Bản dịch
JA 525 — Chuyện tiểu Sutasoma (Tiền thân Culla-Sutasoma)
5 Cūḷasutasomajātaka
3275. “Trẫm thông báo cho cư dân ở phố thị, các thân hữu và các quan đại thần ở cuộc họp, ở trên đầu (của trẫm) có sợi tóc bạc đã xuất hiện, giờ đây trẫm đã vui thích sự xuất gia.”
3276. “Theo thần là không có lợi! Bệ hạ nói thế nào? Tâu bệ hạ, bệ hạ đã cắm mũi tên vào ngực của thần. Bệ hạ có bảy trăm người vợ, các nàng ấy của bệ hạ sẽ như thế nào?”
3277. “Các nàng ấy sẽ biết (việc của họ), còn trẻ, các nàng sẽ đi theo người khác. Là người đang ước nguyện cõi Trời, vì thế, trẫm sẽ xuất gia.”
3278. “Điều đạt được xấu xa đã có cho ta! Này Sutasoma, khi ta là mẹ của ngài đây, là việc trong khi mẹ đang than khóc mà con xuất gia, chẳng đoái hoài, thưa bệ hạ.
3279. Điều đạt được xấu xa đã có cho ta! Này Sutasoma, là việc ta đã hạ sinh ra ngài đây, là việc trong khi mẹ đang than khóc mà con xuất gia, chẳng đoái hoài, thưa bệ hạ.”
3280. “Cái gì gọi là đạo lý ấy? Này Sutasoma, và cái gì gọi là việc xuất gia? Là việc mẹ cha đây thì già cả, mà con xuất gia, chẳng đoái hoài, thưa bệ hạ.
3281. Con còn có nhiều người con trai, còn trẻ, chưa đến tuổi thành niên. Chúng là đáng yêu, trong lúc không nhìn thấy con, cha nghĩ rằng, chúng rơi vào cảnh khổ đau.”
3282. “Và với những người con này của trẫm, còn trẻ, chưa đến tuổi thành niên, đáng yêu, thậm chí với tất cả, với cha mẹ, sau khi sống chung đã lâu thì có sự chia lìa.”
3283. “Trái tim chàng có bị vỡ tan? Hay là lòng thương xót của chàng không có cho chúng thiếp? Là việc chúng thiếp đang khóc thét, mà chàng xuất gia, chẳng đoái hoài, thưa bệ hạ.”
3284. “Trái tim của trẫm bị vỡ tan. Lòng thương xót của trẫm cũng có cho các nàng. Là người đang ước nguyện cõi Trời, vì thế, trẫm sẽ xuất gia.”
3285. “Điều đạt được xấu xa đã có cho thiếp! Này Sutasoma, khi thiếp là vợ của ngài đây, là việc trong khi thiếp đang than khóc mà chàng xuất gia, chẳng đoái hoài, thưa bệ hạ.
3286. Điều đạt được xấu xa đã có cho thiếp! Này Sutasoma, khi thiếp là vợ của ngài đây, là việc bụng mang dạ chửa của thiếp, mà chàng xuất gia, chẳng đoái hoài, thưa bệ hạ.
3287. Bào thai, thai nhi của thiếp đã đủ ngày. Cho đến lúc thiếp hạ sanh ra hài nhi ấy, chớ để thiếp một mình, góa phụ, thiếp đã nhìn thấy các nỗi khổ sở sau này.”
3288. “Bào thai, thai nhi của nàng đã đủ ngày. Nào, nàng hãy sanh ra đứa con trai có sắc đẹp hoàn hảo. Sau khi lìa bỏ nó, trẫm sẽ xuất gia.
3289. Này hoàng hậu Candā, nàng chớ khóc lóc. Hỡi nàng có cặp mắt đen tuyền (như bông hoa kaṇṇika) của núi rừng, nàng hãy bước lên tòa lâu đài cao quý. Trẫm sẽ ra đi, chẳng đoái hoài.”
3290. “Thưa mẹ, người nào đã làm cho mẹ giận? Vì sao mẹ khóc lóc và nhìn con chăm chăm? Trong số các thân quyến đang xem xét, con sẽ giết chết kẻ nào, dầu kẻ ấy không thể bị giết?”
3291. “Bởi vì vị ấy không thể giết chết được, này con yêu, vị vua chiến thắng đã làm mẹ giận. Này con yêu, cha của con đã nói với mẹ rằng: ‘Trẫm sẽ ra đi, chẳng đoái hoài.’”
3292. “Trước đây, con đã được (vua cha) đưa đến vườn hoa và chiến đấu với các con voi. Khi (đức vua) Sutasoma đã xuất gia, vậy giờ đây, con sẽ làm thế nào?”
3293. “Trong khi mẹ của con khóc lóc, và anh của con không muốn, con cũng có thể nắm cha ở cánh tay, cha không sao đi được khi chúng con không muốn.”
3294. “Này nhũ mẫu, bà hãy đứng lên. Hãy cho đứa trẻ trai này vui đùa ở nơi khác. Chớ để nó tạo ra sự chướng ngại cho trẫm, trong khi trẫm đang đang ước nguyện cõi Trời.”
