Bản dịch
JA 524 — Chuyện long vương Samkhapàla (Tiền thân Samkhapàla)
4. Saṅkhapālajātaka
3223. “Với tướng hảo quang minh, đôi mắt trong sáng, trẫm nghĩ rằng đại đức đã xuất thân từ gia đình danh giá. Thưa bậc có trí tuệ, vì lý do gì đại đức đã dứt bỏ các tài sản của cải, đã lìa khỏi gia đình, và đã xuất gia?”
3224. “’Tâu vị chúa của con người, sau khi tự nhìn nhìn thấy cung điện của Chúa Rồng có đại năng lực, sau khi nhìn thấy quả thành tựu lớn lao của các việc phước thiện, vì đức tin tôi đã xuất gia, tâu bệ hạ.”
3225. “Không vì ham muốn dục vọng, không vì sợ hãi, không vì si mê mà các bậc xuất gia nói lời dối trá. Được hỏi, xin đại đức hãy giải thích điều ấy cho trẫm. Sau khi lắng nghe, niềm tịnh tín sẽ sanh lên cho trẫm.”
3226. “Tâu vị lãnh đạo đất nước, trong khi đi buôn bán, tôi đã nhìn thấy những đứa trẻ dã man đang vui mừng đi ở trên đường lộ, mang theo con vật bò sát to lớn có cơ thể đã phát triển.
3227. Tâu vị chúa của loài người, tôi đây bị kinh hãi, có lông dựng đứng, đã đi đến gặp chúng và đã nói với chúng rằng: ‘Con vật có cơ thể dễ sợ này bị đem đi đâu vậy? Này các trai làng, các người sẽ làm gì với con rắn này?’
3228. ‘Con rắn này bị đem đi vì mục đích thực phẩm. Nó là con vật bò sát to lớn có cơ thể đã phát triển. Và thịt (của nó) ngọt, béo, mềm. Này người con trai xứ Videha, ông không biết hương vị (của nó).’
3229. Từ nơi này, chúng tôi sẽ đi về chỗ ở của mình, sẽ cầm lấy các con dao, sẽ cắt ra, và sẽ vui mừng thưởng thức các miếng thịt. Bởi vì chúng tôi chính là những kẻ thù của các con rắn.’
3230. ‘Nếu con vật này bị đem đi vì mục đích thực phẩm. Nó là con vật bò sát to lớn có cơ thể đã phát triển. Tôi biếu các người mười sáu con bò đực. Các người hãy phóng thích con rắn này khỏi sự trói buộc.’
3231. ‘Quả thật, món ăn này mới hợp ý chúng tôi. Và những loài bò sát, đối với chúng tôi đã được ăn trước đây nhiều rồi. Này ông Aḷāra, chúng tôi làm theo lời nói ấy của ông. Này người con trai xứ Videha, ông hãy là bạn của chúng tôi.’
3232. Tất nhiên, bọn chúng đã phóng thích con rắn khỏi sự trói buộc, là sự vướng mắc vào sợi dây đã được xuyên qua lỗ mũi của con rắn. Và được tự do khỏi sự trói buộc, con rắn chúa ấy đã mau chóng trườn đi, với mặt hướng về phía đông.
3233. Sau khi đã mau chóng trườn đi, với mặt hướng về phía đông, con rắn đã ngước nhìn tôi với hai mắt đẫm lệ. Khi ấy, tôi đã đi theo phía sau của con rắn, sau khi đã đưa lên mười ngón tay được chắp lại, (nói rằng):
3234. ‘Ngươi hãy mau mau đi đi. Chớ để các kẻ thù bắt lại ngươi lần nữa. Bởi vì, việc gặp lại những kẻ hung bạo lần nữa thì khổ lắm. Ngươi hãy đi khuất tầm nhìn của những gã trai làng.’
3235. Con rắn đã đi đến một hồ nước trong veo, có màu nước xanh, đáng yêu, có bến tắm xinh, được trải dài với những cây mận và những cây lau sậy. Với nỗi sợ hãi đã qua đi, con rắn đã hớn hở trườn vào hồ nước.
3236. Sau khi trườn vào hồ nước không bao lâu, tâu vị chúa của loài người, con rắn ấy đã hiện ra trước mặt tôi với dáng vóc thiên thần. Con rắn đã phục vụ cho tôi, tựa như đứa con trai phục vụ người cha, trong lúc thốt ra lời nói thấm vào trái tim, thoải mái lỗ tai.
