Bản dịch
JA 526 — Chuyện công chúa Nalinikà (Tiền thân Nalinikà)
1 Niḷinikājātaka
3326. “Xứ sở bị đốt cháy, và đất nước cũng tiêu hoại. Này Nalinikā, con hãy đến. Con hãy đi và quyến dụ vị Bà-la-môn ấy cho trẫm.”
3327. “Thưa phụ vương, con không thể chịu đựng khổ, con không rành rẽ đường xa, làm thế nào con sẽ đi đến khu rừng được loài voi thân cận?”
3328. “Sau khi đi đến đi đến đất nước thịnh vượng bằng voi và bằng cỗ xe, bằng phương tiện bè gỗ, này Nalinikā, con hãy ra đi như vậy.
3329. Con hãy ra đi mang theo tượng binh, mã binh, xa binh, bộ binh, và các vị Sát-đế-lỵ. Con sẽ quyến dụ vị ấy vào tầm ảnh hưởng bằng sắc đẹp và vóc dáng của chính con.”
3330. “Khu ẩn cư đáng yêu ấy của Isisiṅga được nhìn thấy với dấu hiệu của những tàu lá chuối, được bao quanh bởi giống cây ābhujī .
3331. Làn khói này được nhìn thấy, cái này có thể được xem là ngọn lửa. Tôi nghĩ rằng vị Isisiṅga có đại thần lực hiến tặng ngọn lửa cho chúng ta.”
3332. Và sau khi nhìn thấy nàng (công chúa) ấy đang đi đến, có bông tai bằng ngọc trai và ngọc ma-ni, vị Isisiṅga, bị kinh hãi, đã đi vào nơi ẩn cư có mái che bằng lá cây.
3333. Và nàng ấy đùa giỡn với quả cầu ở cửa ra vào của nơi ẩn cư, trong khi phô bày ra các phần thân thể, vật kín và các phần lộ liễu.
3334. Và sau khi nhìn thấy nàng ấy đang đùa giỡn, vị ẩn sĩ tóc bện, ở trong gian nhà mái lá, đã đi ra khỏi nơi ẩn cư và đã nói lời nói này:
3335. “Cậu [1] ơi, cây ấy tên là gì, mà trái của cây ấy di chuyển đến cậu như vậy, dầu được ném ra xa, nó cũng trở về, không lìa bỏ cậu đi luôn?”
[1] Vị ẩn sĩ Isisiṅga được sanh ra và lớn lên ở trong rừng cùng với cha, chưa có cơ hội tiếp xúc với người nữ nên không biết về sự khác biệt về cơ thể của người nam và người nữ, cũng như cách xưng hô phù hợp theo giới tính. Trong câu chuyện này, vị ẩn sĩ gọi nàng công chúa là “bhavaṃ,” với ý nghĩa thông dụng là “ngài, ông” để tỏ sự tôn trọng và chỉ dùng để gọi phái nam. Ở bản dịch này, nàng công chúa sẽ xưng hô là “thiếp và chàng,” còn vị ẩy sĩ sẽ là “tớ và cậu” để nhấn mạnh sự ngây thơ về giới tính của vị này (ND).
3336. “Thưa vị Bà-la-môn, có những cây như thế ấy ở núi Gandhamādana tại khu vực lân cận của nơi ẩn cư thuộc về thiếp, trái của nó di chuyển đến thiếp như vậy, dầu được ném ra xa, nó cũng trở về, không lìa bỏ thiếp đi luôn.”
3337. “Này cậu, hãy đi đến nơi ẩn cư này. Hãy dùng (thức ăn có sẵn). Hãy nhận lấy dầu bôi chân và vật nhai, tớ mời. Cậu hãy ngồi xuống chỗ ngồi này ở đây. Này cậu, hãy ăn các loại củ và trái cây từ nơi này.
3338. Cái này của cậu là cái gì, ở giữa hai bắp vế, được xúc chạm nhẹ nhàng, được nhìn thấy như là có màu đen? Được hỏi, xin cậu hãy giải thích cái ấy cho tớ. Có phải cái bửu bối của cậu đã đi vào trong cái vỏ bọc?”
3339. “Trong khi thiếp đang đi tìm kiếm rễ củ và trái cây ở trong rừng, thiếp đã chọc tức con gấu có dáng vóc vô cùng ghê rợn. Con gấu đã rượt đuổi thiếp và đã bắt được thiếp bằng sức mạnh. Nó đã đánh đập thiếp và nhổ lên cái bửu bối (của thiếp).
3340. Vết thương này đây bị khoét sâu vào và gây ngứa.
Thiếp không đạt được sự khoái lạc vào mọi lúc.
Chàng ơi, chàng có khả năng diệt trừ chứng ngứa này.
Chàng ơi, được yêu cầu, chàng hãy thực hiện mục đích của Bà-la-môn.”
3341. “Vết thương của cậu có vẻ sâu thẳm, có màu đỏ, không có thịt thối, và nặng mùi trái cây chín. Tớ sẽ thực hiện cho cậu việc áp dụng một loại thuốc cao nào đó, này cậu, như thế cậu có thể có được sự thoải mái tối đa.”
3342. “Thưa vị có Phạm hạnh, các việc áp dụng về chú thuật, các việc áp dụng về thuốc cao, các loại dược thảo không đi vào được. Chàng hãy diệt trừ chứng ngứa bằng cái vật mềm mại của chàng, như thế thiếp có thể có được sự thoải mái tối đa.”
3343. “Từ nơi này, khu ẩn cư của cậu là ở về hướng nào?
Này cậu, cậu có thích thú ở trong rừng không?
Vậy có phải cậu có nhiều củ và trái cây không?
Có phải các loài thú dữ không hãm hại cậu không?”
3344. “Từ nơi này, đi thẳng về hướng Bắc,
có dòng sông Khemā phát xuất từ dãy núi Hi-mã-lạp.
Khu ẩn cư đáng yêu của thiếp ở bên bờ sông ấy.
Ôi, chàng ơi, nên nhìn thấy khu ẩn cư của thiếp.
3345. Có các cây xoài, các cây sāla , các cây họ mè, các cây mận đỏ, các cây uddālaka , và các cây hoa kèn được nở rộ, ở khắp nơi có các nhân điểu hát ca. Ôi chàng ơi, nên nhìn thấy khu ẩn cư của thiếp.
3346. Các cây tāla , các rễ củ, và các trái cây ở nơi ấy của thiếp, có vóc dáng được thành tựu với màu sắc và mùi thơm, nơi ấy có phong cảnh được hình thành với những vùng đất. Ôi chàng ơi, nên nhìn thấy khu ẩn cư của thiếp.
