāyaṃ’’.
Truly, O minister, you are my well-wisher. Both you and Ummādantī are my friends. The gods and all the ancestors would censure me, and I would face an evil outcome in the life to come.
Này người thực thi công vụ, chắc chắn ngươi là người mưu cầu lợi ích cho ta. Nàng Ummadantī và ngươi đều là bạn của ta. (Nếu ta nhận nàng), chư Thiên, các bậc tổ tiên, và tất cả mọi người sẽ chê trách, và ta sẽ thấy điều ác trong đời sau.
95.
95.
95.
‘‘Na hetadhammaṃ sivirāja vajjuṃ, sanegamā jānapadā ca sabbe;
Yaṃ te mayā ummadantī padinnā, bhusehi rājā vanathaṃ sajāhi’’.
O King Sivi, they would not call this unrighteous—neither the townspeople nor the country folk. Since Ummādantī is given to you by me, O King, indulge your desire, then let it go.
Tâu vua xứ Sivi, tất cả dân chúng từ thị trấn đến thôn quê sẽ không nói rằng đây là phi pháp, bởi vì nàng Ummadantī đã được tôi dâng lên ngài. Tâu Đại vương, xin hãy thỏa mãn lòng ham muốn, và sau đó xin hãy từ bỏ nàng.
96.
96.
96.
‘‘Addhā tuvaṃ katte hitesi mayhaṃ, sakhā mamaṃ ummadantī tuvañca;
Satañca dhammāni sukittitāni, samuddavelāva duraccayāni’’.
Truly, O minister, you are my well-wisher. Both you and Ummādantī are my friends. But the well-proclaimed principles of the good are as difficult to transgress as the ocean's shore.
Này người thực thi công vụ, chắc chắn ngươi là người mưu cầu lợi ích cho ta. Nàng Ummadantī và ngươi đều là bạn của ta. Những pháp của bậc thiện trí đã được khéo tán thán, giống như bờ biển, thật khó vượt qua.
97.
97.
97.
‘‘Āhuneyyo mesi hitānukampī, dhātā vidhātā casi kāmapālo;
Tayī hutā rāja mahapphalā hi †, kāmena me ummadantiṃ paṭiccha’’.
You are one worthy of my offerings, my compassionate well-wisher, my supporter, provider, and guardian of my desires. Indeed, O King, offerings made to you bear great fruit. Therefore, according to my wish, please accept Ummādantī.
Ngài đáng được tôi cúng dường, là người mưu cầu lợi ích và bi mẫn, là người hỗ trợ và sắp đặt, là người bảo vệ các dục lạc. Tâu Đại vương, sự cúng dường đến ngài quả thật có quả lớn. Theo ý muốn của tôi, xin hãy nhận lấy nàng Ummadantī.
98.
98.
98.
‘‘Addhā hi sabbaṃ abhipāraka tvaṃ, dhammaṃ acārī mama kattuputta;
Añño nu te ko idha sotthikattā, dvipado naro aruṇe jīvaloke’’.
Indeed, Abhipāraka, my capable son, you have fulfilled every duty for me. In this world of the living at dawn, what other two-legged man is there to be a bringer of your well-being?
Này Abhipāraka, con trai của người thực thi công vụ, chắc chắn ngươi đã thực hành mọi điều lợi ích cho ta. Trong thế gian này, khi bình minh lên, có người hai chân nào khác có thể mang lại an lành cho ngươi chăng?
99.
99.
99.
‘‘Tuvaṃ nu seṭṭho tvamanuttarosi, tvaṃ dhammagū † dhammavidū sumedho;
So dhammagutto cirameva jīva, dhammañca me desaya dhammapāla’’.
You are indeed the most excellent, you are unsurpassed; you are a guardian of the Dhamma, a knower of the Dhamma, one of great wisdom. As one who guards the Dhamma, may you live for a very long time. O protector of the Dhamma, pray teach the Dhamma to me.
Ngài quả là bậc tối thượng, Ngài là bậc vô song. Ngài là người hộ trì Chánh pháp, người thông hiểu Chánh pháp, người có trí tuệ tốt. Ngài là người được Chánh pháp bảo vệ. Hỡi người bảo vệ Chánh pháp, xin hãy sống lâu và xin hãy thuyết giảng Chánh pháp cho tôi.