3237. ‘Này Aḷāra, ông là người mẹ, là người cha của ta, là máu thịt, là người đã ban cho mạng sống, là người cộng sự của ta. Và ta đã đạt lại thần lực của mình. Này Aḷāra, ông hãy xem các chỗ trú ngụ của ta, có vô số thức ăn, có nhiều cơm nước, tựa như cung điện Masakkasāra của Thiên Chủ Vāsava.
3238. Nơi ấy có hình thức được cấu trúc với nhiều phần đất. Các phần đất ấy không có sỏi, êm ái, và xinh đẹp, có các loài cỏ thấp, và mặt đất không có bụi, tạo ra sự dễ chịu; là nơi mọi người buông bỏ sầu muộn.
3239. Không bị lồi lõm, (có hồ nước) gần như màu xanh ngọc bích, ở bốn hướng có rừng xoài vô cùng đáng yêu, với những chùm trái chín có trái vô cùng xum xuê, quanh năm thường xuyên trĩu nặng những trái cây.
3240. ’Tâu vị chúa của con người, ở giữa các khu rừng ấy là nơi trú ngụ có vẻ ngoài rực rỡ, cao quý làm bằng vàng, có chốt cửa bằng bạc, phát sáng tựa như tia chớp ở không trung.
3241. Tâu bệ hạ, (các gian phòng) được làm bằng ngọc ma-ni, được làm bằng vàng, cao quý, có nhiều tranh vẽ thường xuyên khéo được hóa hiện ra, được đông đúc với các thiếu nữ đã được trang điểm, có mang các vòng vàng ở cánh tay.
3242. Vị Saṅkhapāla ấy, có sắc đẹp hoàn hảo, đã vội vã bước lên tòa lâu đài có sự uy nghi không thể sánh bằng với một ngàn cột trụ, nơi ấy hoàng hậu, người vợ của vị ấy, cư ngụ.
3243. Và một nữ nhân, không được sai bảo, đã vội vã cầm lấy và mang lại chiếc ghế xinh đẹp, làm bằng ngọc bích, vô cùng giá trị, được gắn viên ngọc ma-ni nguyên chất.
3244. Kế đó, vị Long Vương đã cầm lấy tôi ở bàn tay và đã mời tôi ngồi vào chiếc ghế cao nhất (nói rằng): ‘Thưa ngài, hãy ngồi ở chiếc ghế này tại đây, bởi vì ngài là một trong những vị quan trọng đối với ta.’
3245. Và một nữ nhân khác đã vội vã lấy nước mang đến gần và đã rửa sạch hai bàn chân của tôi, tâu vị chúa của loài người, tựa như người vợ rửa chân cho người chồng, người chủ nhân yêu quý.
3246. Và một nữ nhân khác nữa đã vội vã trình lên chiếc đĩa làm bằng vàng, và đã dâng bữa ăn có hình thức hấp dẫn, với nhiều xúp, với nhiều loại thức ăn phụ.
3247. Tâu vị cai quản đất nước, khi tôi đã ăn xong bữa ăn, biết được tâm ý của chồng, các nàng đã phục vụ tôi bằng các loại nhạc cụ. Chúa rồng đã cung phụng tôi còn lớn lao hơn thế nữa bằng các dục của cõi Trời không phải là ít, (nói rằng):
3248. ‘Thưa Aḷāra, ba trăm nàng này là những người vợ của ta, tất cả đều có lưng ong, có sự rạng rỡ vượt trội hoa sen. Thưa Aḷāra, các nàng sẽ phục vụ dục lạc cho ngài. Ta ban tặng các nàng đến ngài. Ngài hãy để cho các nàng ấy hầu hạ.’
3249. Sau khi hưởng thụ hương vị (ngũ dục) ở cõi Trời một năm, khi ấy, tôi đã hỏi về sự vươn lên của vị này: ‘Việc này của Long Vương là như thế nào? Và đã đạt được như thế nào? Làm thế nào ngài đã có được cung điện tuyệt vời?