3347. Các trái cây và các rễ củ là dồi dào ở nơi ấy của thiếp,
được thành tựu với màu sắc, với mùi thơm, với hương vị.
Và các thợ săn thường đi đến khu vực ấy,
mong rằng họ chớ mang đi các rễ củ và trái cây của thiếp khỏi nơi ấy.”
3348. “Cha của tớ đã đi tìm kiếm rễ củ và trái cây,
giờ này, sẽ trở về vào lúc xế chiều.
Đến lúc cha trở về từ việc kiếm rễ củ và trái cây,
cả hai chúng ta có thể đi đến khu ẩn cư ấy.”
3349. “Có nhiều vị ẩn sĩ khác có vóc dáng tốt lành,
có các vị ẩn sĩ của hoàng gia sống dọc theo đường đi.
Chàng hãy hỏi thẳng họ về khu ẩn cư ấy của thiếp;
các vị ấy sẽ dẫn chàng đến chỗ ở của thiếp.”
3350. “Các thanh củi không được con chẻ, nước không được con xách về, thậm chí ngọn lửa cũng không được con đốt lên, vậy con trầm tư điều gì như là kẻ đần độn vậy?
3351. (Mọi hôm) các thanh củi đã được chẻ, và ngọn lửa đã được đốt lên, sự sưởi ấm đã được con chuẩn bị, này người có Phạm hạnh, ghế của cha (đã được sắp xếp), và nước (rửa chân đã được mang lại), trước đây, con thích thú là người có bản thể cao thượng.
3352. (Giờ đây) con có củi còn chưa chẻ, có nước chưa được xách về, có ngọn lửa chưa được đốt lên, có thức ăn chưa được hoàn tất. Hôm nay, con không nói chuyện với cha, này con của cha, có phải có cái gì bị mất mát và tâm tư bị đau khổ?”
3353. “Thưa bậc Phạm hạnh, có một đạo sĩ bện tóc đã đi đến đây,
cậu ấy không quá cao, vả lại cũng không quá mập,
vô cùng xinh xắn, có eo thon, và cuốn hút
nhờ vào đầu tóc đen tuyền và y phục màu đen của cậu ấy.
3354. Cậu ấy chưa mọc râu, có dáng vẻ xuất gia không lâu lắm.
Hơn nữa, ở cổ của người này có đeo cái vòng trang sức.
Người này còn có hai khối nhô lên khéo được sanh ra ở ngực,
có ánh sáng rực rỡ gần giống như là khối vàng tinh chất.
3355. Và khuôn mặt của người này đáng được ngắm nhìn vô cùng,
có vòng khuyên treo lủng lẳng ở hai tai,
chúng lấp lánh khi chàng trai trẻ bước đi.
Và có sợi chỉ để buộc chặt các búi tóc.
3356. Và cậu ấy còn có bốn vật trang điểm khác nữa,
màu xanh, màu vàng, màu đỏ, và màu trắng,
chúng phát ra âm thanh khi chàng trai trẻ bước đi,
tựa như bầy chim két kêu réo trong mùa mưa.
3357. Y nội (hạ y) của cậu này được làm không phải bằng cỏ muñja ,
không phải bằng vỏ cây, lại càng không phải bằng lau sậy.
Được bó sát vào phía trong của phần mông, nó lấp lánh,
tựa như tia chớp Sateritā ở không trung.
3358. (Người này) có các vật không có gai và không có cuống,
được gắn vào ở bên hông, ở bên dưới lỗ rốn.
Không bị va chạm, chúng tạo ra tiếng kêu leng keng liên tục.
Này cha ơi, chúng là các trái cây của loại cây gì?
3359. Và búi tóc bện của cậu ấy đáng được ngắm nhìn vô cùng,
có hơn một trăm lọn tóc, được cuộn tròn ở chóp, có mùi thơm dịu.
Đầu tóc có vẻ đã được phân chia thành hai phần khéo léo.
Ôi, ước gì các búi tóc bện của con là như thế.
3360. Và vào lúc cậu ấy xổ tung các búi tóc bện,
chúng có vẻ được thành tựu bằng màu sắc và mùi thơm,
tựa như đóa sen xanh phảng phất theo làn gió;
chốn ẩn cư nơi sơn lâm này thoang thoảng mùi hương giống y như thế.
3361. Và cáu đất của cậu ấy đáng được ngắm nhìn vô cùng,
cáu đất ở cơ thể của con không được như thế ấy.
Cậu ấy tỏa ra mùi hương thoảng đưa theo chiều gió,
giống như khu rừng khéo nở rộ hoa vào đầu mùa hạ.
3362. Cậu ấy ném một loại trái cây xuống trên mặt đất,
vật ấy có màu sắc đẹp đẽ ở bề ngoài, xinh xắn, đáng được ngắm nhìn,
và vật đã được ném đi liền quay trở lại bàn tay của cậu ấy.
Này cha ơi, vật ấy là trái cây của loại cây gì?
3363. Và hàm răng của cậu ấy đáng được ngắm nhìn vô cùng, chúng trong sạch, đều đặn, đạt được màu vỏ ốc cao quý, trong khi được bộc lộ, chúng gây được niềm tin ở tâm (người đối diện), có lẽ chàng trai trẻ ấy không nhai rau cải bằng các răng ấy.
3364. Lời nói của người này không thô lỗ, không nhát gừng, mau mắn, mềm mỏng, thẳng thắn, không khoa trương, không tráo trở, có âm điệu làm vừa lòng, có thanh âm ngọt ngào như của loài chim karavīka , đi vào trái tim, khiến tâm ý con bị quyến luyến.
3365. Với lời nói được thốt ra không quá lớn, có thanh âm tròn trịa, chắc chắn không sặc mùi kiến thức từ việc học tập. Con thật sự mong muốn gặp lại người ấy thêm lần nữa, chàng trai trẻ chắc hẳn đã là bạn bè của con trước đây.
3366. Vết thương này có sự liền lại khéo léo, mọi nơi đều trơn láng. Là vết thương lớn, khéo được tạo ra, tương tự cánh của đóa hoa sen. Sau khi chinh phục con bằng chính vết thương ấy, chàng trai trẻ đã dùng mông cọ sát vào bắp vế đã được mở rộng.
3367. Hai cánh tay mềm mại như là có lớp lông tơ bằng thuốc mỡ. Các ngón tay của người này tròn trịa, được tô nhiều màu sắc, lấp lánh. Chúng tỏa sáng, phát sáng, và chiếu sáng, tựa như tia chớp Sateritā ở không trung.
3368. Tay chân của người này không chai cứng và không có lông dài. Các móng tay chân của người này dài và đầu ngón được tô đỏ. Trong lúc ôm chặt bằng hai cánh tay mềm mại, con người có vóc dáng yêu kiều đã hầu cận con, làm con vui thích.