3295. “Có lẽ tôi nên cho đi cái vật chiếu sáng này. Lợi ích gì cho tôi với vật này? Khi (đức vua) Sutasoma đã xuất gia, không lẽ tôi sẽ sử dụng vật ấy cho tôi?”
3296. “Kho tàng của bệ hạ là bao la, kho chứa đồ của bệ hạ đầy ắp, trái đất đã được chiến thắng là thuộc về bệ hạ; tâu bệ hạ, xin bệ hạ hãy vui sướng, chớ xuất gia.”
3297. “Kho tàng của trẫm là bao la, kho chứa đồ của trẫm đầy ắp, trái đất đã được chiến thắng là thuộc về trẫm; sau khi lìa bỏ nó, trẫm sẽ xuất gia.”
3298. “Tài sản của thần cũng dồi dào, tâu bệ hạ, thần cũng không thể tính đếm. Tâu bệ hạ, thần hiến dâng mọi thứ của thần đến bệ hạ; tâu bệ hạ, xin bệ hạ hãy vui sướng, chớ xuất gia.”
3299. “Trẫm biết rằng tài sản của khanh là dồi dào, và trẫm đã được khanh hiến dâng, này Kulavaḍḍhana. Là người đang ước nguyện cõi Trời, vì thế, trẫm sẽ xuất gia.”
3300. “Trẫm chán ngán lắm rồi, này (hoàng đệ) Somadatta, sự không vui sướng xâm chiếm trẫm, bởi vì có nhiều sự tai hại. Trẫm sẽ xuất gia ngay ngày hôm nay.”
3301. “Tâu (hoàng huynh) Sutasoma, việc này cũng được đệ vui thích, giờ đây, huynh hãy xuất gia ngay ngày hôm nay. Đệ cũng sẽ xuất gia. Không có huynh, đệ không thể nỗ lực để duy trì.
3302. Đúng vậy, (huynh) không thể xuất gia, bởi vì ở thành thị và ở thôn quê không ai cai quản.” “Khi (đức vua) Sutasoma đã xuất gia, thì (người dân) chúng tôi sẽ làm thế nào bây giờ đây?”
3303. “Trẫm nghĩ rằng mạng sống này được đưa đi, tựa như chút ít nước ở trên tấm màng lọc, tương tự như vậy, khi mạng sống là vô cùng ít ỏi, không có thời gian để xao lãng.
3304. Trẫm nghĩ rằng mạng sống này được đưa đi, tựa như chút ít nước ở tấm màng lọc, tương tự như vậy, khi mạng sống là vô cùng ít ỏi, chỉ những kẻ ngu mới xao lãng.
3305. Những kẻ ấy tăng thêm nhiều ở địa ngục, ở thai bào của súc sanh, và ở cảnh giới ngạ quỷ. Bị trói buộc bởi sự trói buộc của tham ái, chúng tăng thêm nhiều ở tập thể A-tu-la.”
3306. “Có đám bụi mù được bốc lên ở không xa tòa lâu đài Pupphaka. Tôi nghĩ rằng tóc của vua công minh có danh tiếng của chúng ta đã được cắt lìa.
3307. Tòa lâu đài này là thuộc về vị ấy, được che phủ bởi các bông hoa bằng vàng và các tràng hoa. Nơi đây, đức vua đã thường lui tới, được vây quanh bởi các cung tần.
3308. Tòa lâu đài này là thuộc về vị ấy, được che phủ bởi các bông hoa bằng vàng và các tràng hoa. Nơi đây, đức vua đã thường lui tới, được vây quanh bởi thân bằng quyến thuộc.
3309. Ngôi nhà mái nhọn này là thuộc về vị ấy, được che phủ bởi các bông hoa bằng vàng và các tràng hoa. Nơi đây, đức vua đã thường lui tới, được vây quanh bởi các cung tần.
3310. Ngôi nhà mái nhọn này là thuộc về vị ấy, được che phủ bởi các bông hoa bằng vàng và các tràng hoa. Nơi đây, đức vua đã thường lui tới, được vây quanh bởi thân bằng quyến thuộc.
3311. Vùng đất rừng không sầu muộn này là thuộc về vị ấy, khéo được nở rộ hoa vào mọi thời điểm, đáng yêu. Nơi đây, đức vua đã thường lui tới, được vây quanh bởi các cung tần.
3312. Vùng đất rừng không sầu muộn này là thuộc về vị ấy, khéo được nở rộ hoa vào mọi thời điểm, đáng yêu. Nơi đây, đức vua đã thường lui tới, được vây quanh bởi thân bằng quyến thuộc.
3313. Vườn thượng uyển này là thuộc về vị ấy, khéo được nở rộ hoa vào mọi thời điểm, đáng yêu. Nơi đây, đức vua đã thường lui tới, được vây quanh bởi các cung tần.
3314. Vườn thượng uyển này là thuộc về vị ấy, khéo được nở rộ hoa vào mọi thời điểm, đáng yêu. Nơi đây, đức vua đã thường lui tới, được vây quanh bởi thân bằng quyến thuộc.