100.
100.
100.
‘‘Tadiṅgha abhipāraka, suṇohi vacanaṃ mama;
Dhammaṃ te desayissāmi, sataṃ āsevitaṃ ahaṃ.
Well then, Abhipāraka, listen to my word. I shall teach you the Dhamma, that which is practiced by the good.
Vậy thì, này Abhipāraka, hãy lắng nghe lời của ta. Ta sẽ thuyết giảng cho ngươi về Chánh pháp, pháp được các bậc thiện trí thực hành.
101.
101.
101.
‘‘Sādhu dhammaruci rājā, sādhu paññāṇavā naro;
Sādhu mittānamaddubbho, pāpassākaraṇaṃ sukhaṃ.
Good is a king who delights in the Dhamma; good is a person endowed with wisdom. Good is not being treacherous to friends; the non-performance of evil brings happiness.
Vị vua yêu thích Chánh pháp là tốt lành. Người có trí tuệ là tốt lành. Không phản bội bạn bè là tốt lành. Không làm điều ác là hạnh phúc.
102.
102.
102.
‘‘Akkodhanassa vijite, ṭhitadhammassa rājino;
Sukhaṃ manussā āsetha, sītacchāyāya saṅghare.
In the realm of a king who is free from anger and established in the Dhamma, people dwell in happiness, as though in the cool shade of their own homes.
Trong vương quốc của vị vua không sân hận, an trú trong Chánh pháp, con người sống an lạc trong nhà của mình như ở dưới bóng mát.
103.
103.
103.
‘‘Na cāhametaṃ abhirocayāmi, kammaṃ asamekkhakataṃ asādhu;
Ye vāpi ñatvāna sayaṃ karonti, upamā imā mayhaṃ tuvaṃ suṇohi.
I do not approve of this: a bad deed done without consideration. As for those who act themselves with full knowledge, listen to these similes of mine.
Ta không tán thành hành động xấu xa được làm mà không suy xét. Nhưng những ai tự mình hành động sau khi đã biết rõ, (ta tán thành việc làm của họ). Ngươi hãy lắng nghe những ví dụ này của ta.
104.
104.
104.
‘‘Gavaṃ ce taramānānaṃ, jimhaṃ gacchati puṅgavo;
Sabbā tā jimhaṃ gacchanti, nette jimhaṃ gate sati.
If, among the cattle crossing over, the lead bull goes crookedly, all of them go crookedly when the leader has gone astray.
Nếu trong đàn bò đang đi, con bò đầu đàn đi cong vẹo, thì khi con đầu đàn đi cong vẹo, tất cả chúng đều đi cong vẹo.
105.
105.
105.
‘‘Evameva † manussesu, yo hoti seṭṭhasammato;
So ce adhammaṃ carati, pageva itarā pajā;
Sabbaṃ raṭṭhaṃ dukhaṃ seti, rājā ce hoti adhammiko.
Even so among humans, whoever is considered the most eminent, if he practices unrighteousness, how much more so the other people. The entire realm dwells in misery if the king is unrighteous.
Cũng vậy, trong loài người, người được xem là cao quý nhất, nếu người ấy hành xử phi pháp, thì huống chi là những người khác. Toàn thể vương quốc phải chịu đau khổ, nếu vị vua là người phi pháp.
106.
106.
106.
‘‘Gavaṃ ce taramānānaṃ, ujuṃ gacchati puṅgavo;
Sabbā gāvī ujuṃ yanti, nette ujuṃ gate sati.
If, among the cattle crossing over, the lead bull goes straight, all the cows go straight, the leader having gone straight.
Nếu trong đàn bò đang đi, con bò đầu đàn đi thẳng, thì khi con đầu đàn đi thẳng, tất cả đàn bò đều đi thẳng.
107.
107.
107.
‘‘Evameva manussesu, yo hoti seṭṭhasammato;
So sace dhammaṃ carati, pageva itarā pajā;
Sabbaṃ raṭṭhaṃ sukhaṃ seti, rājā ce hoti dhammiko.