3369. Hai tay mềm mại của cậu ấy có ánh sáng rực rỡ, gần giống như bông gòn ở trên cây, có làn da tròn trịa và xinh đẹp như bề mặt của tấm gương bằng vàng. Sau khi xúc chạm với con bằng hai tay, cậu ấy đã ra đi khỏi nơi này, thưa cha, các cảm giác ấy vẫn còn thiêu đốt con.
3370. Đương nhiên, cậu ấy chắc chắn đã không lấy đi gùi đồ vật nào, chắc chắn đã không tự mình chẻ các thanh củi, cậu ấy chắc chắn đã không đốn ngã các cây bằng chiếc rìu, và cũng không có các cọc nhọn ở hai tay của người này.
3371. Và con gấu, quả thật, đã gây ra vết thương cho cậu ấy. Cậu ấy đã nói với con rằng: ‘Cậu hãy làm cho tớ được thoải mái.’ Con đã làm cho cậu ấy. Với việc ấy, đã có sự thoải mái cho con. Cậu ấy đã nói với con rằng: ‘Này vị Phạm hạnh, tớ được thoải mái.’
3372. Và tấm thảm trải bằng lá dây leo māluva của cha
có tình trạng bị vung vãi bởi con và bởi cậu ấy.
Đến khi bị kiệt sức, chúng con đã vui đùa ở hồ nước,
rồi chúng con trở về lại căn chòi lá.
3373. Thưa cha, hôm nay, với con các chú thuật không còn ứng nghiệm,
không có cúng tế thần lửa, cũng không có nghi thức hiến dâng,
và con cũng không thể thọ dụng các rễ củ và trái cây của cha nữa,
chừng nào con còn chưa nhìn thấy vị Phạm hạnh ấy.
3374. Thưa cha, chắc chắn rằng cha cũng nhận biết được
vị Phạm hạnh cư ngụ ở vùng đất nào.
Thưa cha, cha hãy mau giúp cho con đến được vùng đất ấy.
Chớ để con chết ở khu ẩn cư của cha.
3375. Bởi vì con đã được nghe nói về khu rừng có hoa muôn sắc,
được rộn rịp tiếng hót của loài chim, được lai vãng bởi các bầy chim.
Thưa cha, cha hãy mau giúp cho con đến được khu rừng ấy.
trước khi con lìa bỏ mạng sống ở khu ẩn cư của cha.”
3376. “Ở khu rừng có viên ngọc như ý này,
nơi được lai vãng bởi hội chúng Càn- thát- bà, chư Thiên, và tiên nữ,
trú xứ của các bậc ẩn sĩ từ thời xa xưa,
không có đạt đến trạng thái bất an như thế này.
3377. Chúng sanh trở thành bạn bè, rồi không còn là bạn bè.
Chúng sanh thể hiện sự yêu mến ở thân quyến, ở bạn bè.
Và đứa trẻ tội nghiệp này tại sao lại bị vương vấn,
khi nó còn không biết mình từ đâu đã đi đến nơi này.
3378. Do sự cộng trú mà các bạn bè được gắn bó thêm lên. Chớ để chúng gặp gỡ nhau. Do không có sự cộng trú, chính cái tình bạn ấy sẽ lụi tàn.
3379. Nếu con còn gặp vị hành Phạm hạnh,
nếu con còn trò chuyện với vị hành Phạm hạnh,
tựa như mùa màng đã đạt được bị cuốn đi bởi cơn lũ lớn,
con sẽ mau chóng đánh mất công đức khổ hạnh này.
3380. Nếu con cũng còn gặp vị hành Phạm hạnh lần nữa,
nếu con cũng còn trò chuyện với vị hành Phạm hạnh lần nữa,
tựa như mùa màng đã đạt được bị cuốn đi bởi cơn lũ lớn,
con sẽ mau chóng đánh mất năng lực Sa-môn này.
3381. Này con, bởi vì các quỷ thần sinh sống
ở thế giới loài người với hình dáng biến dạng,
con người có trí tuệ không thân cận với chúng,
sau khi gần gũi kẻ ấy, người hành Phạm hạnh bị tiêu vong.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Uddayhate † janapado, raṭṭhañcāpi vinassati;
Ehi niḷinike † gaccha, taṃ me brāhmaṇamānaya’’.
“The countryside is afflicted, and the kingdom is perishing; come, Nīlinikā, go, and bring that holy man to me.”
Xứ sở đang bị thiêu đốt, và vương quốc cũng đang bị hủy hoại. Này Niḷinikā, hãy đến đây và đi, hãy mang vị Bà-la-môn ấy về cho ta.
2.
2.
2.
‘‘Nāhaṃ dukkhakkhamā rāja, nāhaṃ addhānakovidā;
Kathaṃ ahaṃ gamissāmi, vanaṃ kuñjarasevitaṃ’’.
“I am not able to endure hardship, O king, nor am I skilled in journeys. How shall I go to the forest, a place frequented by elephants?”
Tâu đại vương, con không thể chịu đựng được gian khổ, con không rành đường đi. Làm sao con có thể đi vào khu rừng có voi lui tới?
3.
3.
3.
‘‘Phītaṃ janapadaṃ gantvā, hatthinā ca rathena ca;
Dārusaṅghāṭayānena, evaṃ gaccha niḷinike.
“Having gone to the prosperous countryside by elephant and by chariot, you shall travel by a vehicle of joined wood. Thus you must go, Nīlinikā.”
Hãy đi đến vùng thôn quê thịnh vượng bằng voi và xe ngựa; rồi đi bằng thuyền gỗ. Này Niḷinikā, hãy đi như vậy.
4.
4.
4.
‘‘Hatthiassarathe pattī, gacchevādāya khattiye;
Taveva vaṇṇarūpena, vasaṃ tamānayissasi’’.
“Taking with you elephants, horses, chariots, and foot soldiers, go, O princess. By your beauty and form, you will bring him under your sway.”
Hỡi công chúa, hãy mang theo voi, ngựa, xe, và bộ binh mà đi. Chỉ bằng sắc đẹp và hình dung của nàng, nàng sẽ đưa được vị ấy vào vòng kiểm soát.
5.
5.
5.
‘‘Kadalīdhajapaññāṇo, ābhujīparivārito;
Eso padissati rammo, isisiṅgassa assamo.
“Marked by plantain banners, surrounded by birch trees, there appears the delightful hermitage of Isisiṅga.”
Kia là am thất của ẩn sĩ Isisiṅga, thật khả ái, được bao quanh bởi cây bhujapatta, với dấu hiệu là những cây chuối như ngọn cờ.