3315. Khu rừng cây kaṇikāra này là thuộc về vị ấy, khéo được nở rộ hoa vào mọi thời điểm, đáng yêu. Nơi đây, đức vua đã thường lui tới, được vây quanh bởi các cung tần.
3316. Khu rừng cây kaṇikāra này là thuộc về vị ấy, khéo được nở rộ hoa vào mọi thời điểm, đáng yêu. Nơi đây, đức vua đã thường lui tới, được vây quanh bởi thân bằng quyến thuộc.
3317. Khu rừng cây hoa kèn này là thuộc về vị ấy, khéo được nở rộ hoa vào mọi thời điểm, đáng yêu. Nơi đây, đức vua đã thường lui tới, được vây quanh bởi các cung tần.
3318. Khu rừng cây hoa kèn này là thuộc về vị ấy, khéo được nở rộ hoa vào mọi thời điểm, đáng yêu. Nơi đây, đức vua đã thường lui tới, được vây quanh bởi thân bằng quyến thuộc.
3319. Khu rừng xoài này là thuộc về vị ấy, khéo được nở rộ hoa vào mọi thời điểm, đáng yêu. Nơi đây, đức vua đã thường lui tới, được vây quanh bởi các cung tần.
3320. Khu rừng xoài này là thuộc về vị ấy, khéo được nở rộ hoa vào mọi thời điểm, đáng yêu. Nơi đây, đức vua đã thường lui tới, được vây quanh bởi thân bằng quyến thuộc.
3321. Hồ sen này là thuộc về vị ấy, được che phủ (bởi các giống cây), được lai vãng bởi các loài chim. Nơi đây, đức vua đã thường lui tới, được vây quanh bởi các cung tần.
3322. Hồ sen này là thuộc về vị ấy, được che phủ (bởi các giống cây), được lai vãng bởi các loài chim. Nơi đây, đức vua đã thường lui tới, được vây quanh bởi thân bằng quyến thuộc.
3323. Quả thật, đức vua đã xuất gia. Sutasoma đã dứt bỏ vương quốc này, có y phục bằng vải màu ca-sa, tựa như con voi sống chỉ đơn độc một mình.”
3324. “Thật vậy, quý vị chớ hồi tưởng về các lạc thú và các sự đùa giỡn, về những nụ cười trước đây. Chớ để các dục giết chết các ngươi, bởi vì thành phố tên Sudassana là đáng yêu.
3325. Và quý vị hãy tu tập tâm từ ái, vô lượng, ban ngày và ban đêm. Rồi hãy đi đến thành phố của chư Thiên, là nơi cư ngụ của những người có hành động phước thiện.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Āmantayāmi nigamaṃ, mittāmacce parissaje †;
Sirasmiṃ palitaṃ jātaṃ, pabbajjaṃ dāni rocahaṃ’’.
“I address the townsfolk, my friends, ministers, and assembly. A gray hair has appeared on my head; now I delight in going forth.”
Ta xin thông báo cho dân chúng thị thành, cho bạn bè, quan lại và hội chúng: Tóc bạc đã xuất hiện trên đầu ta, nay ta ưa thích việc xuất gia.
196.
196.
196.
‘‘Abhumme kathaṃ nu bhaṇasi, sallaṃ me deva urasi kappesi †;
Sattasatā te bhariyā, kathaṃ nu te tā bhavissanti’’.
“How can you speak such a calamitous word? You have fixed a dart in my breast, O lord. You have seven hundred wives; what will become of them?”
Tâu Đại vương, vì sao ngài lại nói lời bất hạnh với thiếp? Tâu Đại vương, vì sao ngài lại đâm mũi giáo vào ngực thiếp? Ngài có bảy trăm bà vợ, rồi họ sẽ ra sao?
197.
197.
197.
‘‘Paññāyihinti etā, daharā aññampi tā gamissanti;
Saggañcassa patthayāno, tena ahaṃ pabbajissāmi’’.
“These young women will manage; they will go to another. Aspiring to heaven, therefore I will go forth.”
Họ còn trẻ, họ sẽ được biết đến, họ sẽ đi theo người khác. Ta đang mong cầu cõi trời, vì thế ta sẽ xuất gia.
198.
198.
198.
‘‘Dulladdhaṃ me āsi sutasoma, yassa te homahaṃ mātā;
Yaṃ me vilapantiyā, anapekkho pabbajasi deva.
“It was an ill-gain for me, Sutasoma, that I am your mother; for while I am lamenting, you go forth unheeding, O lord.”
Hỡi Sutasoma, thật là bất hạnh cho mẹ, khi mẹ là mẹ của con; bởi vì trong khi mẹ đang than khóc, ngài lại không đoái hoài mà xuất gia, tâu vương tử.
199.
199.
199.
‘‘Dulladdhaṃ me āsi sutasoma, yaṃ taṃ ahaṃ vijāyissaṃ;
Yaṃ me vilapantiyā, anapekkho pabbajasi deva’’.
“It was an ill-gain for me, Sutasoma, that I gave birth to you; for while I am lamenting, you go forth unheeding, O lord.”
Hỡi Sutasoma, thật là bất hạnh cho cha, khi cha đã sinh ra con; bởi vì trong khi cha đang than khóc, ngài lại không đoái hoài mà xuất gia, tâu vương tử.