3250. Có phải đạt được do ngẫu nhiên, nó đã được sanh lên dành riêng cho ngài, nó đã được tự thân làm ra, hay là đã được chư Thiên ban tặng? Thưa Long Vương, tôi hỏi ngài về sự việc này. Làm thế nào ngài đã có được cung điện tuyệt vời?’
3251. ‘Nó không phải đạt được do ngẫu nhiên, nó không phải đã được sanh lên dành riêng cho tôi, không phải đã được tự thân tạo ra, cũng không phải đã được chư Thiên ban tặng. Tôi đã đạt được cung điện này nhờ vào các việc phước thiện, nhờ vào các hành động không xấu xa của bản thân.’
3252. ‘Phận sự của ngài là gì? Thêm nữa, Phạm hạnh của ngài là gì? Quả thành tựu này là của việc nào đã khéo được thực hành? Thưa Long Vương, tôi hỏi ngài về sự việc này. Làm thế nào ngài đã có được cung điện tuyệt vời này?’
3253. ‘Tôi đã là vị vua, vị chúa tể của xứ Magadha, tên là Duyyodhana có đại thần lực. Tôi đây đã biết được mạng sống là ngắn ngủi, không thường còn, có tính chất biến hoại.
3254. Có tâm tịnh tín, tôi đã bố thí rộng rãi vật thí, cơm ăn, và nước uống một cách trân trọng. Khi ấy, ngôi nhà của tôi đã có hình thức như là cái giếng nước, và các vị Sa-môn, Bà-la-môn đã được toại ý.
3255. Tại nơi ấy, chúng tôi đã ban phát các vật thí một cách trân trọng, như là tràng hoa, hương thơm, và dầu thoa, đèn đuốc, xe thuyền, và chỗ trú ngụ, vải vóc che thân, giường nằm, rồi cơm nước.
3256. Việc ấy đã là phận sự của tôi. Việc ấy còn là Phạm hạnh của tôi. Quả thành tựu này là của việc đã khéo được thực hành ấy. Chính nhờ vào việc ấy, tôi đã có được cung điện tuyệt vời này, có vô số thức ăn, có nhiều cơm nước, và có hình thức được cung ứng với các điệu vũ lời ca; việc này được tồn tại lâu dài, nhưng không vĩnh viễn.’
3257. ‘Tại vì sao mà những kẻ không có uy quyền, có năng lực ít ỏi lại có thể hành hạ ngài là người có uy quyền, có đại thần lực? Thưa vị có răng nanh là vũ khí, liên quan đến điều gì mà ngài đã phải chịu nằm yên ở trong tay của những kẻ khốn cùng?
3258. Phải chăng uy lực của ngài đã đi theo nỗi sợ hãi lớn lao? Tại vì sao mà uy lực của ngài không đi vào gốc rễ của chiếc răng? Thưa vị có răng nanh là vũ khí, liên quan đến điều gì mà ngài đã phải chịu sự quấy nhiễu của những kẻ khốn cùng?’
3259. ‘Uy lực của ta đã không đi theo nỗi sợ hãi lớn lao. Uy lực của ta không thể bị hủy hoại bởi bọn chúng. Các lời giáo huấn của các bậc thiện nhân đã khéo được thuyết giảng là không thể vi phạm, tựa như bờ biển là không thể được qua.
3260. Này Aḷāra, vào ngày mười bốn và ngày mười lăm, ta thường xuyên thực hành ngày trai giới. Khi ấy, mười sáu gã trai làng đã đi đến mang theo dây thừng và lưới bẫy chắc chắn.
3261. Sau khi đâm thủng lỗ mũi và xuyên sợi dây qua, những kẻ hung bạo đã nắm lấy ta và lôi ta đi. Tôi đã chịu đựng sự khổ đau như thế ấy, trong khi không làm hư hoại ngày trai giới.’
3262. ‘Bọn trai làng đã nhìn thấy ngài trên đường đi, ở lối đi bộ với vóc dáng đầy đủ sức mạnh và sắc đẹp. Ngài đã được thành tựu về quyền uy và trí tuệ, thưa Long Vương, vì mục đích gì mà ngài thực hành khổ hạnh?
3263. ‘Không vì nguyên nhân con trai, không vì nguyên nhân tài sản, và cũng không vì nguyên nhân tuổi thọ, này Aḷāra, trong khi ước nguyện về bản thể loài người, sau khi nỗ lực vì điều ấy, ta đã thực hành hạnh khắc khổ.’