6.
6.
6.
‘‘Eso aggissa saṅkhāto, eso dhūmo padissati;
Maññe no aggiṃ hāpeti, isisiṅgo mahiddhiko’’.
“That is the sign of his fire, that smoke is visible; I think Isisiṅga, great in power, does not let the fire go out.”
Kia là ngọn lửa đã được nhóm lên, kia là khói đang bốc lên. Tôi nghĩ rằng ẩn sĩ Isisiṅga, vị có đại thần lực, không để cho ngọn lửa bị lụi tàn.
7.
7.
7.
‘‘Tañca disvāna āyantiṃ, āmuttamaṇikuṇḍalaṃ;
Isisiṅgo pāvisi bhīto, assamaṃ paṇṇachādanaṃ.
And seeing her coming, wearing jeweled earrings, Isisiṅga, being afraid, entered the hermitage roofed with leaves.
Và sau khi nhìn thấy nàng đang đi đến, người đeo đôi bông tai bằng ngọc ma-ni, ẩn sĩ Isisiṅga vì sợ hãi đã đi vào am thất được lợp bằng lá cây.
8.
8.
8.
‘‘Assamassa ca sā dvāre, geṇḍukenassa † kīḷati;
Vidaṃsayantī aṅgāni, guyhaṃ pakāsitāni ca.
And at the door of the hermitage, she played with a ball, displaying her limbs, both the hidden and the manifest.
Và nàng ấy chơi đùa với quả bóng ở tại cửa của am thất, trong khi phô bày các phần thân thể, cả phần kín đáo lẫn phần biểu lộ ra ngoài.
9.
9.
9.
‘‘Tañca disvāna kīḷantiṃ, paṇṇasālagato jaṭī;
Assamā nikkhamitvāna, idaṃ vacanamabravi.
Seeing her playing, the ascetic with matted hair, who was in the leaf hut, came out from the hermitage and spoke this word:
Và vị ẩn sĩ bện tóc, đang ở trong lều lá, sau khi nhìn thấy nàng đang chơi đùa, đã đi ra khỏi am thất và nói lên lời này.
10.
10.
10.
‘‘Ambho ko nāma so rukkho, yassa tevaṃgataṃ phalaṃ;
Dūrepi khittaṃ pacceti, na taṃ ohāya gacchati’’.
“Pray, what is the name of that tree, whose fruit is of such a nature? Though thrown far, it returns; it does not abandon you and go away.”
Này đạo hữu, cây kia tên là gì, mà quả của ngài lại như thế này: Dù bị ném đi xa, nó vẫn quay trở lại, không rời bỏ ngài mà đi.
11.
11.
11.
‘‘Assamassa mama † brahme, samīpe gandhamādane;
Bahavo † tādisā rukkhā, yassa tevaṃgataṃ phalaṃ;
Dūrepi khittaṃ pacceti, na maṃ ohāya gacchati’’.
“Near my hermitage, O holy man, on Mount Gandhamādana, there are many such trees whose fruit is of such a nature. Though thrown far, it returns; it does not abandon me and go away.”
Này vị Phạm chí, ở gần am thất của tôi, trên núi Gandhamādana, có nhiều loại cây như thế, là loại cây có quả như thế này: Dù bị ném đi xa, nó vẫn quay trở lại, nó không rời bỏ tôi mà đi.
12.
12.
12.
‘‘Etū † bhavaṃ assamimaṃ adetu, pajjañca bhakkhañca paṭiccha dammi;
Idamāsanaṃ atra bhavaṃ nisīdatu, ito bhavaṃ mūlaphalāni bhuñjatu’’ †.
“Pray enter this hermitage, your reverence; accept water for your feet and food which I offer. This is a seat; pray sit here, your reverence, and partake of these roots and fruits.”
Xin mời ngài hãy đi vào am thất này, xin hãy dùng bữa. Xin hãy nhận lấy nước rửa chân và vật thực, tôi xin dâng cúng. Đây là chỗ ngồi, xin mời ngài hãy ngồi ở đây. Xin mời ngài hãy dùng các loại củ và quả này.
13.
13.
13.
‘‘Kiṃ te idaṃ ūrūnamantarasmiṃ, supicchitaṃ kaṇharivappakāsati;
Akkhāhi me pucchito etamatthaṃ, kose nu te uttamaṅgaṃ paviṭṭhaṃ’’.
“What is this between your thighs, well-formed and appearing dark? Tell me this matter, as I ask you. Has your noble limb entered into a sheath?”
Cái gì đây của ngài ở giữa hai đùi, được che đậy kỹ càng, trông giống như vật gì màu đen? Sau khi được hỏi, xin hãy nói cho tôi biết về vấn đề này. Phải chăng phần thân thể cao quý của ngài đã đi vào trong bao?
14.
14.
14.
‘‘Ahaṃ vane mūlaphalesanaṃ caraṃ, āsādayiṃ † acchaṃ sughorarūpaṃ;
So maṃ patitvā sahasājjhapatto, panujja maṃ abbahi † uttamaṅgaṃ.
“While wandering in the forest seeking roots and fruits, I encountered a bear of most terrible appearance. It fell upon me, and attacking suddenly, it pushed me down and tore out my noble limb.”
Trong khi đang đi trong rừng để tìm kiếm củ và quả, tôi đã gặp phải một con gấu có hình dạng rất đáng sợ. Nó đã nhào đến tôi, bất ngờ chụp lấy, xô ngã tôi, và đã giật phăng đi phần thân thể cao quý.
15.
15.
15.
‘‘Svāyaṃ vaṇo khajjati kaṇḍuvāyati, sabbañca kālaṃ na labhāmi sātaṃ;
Paho bhavaṃ kaṇḍumimaṃ vinetuṃ, kurutaṃ bhavaṃ yācito brāhmaṇatthaṃ’’.
“This wound of mine smarts and itches, and I find no comfort at any time. Your reverence is able to remove this itch; being requested, may your reverence do this for the sake of a holy man.”
Vết thương này vừa đau nhức vừa ngứa ngáy, và tôi không có được sự dễ chịu vào bất cứ lúc nào. Ngài có khả năng loại trừ sự ngứa ngáy này. Sau khi được thỉnh cầu, xin ngài hãy làm điều ấy vì lợi ích của một vị Phạm sĩ.
16.
16.
16.
‘‘Gambhīrarūpo te vaṇo salohito, apūtiko vaṇagandho † mahā ca;
Karomi te kiñci kasāyayogaṃ, yathā bhavaṃ paramasukhī bhaveyya’’.
“Your wound is deep and bloody, not putrid, and its scent is not foul, and it is large. I will prepare for you an astringent application, so that your reverence may be supremely happy.”