200.
200.
200.
‘‘Ko nāmeso dhammo, sutasoma kā ca nāma pabbajjā;
Yaṃ no amhe jiṇṇe, anapekkho pabbajasi deva.
“What kind of Dhamma is this, Sutasoma, and what kind of renunciation, that you go forth unheeding, abandoning us in our old age, O lord?”
Hỡi Sutasoma, đây là Pháp gì, và sự xuất gia này là gì? Mà ngài, tâu vương tử, lại không đoái hoài đến chúng tôi đã già yếu mà xuất gia.
201.
201.
201.
‘‘Puttāpi tuyhaṃ bahavo, daharā appattayobbanā;
Mañjū tepi † taṃ apassantā, maññe dukkhaṃ nigacchanti’’.
“You also have many sons, young and not yet come of age; I imagine those charming boys, not seeing you, will come to suffering.”
Ngài cũng có nhiều con cái, còn non trẻ, chưa đến tuổi thanh xuân, giọng nói ngọt ngào. Khi không nhìn thấy ngài, ta nghĩ rằng chúng sẽ phải chịu đau khổ.
202.
202.
202.
‘‘Puttehi ca me etehi, daharehi appattayobbanehi;
Mañjūhi sabbehipi tumhehi, cirampi ṭhatvā vināsabhāvo’’ †.
“Even if I were to remain long with these sons of mine, young and not yet come of age, and with all of you charming ones, separation is inevitable.”
Dù cho con có ở lại lâu dài với những đứa con này, chúng còn non trẻ, chưa đến tuổi thanh xuân, giọng nói ngọt ngào, và với tất cả mọi người, thì bản chất vẫn là sự hoại diệt.
203.
203.
203.
‘‘Chinnaṃ nu tuyhaṃ hadayaṃ, adu te † karuṇā ca natthi amhesu;
Yaṃ no vikandantiyo †, anapekkho pabbajasi deva’’.
“Is your heart cut off from us, or do you have no compassion for us, that you go forth unheeding while we are wailing, O lord?”
Phải chăng trái tim của ngài đã tan vỡ, hay ngài không còn lòng bi mẫn đối với chúng thiếp? Tâu Đại vương, trong khi chúng thiếp đang than khóc, ngài lại không đoái hoài mà xuất gia.
204.
204.
204.
‘‘Na ca mayhaṃ chinnaṃ hadayaṃ, atthi karuṇāpi mayhaṃ tumhesu;
Saggañca patthayāno, tena ahaṃ † pabbajissāmi’’.
“My heart is not cut off, and I do have compassion for you; but aspiring to heaven, therefore I will go forth.”
Trái tim của ta không tan vỡ, và ta vẫn có lòng bi mẫn đối với các em. Nhưng ta đang mong cầu cõi trời, vì thế ta sẽ xuất gia.
205.
205.
205.
‘‘Dulladdhaṃ me āsi, sutasoma yassa te ahaṃ bhariyā;
Yaṃ me vilapantiyā, anapekkho pabbajasi deva.
“It was an ill-gain for me, Sutasoma, that I am your wife; for while I am lamenting, you go forth unheeding, O lord.”
Hỡi Sutasoma, thật là bất hạnh cho thiếp, khi thiếp là vợ của ngài; bởi vì trong khi thiếp đang than khóc, ngài lại không đoái hoài mà xuất gia, tâu Đại vương.
206.
206.
206.
‘‘Dulladdhaṃ me āsi, sutasoma yassa te ahaṃ bhariyā;
Yaṃ me kucchipaṭisandhiṃ †, anapekkho pabbajasi deva.
“It was an ill-gain for me, Sutasoma, that I am your wife; for you go forth unheeding of the conception in my womb, O lord.”
Hỡi Sutasoma, thật là bất hạnh cho thiếp, khi thiếp là vợ của ngài; bởi vì ngài không đoái hoài đến bào thai trong bụng thiếp mà xuất gia, tâu Đại vương.
207.
207.
207.
‘‘Paripakko me gabbho, kucchigato yāva naṃ vijāyāmi;
Māhaṃ ekā vidhavā, pacchā dukkhāni addakkhiṃ’’.
My pregnancy is complete; until I give birth to the child, please wait. May I not, alone and widowed, later see suffering.
Bào thai trong bụng thiếp đã trưởng thành. Xin ngài hãy kiên nhẫn cho đến khi thiếp sinh hạ. Mong rằng sau này, một mình thiếp góa bụa sẽ không phải chịu đựng những đau khổ.
208.
208.
208.
‘‘Paripakko te gabbho, kucchigato iṅgha tvaṃ † vijāyassu;
Puttaṃ anomavaṇṇaṃ, taṃ hitvā pabbajissāmi’’.
Your pregnancy is advanced, the child is in your womb. Come, give birth to a son of excellent complexion. Leaving him, I will go forth.
Bào thai trong bụng nàng đã trưởng thành. Nào, hãy sinh hạ đứa con trai có dung sắc vẹn toàn. Sau khi từ bỏ nó, ta sẽ xuất gia.
209.
209.
209.