Even so among humans, whoever is considered the most eminent, if he practices the Dhamma, how much more so the other people. The entire realm dwells in happiness if the king is righteous.
Cũng vậy, trong loài người, người được xem là cao quý nhất, nếu người ấy hành xử đúng pháp, thì huống chi là những người khác. Toàn thể vương quốc được sống an lạc, nếu vị vua là người đúng pháp.
108.
108.
108.
‘‘Na cāpāhaṃ adhammena, amarattamabhipatthaye;
Imaṃ vā pathaviṃ sabbaṃ, vijetuṃ abhipāraka.
Neither do I desire immortality through unrighteousness, nor to conquer this entire earth, O Abhipāraka.
Này Abhipāraka, ta không mong cầu sự bất tử, cũng không mong muốn chinh phục toàn bộ trái đất này bằng con đường phi pháp.
109.
109.
109.
‘‘Yañhi kiñci manussesu, ratanaṃ idha vijjati;
Gāvo dāso hiraññañca, vatthiyaṃ haricandanaṃ.
For whatever treasure exists here among humans—cattle, slaves, and gold, fine cloth, and yellow sandalwood,
Bất cứ bảo vật nào tồn tại ở đây giữa loài người, như bò, nô lệ, vàng, vải vóc, và gỗ đàn hương vàng.
110.
110.
110.
‘‘Assitthiyo † ratanaṃ maṇikañca, yañcāpi me candasūriyā abhipālayanti;
Na tassa hetu visamaṃ careyyaṃ, majjhe sivīnaṃ usabhomhi jāto.
Horses and women, jewels and gems, and whatever else the moon and sun watch over—not for the sake of these would I act unjustly, for I was born as a bull among the Sivis.
Ngựa cái, châu báu và ngọc, và bất cứ thứ gì được mặt trăng và mặt trời của ta bảo vệ; không vì lý do đó mà ta sẽ hành xử bất chính. Ta được sinh ra như một người lãnh đạo giữa những người Sivi.
111.
111.
111.
‘‘Netā hitā † uggato raṭṭhapālo, dhammaṃ sivīnaṃ apacāyamāno;
So dhammamevānuvicintayanto, tasmā sake cittavase na vatto’’.
As a leader, a benefactor, a renowned protector of the realm, revering the Dhamma of the Sivis; constantly reflecting upon that very Dhamma, he is therefore not under the sway of his own mind.
Là người lãnh đạo, người mưu cầu lợi ích, người nổi bật, người bảo vệ vương quốc, ta tôn kính Chánh pháp của người Sivi. Ta chỉ suy niệm về Chánh pháp, do đó ta không hành động theo ý muốn của riêng mình.
112.
112.
112.
‘‘Addhā tuvaṃ mahārāja, niccaṃ abyasanaṃ sivaṃ;
Karissasi ciraṃ rajjaṃ, paññā hi tava tādisī.
Truly, O great king, you will rule the kingdom for a long time, ever free from disaster and with good fortune, for your wisdom is indeed of such a kind.
Tâu Đại vương, chắc chắn ngài sẽ trị vì vương quốc lâu dài, luôn luôn không tai họa và an lành, bởi vì trí tuệ của ngài là như vậy.
113.
113.
113.
‘‘Etaṃ te anumodāma, yaṃ dhammaṃ nappamajjasi;
Dhammaṃ pamajja khattiyo, raṭṭhā † cavati issaro.
We rejoice in this of yours: that you are not heedless of the Dhamma. A khattiya ruler who is heedless of the Dhamma falls from his kingdom.
Chúng tôi tùy hỷ với điều này của ngài, rằng ngài không xao lãng Chánh pháp. Vị vua Sát-đế-lỵ, người cai trị, nếu xao lãng Chánh pháp, sẽ bị truất khỏi vương quốc.
114.
114.
114.
‘‘Dhammaṃ cara mahārāja, mātāpitūsu khattiya;
Idha dhammaṃ caritvāna, rāja saggaṃ gamissasi.
Practice righteousness, O great king, towards your mother and father, O khattiya. Having practiced righteousness here, O king, you will go to heaven.