Vết thương của ngài trông sâu, có máu, không bị mưng mủ, có mùi của vết thương, và lại lớn. Tôi sẽ thực hiện cho ngài một vài phương thuốc se lại, để ngài có thể được an lạc tột bậc.
17.
17.
17.
‘‘Na mantayogā na kasāyayogā, na osadhā brahmacāri † kamanti;
Ghaṭṭe mudukena † vinehi kaṇḍuṃ †, yathā ahaṃ paramasukhī bhaveyyaṃ’’.
“Neither incantations, nor astringent applications, nor medicines are effective, O holy one. With your soft limb, rub and remove the itch, so that I may become supremely happy.”
Này vị Phạm hạnh, các phương pháp dùng thần chú, các phương pháp dùng thuốc se, các loại thuốc men đều không có tác dụng. Xin hãy loại trừ sự ngứa ngáy này bằng cách cọ xát với vật mềm mại, để tôi có thể được an lạc tột bậc.
18.
18.
18.
‘‘Ito nu bhoto katamena assamo, kacci bhavaṃ abhiramasi † araññe;
Kacci nu te † mūlaphalaṃ pahūtaṃ, kacci bhavantaṃ na vihiṃsanti vāḷā’’.
“From here, in which direction is your reverence’s hermitage? I trust your reverence delights in the forest? I trust you have abundant roots and fruits? I trust that wild beasts do not harm your reverence?”
Am thất của ngài ở hướng nào kể từ đây? Có phải ngài sống hoan hỷ ở trong rừng? Có phải ngài có nhiều củ và quả? Có phải các loài thú dữ không làm hại ngài?
19.
19.
19.
‘‘Ito ujuṃ uttarāyaṃ disāyaṃ, khemānadī himavatā pabhāvī †;
Tassā tīre assamo mayha rammo, aho bhavaṃ assamaṃ mayhaṃ passe.
“Straight from here, in the northern direction, the Khemā river flows from the Himālaya. On its bank is my delightful hermitage. Oh, may your reverence see my hermitage!”
Từ đây, đi thẳng về hướng bắc, có sông Khemā bắt nguồn từ Hy-mã-lạp sơn. Ở trên bờ của sông ấy là am thất khả ái của tôi. Ôi, mong sao ngài nhìn thấy am thất của tôi!
20.
20.
20.
‘‘Ambā ca sālā tilakā ca jambuyo, uddālakā pāṭaliyo ca phullā;
Samantato kimpurisābhigītaṃ, aho bhavaṃ assamaṃ mayhaṃ passe.
“Mangoes and sāl trees, tilakas and jambu trees, uddālakas and pāṭalī trees are in full bloom. All around, it resounds with the songs of kimpurisas. Oh, may your reverence see my hermitage!”
Ở đấy có các cây xoài, cây sala, cây tilaka, cây jambu, cây uddālaka, và cây pāṭali đang nở hoa. Khắp bốn phía, tiếng hát của các vị khẩn-na-la vang lên. Ôi, mong sao ngài nhìn thấy am thất của tôi!
21.
21.
21.
‘‘Tālā ca mūlā ca phalā ca mettha, vaṇṇena gandhena upetarūpaṃ;
Taṃ bhūmibhāgehi upetarūpaṃ, aho bhavaṃ assamaṃ mayhaṃ passe.
“Here there are palmyra trees, roots, and fruits, endowed with beauty and fragrance. That place is endowed with pleasant grounds. Oh, may your reverence see my hermitage!”
Ở đây, tôi có các cây thốt nốt, các loại củ, và các loại quả, tất cả đều có hình sắc và hương thơm. Nơi ấy có những vùng đất thật tốt đẹp. Ôi, mong sao ngài nhìn thấy am thất của tôi!
21.
21.
21.
‘‘Phalā ca mūlā ca pahūtamettha, vaṇṇena gandhena rasenupetā;
Āyanti ca luddakā taṃ padesaṃ, mā me tato mūlaphalaṃ ahāsuṃ’’.
“Here there are abundant fruits and roots, endowed with color, fragrance, and taste. But hunters come to that place; may they not take my roots and fruits from there.”
Ở đây, có nhiều quả và củ, có đủ màu sắc, hương thơm, và vị ngon. Và các người thợ săn thường đi đến nơi ấy. Mong rằng họ không lấy đi củ và quả của tôi từ nơi ấy.
23.
23.
23.
‘‘Pitā mamaṃ mūlaphalesanaṃ gato, idāni āgacchati sāyakāle;
Ubhova gacchāmase assamaṃ taṃ, yāva pitā mūlaphalato etu’’.
“My father has gone to seek roots and fruits; he will be returning soon. Let us both go to that hermitage, once my father has returned from gathering roots and fruits.”
Cha của tôi đã đi tìm củ và quả, bây giờ ngài sẽ trở về vào buổi chiều. Cả hai chúng ta sẽ đi đến am thất ấy, sau khi cha tôi đi tìm củ và quả trở về.
24.
24.
24.
‘‘Aññe bahū isayo sādhurūpā, rājīsayo anumagge vasanti;
Te yeva pucchesi mamassamaṃ taṃ, te taṃ nayissanti mamaṃ sakāse’’.
“Many other sages of virtuous character, royal seers, dwell along the path. You should ask them about my hermitage; they will lead you into my presence.”
Có nhiều vị ẩn sĩ khác có đức hạnh tốt đẹp, các vị ẩn sĩ hoàng gia, đang sống dọc theo con đường. Ngài hãy hỏi chính họ về am thất của tôi, họ sẽ dẫn ngài đến với tôi.
25.
25.
25.
‘‘Na te kaṭṭhāni bhinnāni, na te udakamābhataṃ;
Aggīpi te na hāpito †, kiṃ nu mandova jhāyasi.
“Your firewood is not split, your water is not brought, and your fire has not been tended. Why do you ponder so listlessly?”
Con đã không chẻ củi, con đã không mang nước về, con cũng đã không nhóm lửa. Vì sao con lại ngồi trầm tư như người uể oải vậy?
26.
26.
26.
‘‘Bhinnāni kaṭṭhāni huto ca aggi, tapanīpi te samitā brahmacārī †;
Pīṭhañca mayhaṃ udakañca hoti, ramasi tuvaṃ † brahmabhūto puratthā.
“Formerly, O holy one, the firewood was split, the fire was offered to, and the warming fire was prepared. My seat and water were ready, and you, being like a Brahma, took delight.”
Này người Phạm hạnh, trước đây củi đã được chẻ, lửa đã được cúng dường, lửa sưởi cũng đã được con chuẩn bị. Chỗ ngồi và nước cũng đã sẵn sàng cho ta, và con, người đã trở nên cao quý, đã sống trong hoan hỷ.