‘‘Mā tvaṃ cande rudi, mā soci vanatimiramattakkhi;
Āroha varapāsādaṃ †, anapekkho ahaṃ gamissāmi’’.
Do not weep, O Candā, do not grieve, you whose eyes are dark as the forest's gloom. Ascend the excellent palace; I shall depart without a backward glance.
Này Candā, nàng đừng khóc, đừng sầu muộn, hỡi người có đôi mắt thẳm sâu như rừng rậm. Hãy trở về cung điện nguy nga. Ta sẽ ra đi không chút đoái hoài.
210.
210.
210.
‘‘Ko taṃ amma kopesi, kiṃ rodasi pekkhasi ca maṃ bāḷhaṃ;
Kaṃ avajjhaṃ ghātemi †, ñātīnaṃ udikkhamānānaṃ’’.
Who has angered you, mother? Why do you weep and look at me so intensely? Whom shall I slay, though he be blameless, as our kinsmen look on?
Thưa mẫu hậu, ai đã làm người tức giận? Vì sao người khóc và nhìn con chằm chằm như vậy? Con sẽ giết kẻ nào, dù kẻ đó không đáng bị giết, ngay trước mắt các quyến thuộc.
211.
211.
211.
‘‘Na hi so sakkā hantuṃ, vijitāvī † yo maṃ tāta kopesi;
Pitā te maṃ tāta avaca, anapekkho ahaṃ gamissāmi’’.
He cannot be slain, my son, that conqueror who angered me. Your father, my son, said to me: 'I will depart unheeding.'
Này con yêu, không thể giết được người đó đâu, người chiến thắng đã làm mẹ tức giận. Này con yêu, phụ vương của con đã nói với mẹ rằng: 'Ta sẽ ra đi không chút đoái hoài'.
212.
212.
212.
‘‘Yohaṃ pubbe niyyāmi, uyyānaṃ mattakuñjare ca yodhemi;
Sutasome pabbajite, kathaṃ nu dāni karissāmi’’.
I who formerly went out to the pleasure garden and made intoxicated elephants fight; now that Sutasoma has gone forth, what shall I do?
Trước đây con thường đi đến ngự uyển và cho những con voi say chiến đấu. Nay khi vua Sutasoma đã xuất gia, con sẽ phải làm gì đây?
213.
213.
213.
‘‘Mātucca † me rudantyā †, jeṭṭhassa ca bhātuno akāmassa;
Hatthepi te gahessaṃ, na hi gacchasi † no akāmānaṃ’’.
My mother is weeping and my elder brother is unwilling. I will even seize you by the hand; you shall not go against our will.
Khi mẹ của con đang khóc, và anh cả của con không muốn, con sẽ nắm lấy tay người. Người sẽ không được đi khi chúng con không muốn.
214.
214.
214.
‘‘Uṭṭhehi tvaṃ dhāti, imaṃ kumāraṃ ramehi aññattha;
Mā me paripanthamakāsi †, saggaṃ mama patthayānassa’’.
Rise up, nurse, amuse this child elsewhere. Do not obstruct me as I aspire to heaven.
Này bảo mẫu, hãy đứng dậy, hãy đưa hoàng tử này đi nơi khác chơi. Đừng để nó trở thành chướng ngại cho ta, người đang mong cầu cõi trời.
215.
215.
215.
‘‘Yaṃ nūnimaṃ dadeyyaṃ † pabhaṅkaraṃ, ko nu me imināttho †;
Sutasome pabbajite, kiṃ nu menaṃ karissāmi’’.
This radiant gem that you would give me—what use is it to me? With Sutasoma having gone forth, what shall I do with it?
Viên ngọc rực rỡ này mà người đã ban cho con, bây giờ nó có ích gì cho con? Khi vua Sutasoma đã xuất gia, con sẽ làm gì với nó đây?
216.
216.
216.
‘‘Koso ca tuyhaṃ vipulo, koṭṭhāgārañca tuyhaṃ paripūraṃ;
Pathavī ca tuyhaṃ vijitā, ramassu mā pabbaji † deva’’.
Your treasury is vast, and your storehouses are full; the earth has been conquered by you. Enjoy yourself, O lord, do not go forth.
Tâu Đại vương, kho tàng của ngài rộng lớn, vựa lúa của ngài đầy ắp, và đất đai đã được ngài chinh phục. Xin ngài hãy hưởng lạc, đừng xuất gia.
217.
217.
217.
‘‘Koso ca mayhaṃ vipulo, koṭṭhāgārañca mayhaṃ paripūraṃ;
Pathavī ca mayhaṃ vijitā, taṃ hitvā pabbajissāmi’’.
My treasury is vast, and my storehouses are full; the earth has been conquered by me. Leaving that, I will go forth.
Kho tàng của ta rộng lớn, vựa lúa của ta đầy ắp, và đất đai đã được ta chinh phục. Từ bỏ những thứ đó, ta sẽ xuất gia.
218.
218.
218.
‘‘Mayhampi dhanaṃ pahūtaṃ, saṅkhātuṃ † nopi deva sakkomi;
Taṃ te dadāmi sabbampi †, ramassu mā pabbaji deva’’.
I too have abundant wealth, O lord; I am not even able to count it. I give all of it to you. Enjoy yourself, O lord, do not go forth!