Tâu Đại vương, hỡi vị Sát-đế-lỵ, hãy thực hành Chánh pháp đối với cha mẹ. Tâu Đại vương, sau khi thực hành Chánh pháp ở đời này, ngài sẽ đi đến cõi trời.
115.
115.
115.
‘‘Dhammaṃ cara mahārāja, puttadāresu khattiya…pe….
Practice righteousness, O great king, towards your sons and wives, O khattiya...
Tâu Đại vương, hỡi vị Sát-đế-lỵ, hãy thực hành Chánh pháp đối với con cái và vợ... (v.v.)...
116.
116.
116.
‘‘Dhammaṃ cara mahārāja, mittāmaccesu khattiya…pe….
Practice the Dhamma, great king, towards friends and ministers, O khattiya…pe….
Tâu Đại vương, hỡi vị Sát-đế-lỵ, hãy thực hành Chánh pháp đối với bạn bè và các quan đại thần... (v.v.)...
117.
117.
117.
‘‘Dhammaṃ cara mahārāja, vāhanesu balesu ca…pe….
Practice the Dhamma, great king, towards vehicles and forces…pe….
Tâu Đại vương, hỡi vị Sát-đế-lỵ, hãy thực hành Chánh pháp đối với các phương tiện di chuyển và quân đội... (v.v.)...
118.
118.
118.
‘‘Dhammaṃ cara mahārāja, gāmesu nigamesu ca…pe….
Practice righteousness, O great king, in villages and towns, O khattiya...
Tâu Đại vương, hỡi vị Sát-đế-lỵ, hãy thực hành Chánh pháp đối với các làng mạc và thị trấn... (v.v.)...
119.
119.
119.
‘‘Dhammaṃ cara mahārāja, raṭṭhesu janapadesu ca…pe….
Practice the Dhamma, great king, in kingdoms and countries…pe….
Tâu Đại vương, hỡi vị Sát-đế-lỵ, hãy thực hành Chánh pháp đối với các vương quốc và các xứ... (v.v.)...
120.
120.
120.
‘‘Dhammaṃ cara mahārāja, samaṇabrāhmaṇesu ca…pe….
Practice righteousness, O great king, towards samaṇas and brāhmaṇas, O khattiya...
Tâu Đại vương, hỡi vị Sát-đế-lỵ, hãy thực hành Chánh pháp đối với các vị Sa-môn và Bà-la-môn... (v.v.)...
121.
121.
121.
‘‘Dhammaṃ cara mahārāja, migapakkhīsu khattiya…pe….
Practice righteousness, O great king, towards beasts and birds, O khattiya...
Tâu Đại vương, hỡi vị Sát-đế-lỵ, hãy thực hành Chánh pháp đối với các loài thú và chim... (v.v.)...
122.
122.
122.
‘‘Dhammaṃ cara mahārāja, dhammo ciṇṇo sukhāvaho;
Idha dhammaṃ caritvāna, rāja saggaṃ gamissasi.
Practice righteousness, O great king; righteousness, when practiced, brings happiness. Having practiced righteousness here, O king, you will go to heaven.
Tâu Đại vương, hãy thực hành Chánh pháp. Chánh pháp được thực hành tốt đẹp sẽ mang lại an lạc. Tâu Đại vương, sau khi thực hành Chánh pháp ở đời này, ngài sẽ đi đến cõi trời.
123.
123.
123.
‘‘Dhammaṃ cara mahārāja, saindā devā sabrahmakā;
Suciṇṇena divaṃ pattā, mā dhammaṃ rāja pāmado’’ti.
Practice righteousness, O great king. The gods with Indra, along with the Brahmas, reached heaven through good conduct. O king, be not heedless of the Dhamma.
Tâu Đại vương, hãy thực hành Chánh pháp. Các vị trời cùng với Đế Thích và Phạm thiên, nhờ thực hành tốt đẹp mà đã đạt đến cõi trời. Tâu Đại vương, xin đừng xao lãng Chánh pháp.
Ummādantījātakaṃ dutiyaṃ.
The Ummādantī Jātaka, the Second.
Chuyện Bổn sanh Ummādantī, phần thứ hai.