27.
27.
27.
‘‘Abhinnakaṭṭhosi anābhatodako, ahāpitaggīsi † asiddhabhojano †;
Na me tuvaṃ ālapasī mamajja, naṭṭhaṃ nu kiṃ cetasikañca dukkhaṃ’’.
“You have not split the firewood, you have not brought water, you have not tended the fire, and you have not prepared food. You do not speak to me today. What has been lost? Or what is this mental suffering?”
Con đã không chẻ củi, không mang nước về, không nhóm lửa, không chuẩn bị thức ăn. Hôm nay con không nói chuyện với ta. Có vật gì bị mất chăng? Hay có nỗi khổ tâm nào?
28.
28.
28.
‘‘Idhāgamā jaṭilo brahmacārī, sudassaneyyo sutanū vineti;
Nevātidīgho na panātirasso, sukaṇhakaṇhacchadanehi bhoto.
“Here came an ascetic with matted hair, a holy man, beautiful to behold, with a slender body, and well-mannered. He is neither too tall nor too short, with a covering of the blackest black.”
Thưa cha, một vị Phạm hạnh bện tóc đã đến đây. Vị ấy trông rất đẹp, có thân hình xinh xắn, làm sáng rực cả nơi này. Vị ấy không quá cao, cũng không quá thấp, có mái tóc rất đen và óng ả.
29.
29.
29.
‘‘Amassujāto apurāṇavaṇṇī, ādhārarūpañca panassa kaṇṭhe;
Dve yamā † gaṇḍā uresu jātā, suvaṇṇatindukanibhā † pabhassarā.
“He is not yet bearded, his complexion is not old, and on his neck is a supporting ornament. Two matching mounds have grown on his chest, radiant and like golden tinduka fruits.”
Vị ấy chưa có râu, có vẻ ngoài tươi trẻ. Và trên cổ của vị ấy có vật trang sức giống như cái kiềng. Trên ngực mọc lên một cặp u tròn, giống như quả tinduka bằng vàng, và tỏa sáng rạng rỡ.
30.
30.
30.
‘‘Mukhañca tassa bhusadassaneyyaṃ, kaṇṇesu lambanti ca kuñcitaggā;
Te jotare carato māṇavassa, suttañca yaṃ saṃyamanaṃ jaṭānaṃ.
“His face is exceedingly beautiful to see, and from his ears hang ornaments with curled tips. They shine as the young man walks, as does the thread that binds his matted locks.”
Và khuôn mặt của vị ấy rất đáng nhìn. Trên tai của vị ấy có treo những vật có đầu cong. Chúng chiếu sáng khi vị thanh niên ấy đi lại, và cả sợi dây dùng để buộc các bím tóc cũng chiếu sáng.
31.
31.
31.
‘‘Aññā ca tassa saṃyamāni † catasso, nīlā pītā † lohitikā † ca setā;
Tā piṃsare † carato māṇavassa, tiriṭi † saṅghāriva pāvusamhi.
“He has four other bindings: blue, yellow, red, and white. As the young man walks, they rustle like a swarm of tiriṭi-insects in the rainy season.”
Vị ấy còn có bốn loại vật trang sức khác: màu xanh, màu vàng, màu đỏ, và màu trắng. Chúng va chạm vào nhau và kêu lên khi vị thanh niên ấy đi lại, giống như bầy côn trùng tiriṭi vào mùa mưa.
32.
32.
32.
‘‘Na mikhalaṃ muñjamayaṃ dhāreti, na santhare † no pana pabbajassa;
Tā jotare jaghanantare † vilaggā, sateratā vijjurivantalikkhe.
“He wears no girdle made of muñja grass, nor the bark-cloth garment of an ascetic. Those things fastened about his waist shine like lightning flashing constantly in the sky.”
Vị ấy không đeo dây lưng bằng cỏ muñja, cũng không mặc y bằng vỏ cây hay cỏ pabbaja. Những vật ấy chiếu sáng, được gắn quanh vùng hông, giống như tia chớp lóe lên ở trên không.
33.
33.
33.
‘‘Akhīlakāni ca avaṇṭakāni, heṭṭhā nabhyā kaṭisamohitāni;
Aghaṭṭitā niccakīḷaṃ karonti, haṃ tāta kiṃrukkhaphalāni tāni.
“Unblemished and stalkless, bound at the waist below the navel, they move constantly without striking one another. Ah, father, what tree's fruits are those?”
Chúng không có vỏ, không có cuống, được buộc vào ngang eo, ở bên dưới rốn. Chúng không va chạm vào nhau mà luôn luôn vui đùa. Thưa cha, chúng là quả của cây gì vậy?
34.
34.
34.
‘‘Jaṭā ca tassa bhusadassaneyyā, parosataṃ vellitaggā sugandhā;
Dvedhā siro sādhu vibhattarūpo, aho nu kho mayha tathā jaṭāssu.
His matted locks are most pleasing to see, more than a hundred, with curled tips, and fragrant. His head is well-portioned, divided in two—ah, would that my matted locks were so!
Và các bím tóc của vị ấy rất đáng nhìn, có hơn một trăm bím, với các đầu tóc uốn cong, và có hương thơm. Đầu của vị ấy được chia làm hai phần, được phân chia rõ ràng. Ôi, mong sao các bím tóc của tôi cũng được như vậy!
35.
35.
35.
‘‘Yadā ca so pakirati tā jaṭāyo, vaṇṇena gandhena upetarūpā;
Nīluppalaṃ vātasameritaṃva, tatheva saṃvāti panassamo ayaṃ.
And when he unfurls those matted locks, endowed with color and fragrance, then just as a blue lotus is stirred by the wind, so this hermitage becomes fragrant.
Thưa cha, và khi vị ấy xõa những bím tóc ấy ra, vốn có đầy đủ màu sắc và hương thơm; thì am thất này tỏa hương thơm ngát, cũng giống như hoa sen xanh được gió đưa hương.
36.
36.
36.
‘‘Paṅko ca tassa bhusadassaneyyo, netādiso yādiso mayhaṃ kāye †;
So vāyatī erito mālutena, vanaṃ yathā aggagimhe suphullaṃ.
The mud upon him is most pleasing to see, not like the mud upon my body. Stirred by the wind, it gives off a fragrance, like a forest in full bloom in the height of summer.
Thưa cha, bùn trên thân vị ấy rất đáng nhìn, không giống như bùn trên thân con. Bùn ấy tỏa hương thơm khi được gió thổi, giống như khu rừng nở rộ hoa vào đầu mùa hạ.
37.
37.
37.