Tâu Đại vương, hạ thần cũng có tài sản dồi dào, không thể đếm xuể. Hạ thần xin dâng tất cả cho ngài. Xin ngài hãy hưởng lạc, đừng xuất gia.
219.
219.
219.
‘‘Jānāmi † dhanaṃ pahūtaṃ, kulavaddhana pūjito tayā casmi;
Saggañca patthayāno, tena ahaṃ pabbajissāmi’’.
I know your wealth is abundant, O Kulavaddhana, and I am honored by you. But as I aspire to heaven, for that reason I shall go forth.
Này Kulavaddhana, ta biết tài sản của ông rất dồi dào, và ta được ông tôn kính. Nhưng ta đang mong cầu cõi trời, vì thế ta sẽ xuất gia.
220.
220.
220.
‘‘Ukkaṇṭhitosmi bāḷhaṃ, arati maṃ somadatta āvisati †;
Bahukāpi † me antarāyā, ajjevāhaṃ pabbajissāmi’’.
I am greatly distressed, Somadatta; discontent possesses me. My obstacles are many; this very day I shall go forth.
Này Somadatta, ta vô cùng phiền muộn, sự bất mãn xâm chiếm lấy ta. Ta thấy có nhiều chướng ngại. Ngay hôm nay ta sẽ xuất gia.
221.
221.
221.
‘‘Idañca tuyhaṃ rucitaṃ, sutasoma ajjeva dāni tvaṃ pabbaja;
Ahampi pabbajissāmi, na ussahe tayā vinā ahaṃ ṭhātuṃ’’.
If this is pleasing to you, Sutasoma, then go forth this very day. I too will go forth; I am unable to remain without you.
Hỡi Sutasoma, nếu đây là ý muốn của huynh, vậy thì ngay hôm nay huynh hãy xuất gia. Đệ cũng sẽ xuất gia. Đệ không thể ở lại mà không có huynh.
222.
222.
222.
‘‘Na hi sakkā pabbajituṃ, nagare na hi paccati janapade ca’’;
‘‘Sutasome pabbajite, kathaṃ nu dāni karissāma’’.
It is not possible for you to go forth, for no one is cooking in the city or the countryside. They lament, 'With Sutasoma having gone forth, what now shall we do?'
Không thể xuất gia được. Trong thành phố và ở thôn quê, không ai nấu nướng. Khi vua Sutasoma đã xuất gia, bây giờ chúng ta sẽ làm gì đây?
223.
223.
223.
‘‘Upanīyatidaṃ maññe, parittaṃ udakaṃva caṅkavāramhi;
Evaṃ suparittake jīvite, na ca pamajjituṃ kālo.
This life, I think, is drawn to its end, like the little water in a laundry boiler. In a life so very brief, there is no time for heedlessness.
Ta nghĩ rằng, đời sống này đang bị rút ngắn, giống như chút nước trong nồi hấp của thợ giặt. Khi đời sống quá ngắn ngủi như vậy, không có thời gian để buông lung.
224.
224.
224.
‘‘Upanīyatidaṃ maññe, parittaṃ udakaṃva caṅkavāramhi;
Evaṃ suparittake jīvite, andhabālā † pamajjanti.
This life, I think, is drawn to its end, like the little water in a laundry boiler. In a life so very brief, the blind and foolish are heedless.
Ta nghĩ rằng, đời sống này đang bị rút ngắn, giống như chút nước trong nồi hấp của thợ giặt. Khi đời sống quá ngắn ngủi như vậy, những kẻ ngu si mù quáng lại buông lung.
225.
225.
225.
‘‘Te vaḍḍhayanti nirayaṃ, tiracchānayoniñca pettivisayañca;
Taṇhāya bandhanabaddhā, vaḍḍhenti asurakāyaṃ’’.
They increase hell, the animal womb, and the realm of ghosts. Bound by the fetter of craving, they increase the host of asuras.
Bị trói buộc bởi xiềng xích của ái dục, họ làm tăng trưởng địa ngục, cõi súc sinh, và cảnh giới ngạ quỷ; họ làm tăng trưởng cõi a-tu-la.
226.
226.
226.
‘‘Ūhaññate rajaggaṃ, avidūre pubbakamhi ca † pāsāde;
Maññe no kesā chinnā, yasassino dhammarājassa’’.
A cloud of dust is raised not far from the Pubbaka palace. I think the hair of our glorious King of Righteousness has been shorn.
Đám bụi được tung lên, ở gần cung điện Pubbaka. Tôi nghĩ rằng tóc của vị Pháp vương lừng danh của chúng ta đã được cắt.
227.
227.
227.
‘‘Ayamassa pāsādo, sovaṇṇa † pupphamālyavītikiṇṇo;
Yahi † manuvicari rājā, parikiṇṇo itthāgārehi.
This is his palace, strewn with golden flowers and garlands, where the king used to wander, surrounded by his harem.
Đây là cung điện của ngài, được rải đầy hoa vàng và tràng hoa; nơi mà đức vua đã đi dạo, được các cung nữ vây quanh.
228.
228.
228.
‘‘Ayamassa pāsādo, sovaṇṇapupphamālyavītikiṇṇo;
Yahimanuvicari rājā, parikiṇṇo ñātisaṅghena.
This is his palace, strewn with golden flowers and garlands, where the king used to wander, surrounded by his assembly of kinsmen.
Đây là cung điện của ngài, được rải đầy hoa vàng và tràng hoa; nơi mà đức vua đã đi dạo, được các quyến thuộc vây quanh.
229.
229.
229.
‘‘Idamassa kūṭāgāraṃ, sovaṇṇapupphamālyavītikiṇṇaṃ;
Yahimanuvicari rājā, parikiṇṇo itthāgārehi.
This is his gabled chamber, strewn with golden flowers and garlands, where the king used to wander, surrounded by his harem.
Đây là lầu các của ngài, được rải đầy hoa vàng và tràng hoa; nơi mà đức vua đã đi dạo, được các cung nữ vây quanh.
230.
230.
230.
‘‘Idamassa kūṭāgāraṃ, sovaṇṇa † pupphamālyavītikiṇṇaṃ;
Yahimanuvicari rājā, parikiṇṇo ñātisaṅghena.
This is his gabled chamber, strewn with golden flowers and garlands, where the king used to wander, surrounded by his assembly of kinsmen.
Đây là lầu các của ngài, được rải đầy hoa vàng và tràng hoa; nơi mà đức vua đã đi dạo, được các quyến thuộc vây quanh.
231.
231.
231.
‘‘Ayamassa asokavanikā, supupphitā sabbakālikā rammā;
Yahimanuvicari rājā, parikiṇṇo itthāgārehi.
This is his Ashoka grove, beautifully in bloom, delightful in all seasons, where the king used to wander, surrounded by his harem.
Đây là khu rừng Vô Ưu của ngài, nở hoa tươi đẹp, trổ hoa quanh năm, thật khả ái; nơi mà đức vua đã đi dạo, được các cung nữ vây quanh.
232.
232.
232.
‘‘Ayamassa asokavanikā, supupphitā sabbakālikā rammā;
Yahimanuvicari rājā, parikiṇṇo ñātisaṅghena.
This is his Ashoka grove, beautifully in bloom, delightful in all seasons, where the king used to wander, surrounded by his assembly of kinsmen.
Đây là khu rừng Vô Ưu của ngài, nở hoa tươi đẹp, trổ hoa quanh năm, thật khả ái; nơi mà đức vua đã đi dạo, được các quyến thuộc vây quanh.
233.
233.
233.
‘‘Idamassa uyyānaṃ, supupphitaṃ sabbakālikaṃ rammaṃ;
Yahimanuvicari rājā, parikiṇṇo itthāgārehi.
This is his park, beautifully in bloom, delightful in all seasons, where the king used to wander, surrounded by his harem.
Đây là ngự uyển của ngài, nở hoa tươi đẹp, trổ hoa quanh năm, thật khả ái; nơi mà đức vua đã đi dạo, được các cung nữ vây quanh.
234.
234.
234.
‘‘Idamassa uyyānaṃ, supupphitaṃ sabbakālikaṃ rammaṃ;
Yahimanuvicari rājā, parikiṇṇo ñātisaṅghena.
This is his park, beautifully in bloom, delightful in all seasons, where the king used to wander, surrounded by his assembly of kinsmen.
Đây là ngự uyển của ngài, nở hoa tươi đẹp, trổ hoa quanh năm, thật khả ái; nơi mà đức vua đã đi dạo, được các quyến thuộc vây quanh.
235.
235.
235.
‘‘Idamassa kaṇikāravanaṃ, supupphitaṃ sabbakālikaṃ rammaṃ;
Yahimanuvicari rājā, parikiṇṇo itthāgārehi.
This is his Kaṇikāra grove, beautifully in bloom, delightful in all seasons, where the king used to wander, surrounded by his harem.
Đây là khu rừng Kaṇikāra của ngài, nở hoa tươi đẹp, trổ hoa quanh năm, thật khả ái; nơi mà đức vua đã đi dạo, được các cung nữ vây quanh.
236.
236.
236.
‘‘Idamassa kaṇikāravanaṃ, supupphitaṃ sabbakālikaṃ rammaṃ;
Yahimanuvicari rājā, parikiṇṇo ñātisaṅghena.
This is his Kaṇikāra grove, beautifully in bloom, delightful in all seasons, where the king used to wander, surrounded by his assembly of kinsmen.
Đây là khu rừng Kaṇikāra của ngài, nở hoa tươi đẹp, trổ hoa quanh năm, thật khả ái; nơi mà đức vua đã đi dạo, được các quyến thuộc vây quanh.
237.
237.
237.
‘‘Idamassa pāṭalivanaṃ †, supupphitaṃ sabbakālikaṃ rammaṃ;
Yahimanuvicari rājā, parikiṇṇo itthāgārehi.
This is his Pāṭali grove, beautifully in bloom, delightful in all seasons, where the king used to wander, surrounded by his harem.
Đây là khu rừng Pāṭali của ngài, nở hoa tươi đẹp, trổ hoa quanh năm, thật khả ái; nơi mà đức vua đã đi dạo, được các cung nữ vây quanh.