‘‘Nihanti so rukkhaphalaṃ pathabyā, sucittarūpaṃ ruciraṃ dassaneyyaṃ;
Khittañca tassa punareti hatthaṃ, haṃ tāta kiṃrukkhaphalaṃ nu kho taṃ.
He throws a tree-fruit to the ground, one of wondrous form, radiant and pleasing to see. And though thrown, it returns to his hand. Ah, father, what kind of tree-fruit is that?
Thưa cha, vị ấy ném một trái cây xuống đất, có hình dáng rất đẹp, sáng chói, đáng nhìn. Và khi ném đi, trái cây ấy lại trở về tay vị ấy. Ôi thưa cha, đó là loại trái cây gì vậy?
38.
38.
38.
‘‘Dantā ca tassa bhusadassaneyyā, suddhā samā saṅkhavarūpapannā;
Mano pasādenti vivariyamānā, na hi † nūna so sākamakhādi tehi.
His teeth are most pleasing to see, pure, even, like the color of a fine conch shell. When they are revealed, they gladden the mind. Surely he has not eaten greens with them.
Thưa cha, răng của vị ấy rất đáng nhìn, trong sạch, đều đặn, có màu sắc như vỏ ốc xà cừ hảo hạng. Khi hé mở, chúng làm cho tâm con hoan hỷ. Chắc hẳn vị ấy đã không dùng chúng để ăn rau củ.
39.
39.
39.
‘‘Akakkasaṃ aggaḷitaṃ muhuṃ muduṃ, ujuṃ anuddhataṃ acapalamassa bhāsitaṃ;
Rudaṃ manuññaṃ karavīkasussaraṃ, hadayaṅgamaṃ rañjayateva me mano.
His speech is not harsh, but fluent and gentle; straightforward, not arrogant, not fickle. His voice is pleasing, with the sweet sound of the karavīka bird; it goes to my heart and truly delights my mind.
Lời nói của vị ấy không thô ráp, không ngập ngừng, mềm mại, thẳng thắn, không trạo cử, không phù phiếm. Giọng nói du dương, đáng yêu, như tiếng chim karavīka, đi vào lòng người, làm cho tâm con vô cùng hoan hỷ.
40.
40.
40.
‘‘Bindussaro nātivisaṭṭhavākyo †, na nūna sajjhāyamatippayutto;
Icchāmi bho † taṃ punadeva daṭṭhuṃ, mitto hi † me māṇavohu † puratthā.
His voice is full and rounded, his speech not too diffuse; surely he is not overly devoted to recitation. I wish to see him again, for that young man was my friend before.
Giọng nói của vị ấy tròn trịa, lời nói không quá lan man. Chắc hẳn vị ấy không quá gắng sức trong việc học tập. Con muốn được gặp lại vị ấy, vì vị thanh niên ấy đã là bạn của con từ trước.
41.
41.
41.
‘‘Susandhi sabbattha vimaṭṭhimaṃ vaṇaṃ, puthū † sujātaṃ kharapattasannibhaṃ;
Teneva maṃ uttariyāna māṇavo, vivaritaṃ ūruṃ jaghanena pīḷayi.
Between his thighs there is a wound, well-joined and smooth all over, broad, well-formed, and like a lotus bud. Because of it, that young man, uncovering it, pressed me with his thigh and hip.
Vết thương này khép kín, trơn láng khắp nơi, rộng lớn, hình dáng đẹp, giống như lá cây khara. Do đó, vị thanh niên ấy, sau khi vén y, đã ép con bằng đùi và hông của mình.
42.
42.
42.
‘‘Tapanti ābhanti virocare ca, sateratā vijjurivantalikkhe;
Bāhā mudū añjanalomasādisā, vicitravaṭṭaṅgulikāssa sobhare.
They blaze, they shine, and they are resplendent, like lightning constantly flashing in the sky. His arms are soft, with fine hair like kohl; his fingers, wondrous and rounded, are beautiful.
Chúng tỏa sáng, chiếu rọi, và rực rỡ, như những tia chớp liên tục trên bầu trời. Cánh tay mềm mại, có lông mịn như thuốc vẽ mắt màu đen, những ngón tay tròn trịa đẹp đẽ của vị ấy thật lộng lẫy.
43.
43.
43.
‘‘Akakkasaṅgo na ca dīghalomo, nakhāssa dīghā api lohitaggā;
Mudūhi bāhāhi palissajanto, kalyāṇarūpo ramayaṃ † upaṭṭhahi.
His limbs were smooth, not long-haired; his nails were long and red-tipped. Embracing me with his soft arms, the one of beautiful form attended to me, causing delight.
Thân thể vị ấy không thô ráp, lông không dài. Móng tay của vị ấy dài và có đầu màu đỏ. Với hình dáng xinh đẹp, vị ấy đã phục vụ con, ôm con bằng đôi tay mềm mại, làm cho con vui thích.
44.
44.
44.
‘‘Dumassa tūlūpanibhā pabhassarā, suvaṇṇakambutalavaṭṭasucchavī;
Hatthā mudū tehi maṃ saṃphusitvā, ito gato tena maṃ dahanti tāta.
His hands are soft like tree-cotton, radiant, with beautiful skin, and rounded palms like golden plates. Having touched me with them, he has gone from here; because of that, father, I am burning.
Thưa cha, bàn tay của vị ấy mềm mại như bông gòn, sáng chói, có làn da đẹp, tròn trịa như mặt gương vàng. Sau khi chạm vào con bằng đôi tay mềm mại ấy, vị ấy đã rời khỏi nơi đây, chính vì điều đó mà con bị thiêu đốt.
45.
45.
45.
‘‘Na nūna † so khārividhaṃ ahāsi, na nūna so kaṭṭhāni sayaṃ abhañji;
Na nūna so hanti dume kuṭhāriyā †, na hissa † hatthesu khilāni atthi.
Surely he has not carried the shoulder-yoke; surely he has not broken firewood himself; surely he does not strike trees with an axe, for there are no calluses on his hands.
Chắc hẳn vị ấy không mang gánh nặng. Chắc hẳn vị ấy không tự mình bẻ củi. Chắc hẳn vị ấy không đốn cây bằng rìu, vì tay vị ấy không có vết chai.
46.
46.
46.
‘‘Accho ca kho tassa vaṇaṃ akāsi, so maṃbravi sukhitaṃ maṃ karohi;
Tāhaṃ kariṃ tena mamāsi sokhyaṃ, so cabravi sukhitosmīti brahme.
Indeed, a bear had made a wound upon him, and he said to me: ‘Make me well.’ I did so, and by that I found happiness. And he said: ‘I am well, O holy one.’
Một con gấu đã gây ra vết thương cho vị ấy. Vị ấy nói với con: 'Hãy làm cho tôi được an lạc.' Con đã làm như vậy, và nhờ đó con cũng được an lạc. Và vị ấy nói: 'Thưa vị Phạm hạnh, tôi đã được an lạc rồi.'
47.
47.
47.
‘‘Ayañca te māluvapaṇṇasanthatā, vikiṇṇarūpāva mayā ca tena ca;
Kilantarūpā udake ramitvā, punappunaṃ paṇṇakuṭiṃ vajāma.
And this bed of yours, made of māluvā leaves, is all scattered by me and by him. Becoming tired, and having delighted in the water, again and again we would go to the leaf-hut.
Và tấm lót bằng lá māluva này của cha, đã trở nên xáo trộn bởi con và vị ấy. Khi mệt mỏi, chúng con vui đùa trong nước, rồi lại nhiều lần trở về túp lều lá.
48.
48.
48.
‘‘Na majja mantā paṭibhanti tāta, na aggihuttaṃ napi yaññatantaṃ †;
Na cāpi te mūlaphalāni bhuñje, yāva na passāmi taṃ brahmacāriṃ.
Today, father, the sacred verses do not come to mind, nor the fire-oblation, nor the sacrificial rites. And I will not eat your roots and fruits, so long as I do not see that holy man.
Thưa cha, hôm nay các câu thần chú không hiện ra trong tâm con, việc cúng dường lửa cũng vậy, nghi thức tế lễ cũng vậy. Con cũng sẽ không ăn rễ cây và trái cây của cha, cho đến khi con gặp lại vị Phạm hạnh ấy.
49.
49.
49.
‘‘Addhā pajānāsi tuvampi tāta, yassaṃ disaṃ † vasate brahmacārī;
Taṃ maṃ disaṃ pāpaya tāta khippaṃ, mā te ahaṃ amarimassamamhi.
Surely you also know, father, in which direction that holy man dwells. Lead me quickly to that direction, father, lest I die here in your hermitage.
Thưa cha, chắc chắn cha cũng biết phương hướng mà vị Phạm hạnh ấy đang ở. Thưa cha, xin hãy mau chóng đưa con đến phương hướng đó, để con không phải chết trong am thất của cha.
50.
50.
50.
‘‘Vicitraphullaṃ † hi vanaṃ sutaṃ mayā, dijābhighuṭṭhaṃ dijasaṅghasevitaṃ;
Taṃ maṃ vanaṃ pāpaya tāta khippaṃ, purā te pāṇaṃ vijahāmi assame’’.
For I have heard of a forest with flowers of many kinds, resounding with birds, and frequented by their flocks. Lead me quickly to that forest, father, before I give up my life in your hermitage.
Con đã nghe nói về một khu rừng có nhiều hoa đẹp, vang tiếng chim hót, là nơi các loài chim thường lui tới. Thưa cha, xin hãy mau chóng đưa con đến khu rừng đó, trước khi con từ bỏ mạng sống trong am thất của cha.
51.
51.
51.
‘‘Imasmāhaṃ jotirase vanamhi, gandhabbadevaccharasaṅghasevite;
Isīnamāvāse sanantanamhi, netādisaṃ aratiṃ pāpuṇetha.
Dwelling in this radiant forest, frequented by hosts of gandhabbas and celestial nymphs, in this ancient abode of seers, you should not come to such discontent.
Này con, con đang sống trong khu rừng rực rỡ ánh lửa này, nơi các vị Gandhabba, thiên thần, tiên nữ thường lui tới, là nơi ở lâu đời của các vị ẩn sĩ. Con không nên có sự bất mãn như vậy.
52.
52.
52.
‘‘Bhavanti mittāni atho na honti, ñātīsu mittesu karonti pemaṃ;
Ayañca jammo kissa vā niviṭṭho, yo neva jānāti kutomhi āgato.
There are friends, and then there are none; one shows affection for kinsmen and friends. But this wretch, on what is he so intent, who does not even know from where he has come?
Có những người là bạn, cũng có những người không phải là bạn. Người ta yêu thương bà con, bạn bè. Nhưng kẻ thấp hèn này lại quyến luyến vì điều gì, kẻ mà thậm chí không biết mình từ đâu đến?
53.
53.
53.
‘‘Saṃvāsena hi mittāni, sandhiyanti † punappunaṃ;
Sveva mitto † asaṃgantu, asaṃvāsena jīrati.
For it is through living together that friendships are formed, again and again. But that same friendship, for one who does not associate, perishes through lack of companionship.
Thật vậy, tình bạn được kết nối lại nhiều lần nhờ sự chung sống. Chính người bạn đó, đối với người không giao du, sẽ phai nhạt đi vì không chung sống.
54.
54.
54.
‘‘Sace tuvaṃ dakkhasi brahmacāriṃ, sace tuvaṃ sallape † brahmacārinā;
Sampannasassaṃva mahodakena, tapoguṇaṃ khippamimaṃ pahissasi †.
If you see that holy man, if you converse with that holy man, then like a ripe harvest swept away by a great flood, you will quickly lose this virtue of asceticism.
Nếu con gặp lại vị Phạm hạnh ấy, nếu con nói chuyện với vị Phạm hạnh ấy, thì con sẽ nhanh chóng từ bỏ phẩm hạnh tu tập này, giống như một trận lụt lớn cuốn trôi mùa màng bội thu.
55.
55.
55.
‘‘Punapi † ce dakkhasi brahmacāriṃ, punapi † ce sallape brahmacārinā;
Sampannasassaṃva mahodakena, usmāgataṃ khippamimaṃ pahissasi.
And if you see that holy man again, if you converse with that holy man again, then like a ripe harvest with abundant water, you will quickly abandon this fever that has arisen.
Nhưng nếu con không gặp lại vị Phạm hạnh ấy, nếu con không nói chuyện với vị ấy nữa, thì con sẽ nhanh chóng làm cho năng lực nhiệt tâm này phát triển, giống như nước tưới cho mùa màng bội thu.
56.
56.
56.
‘‘Bhūtāni hetāni † caranti tāta, virūparūpena manussaloke;
Na tāni sevetha naro sapañño, āsajja naṃ nassati brahmacārī’’ti.
For these beings, father, wander in the world of humans in various forms. A wise man should not associate with them; having encountered them, the holy man is lost.
Thưa con, những phi nhân này đi lại trong thế giới loài người với nhiều hình dạng khác nhau. Người có trí không nên giao du với chúng. Một vị Phạm hạnh, khi gặp phải chúng, sẽ bị hủy hoại.
Niḷinikājātakaṃ † paṭhamaṃ.
The Niḷinikā Jātaka, the First.
Bổn sanh Niḷinikā, câu chuyện thứ nhất.