238.
238.
238.
‘‘Idamassa pāṭalivanaṃ, supupphitaṃ sabbakālikaṃ rammaṃ;
Yahimanuvicari rājā, parikiṇṇo ñātisaṅghena.
This is his Pāṭali grove, beautifully in bloom, delightful in all seasons, where the king used to wander, surrounded by his assembly of kinsmen.
Đây là khu rừng Pāṭali của ngài, nở hoa tươi đẹp, trổ hoa quanh năm, thật khả ái; nơi mà đức vua đã đi dạo, được các quyến thuộc vây quanh.
239.
239.
239.
‘‘Idamassa ambavanaṃ, supupphitaṃ sabbakālikaṃ rammaṃ;
Yahimanuvicari rājā, parikiṇṇo itthāgārehi.
This is his mango grove, beautifully in bloom, delightful in all seasons, where the king used to wander, surrounded by his harem.
Đây là khu rừng xoài của ngài, nở hoa tươi đẹp, trổ hoa quanh năm, thật khả ái; nơi mà đức vua đã đi dạo, được các cung nữ vây quanh.
240.
240.
240.
‘‘Idamassa ambavanaṃ, supupphitaṃ sabbakālikaṃ rammaṃ;
Yahimanuvicari rājā, parikiṇṇo ñātisaṅghena.
This is his mango grove, beautifully in bloom, delightful in all seasons, where the king used to wander, surrounded by his assembly of kinsmen.
Đây là khu rừng xoài của ngài, nở hoa tươi đẹp, trổ hoa quanh năm, thật khả ái; nơi mà đức vua đã đi dạo, được các quyến thuộc vây quanh.
241.
241.
241.
‘‘Ayamassa pokkharaṇī, sañchannā aṇḍajehi vītikiṇṇā;
Yahimanuvicari rājā, parikiṇṇo itthāgārehi.
This is his lotus pond, covered over and teeming with birds, where the king used to wander, surrounded by his harem.
Đây là hồ sen của ngài, được bao phủ và đầy ắp các loài chim; nơi mà đức vua đã đi dạo, được các cung nữ vây quanh.
242.
242.
242.
‘‘Ayamassa pokkharaṇī, sañchannā aṇḍajehi vītikiṇṇā;
Yahimanuvicari rājā, parikiṇṇo ñātisaṅghena’’.
This is his lotus pond, covered over and teeming with birds, where the king used to wander, surrounded by his assembly of kinsmen.
Đây là hồ sen của ngài, được bao phủ và đầy ắp các loài chim; nơi mà đức vua đã đi dạo, được các quyến thuộc vây quanh.
243.
243.
243.
‘‘Rājā vo kho † pabbajito, sutasomo rajjaṃ imaṃ pahatvāna †;
Kāsāyavatthavasano, nāgova ekako † carati’’.
Your king, Sutasoma, has indeed gone forth, having abandoned this kingdom; clad in ochre robes, he wanders alone like a great elephant.
Đức vua Sutasoma của quý vị, sau khi từ bỏ vương quốc này, đã xuất gia; khoác y màu cà-sa, ngài đi một mình như một con voi chúa.
244.
244.
244.
‘‘Māssu pubbe ratikīḷitāni, hasitāni ca anussarittha †;
Mā vo kāmā haniṃsu, rammaṃ hi † sudassanaṃ † nagaraṃ.
Do not recall former pleasures, sports, and laughter. Let not sensual desires destroy you, for the city of Sudassana is delightful.
Chớ nên tưởng nhớ lại những thú vui, trò chơi, và tiếng cười trong quá khứ. Chớ để các dục lạc hủy hoại quý vị; chớ nên tưởng nhớ thành Sudassana khả ái.
245.
245.
245.
‘‘Mettacittañca † bhāvetha, appamāṇaṃ divā ca ratto ca;
Agacchittha † devapura, āvāsaṃ puññakammina’’nti †.
Cultivate a mind of loving-kindness, immeasurable, day and night. You will reach the city of the gods, the abode of those of meritorious deeds.
Và hãy tu tập tâm từ vô lượng, cả ngày lẫn đêm; rồi quý vị sẽ đi đến cõi trời, nơi ở của những người có phước.
Cūḷasutasomajātakaṃ pañcamaṃ.
The Cūḷasutasoma Jātaka, the Fifth.
Chuyện Bổn Sanh Tiểu Sutasoma, phần thứ năm.
The Book of the Forties is concluded.
Phẩm Bốn Mươi Kệ đã kết thúc.
Tassuddānaṃ –
The summary thereof:
Phần tóm lược của phẩm ấy –
Suvapaṇḍitajambukakuṇḍalino, varakaññamalambusajātakañca;
Pavaruttamasaṅkhasirīvhayako, sutasomaarindhamarājavaro.
Suvaṇṇa-paṇḍita, Jambuka, and Kuṇḍalinī; the Jātaka of the excellent maiden Alambusā; the most excellent one named Saṅkha-sirī; Sutasoma, and the excellent king Arindama.
Chuyện Tesakuṇa, Sarabhaṅga, Alambusā, Saṅkhapāla, và Cūḷasutasoma, vị vua cao quý.