3264. ‘Với mắt đỏ ngầu, với bờ vai rộng, đã được trang điểm, có râu tóc đã được chăm sóc, khéo được thoa trầm hương đỏ, ngài tỏa sáng các phương tựa như vị vua của các Càn-thát-bà.
3265. Ngài đã đạt được thần thông của chư Thiên, có đại oai lực, được phú cho tất cả các dục. Thưa Long Vương, tôi hỏi ngài ý nghĩa này, thế giới loài người tốt hơn nơi này bởi điều gì?’
3266. ‘Này Aḷāra, ngoại trừ thế giới loài người, không nơi nào khác được tìm thấy sự trong sạch và sự tự kiềm chế. Và ta sau khi đạt được bản thể loài người, sẽ thực hiện việc chấm dứt sanh tử.’
3267. ‘Một năm qua tôi được sống bên cạnh ngài, tôi được phục vụ cơm ăn nước uống. Thưa Long Vương, sau khi thông báo thì tôi ra đi. Tâu vị chúa của loài người, tôi sống xa nhà đã lâu.’
3268. ‘Vợ, các con, và những người sống phụ thuộc thường xuyên được giáo huấn, có thể phục vụ ông. Có lẽ không người nào đã mắng nhiếc ông? Bởi vì, này Aḷāra, việc nhìn thấy ông là điều yêu thích của ta.’
3269. ‘Cũng giống như người mẹ và người cha ở gia đình, người con trai sống, được yêu thương, được chăm sóc; tuy nhiên, đối với tôi, chính nơi này là tốt hơn nơi ấy, bởi vì, thưa Long Vương, tâm của ngài được tịnh tín ở nơi tôi.’
3270. ‘Viên ngọc ma-ni của ta được biết là viên hồng ngọc, bảo vật ma-ni cao quý là vật mang lại tài sản. Ông hãy cầm lấy nó và đi về chỗ ở của mình. Sau khi đạt được tài sản, ông hãy trả lại viên ngọc ma-ni ấy.’
3271. Tôi nhìn thấy các dục thuộc về nhân loại là không thường còn, có tính chất biến hoại. Sau khi nhìn thấy điều bất lợi ở các loại dục, vì đức tin tôi đã xuất gia, tâu bệ hạ.
3272. Tựa như các trái ở trên cây rụng xuống, loài người, ở tuổi non trẻ và già cả, khi có sự tan rã thân xác đều ngã xuống. Tâu bệ hạ, sau khi nhìn thấy điều ấy, tôi đã xuất gia. Chỉ có đời sống Sa-môn không có lỗi lầm là tốt hơn.”
3273. “Quả thật, đúng vậy, nên thân cận các bậc có trí tuệ, các bậc đa văn, các vị có những suy nghĩ thiết thực. Này Aḷāra, sau khi lắng nghe vị Long Vương và đại đức, trẫm sẽ làm các việc phước thiện không phải là ít.”
3274. “Quả thật, đúng vậy, nên thân cận các bậc có trí tuệ, các bậc đa văn, các vị có những suy nghĩ thiết thực. Tâu bệ hạ, sau khi lắng nghe vị Long Vương và tôi, bệ hạ hãy làm các việc phước thiện không phải là ít.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Ariyāvakāsosi pasannanetto, maññe bhavaṃ pabbajito kulamhā;
Kathaṃ nu vittāni pahāya bhoge, pabbaji nikkhamma gharā sapañña’’ †.
“You have the appearance of a noble one, with serene eyes; I believe you have gone forth from a noble family. How then, being a man of wisdom, did you go forth from home into homelessness, having abandoned wealth and possessions?”
Ngài có dáng vẻ cao quý, đôi mắt trong sáng. Tôi nghĩ rằng ngài đã xuất gia từ một gia đình cao quý. Thưa bậc trí tuệ, vì sao ngài lại từ bỏ tài sản và các thú vui, rời khỏi gia đình để xuất gia?
144.
144.
144.
‘‘Sayaṃ vimānaṃ naradeva disvā, mahānubhāvassa mahoragassa;
Disvāna puññāna mahāvipākaṃ, saddhāyahaṃ pabbajitomhi rāja’’.
“Having seen for myself, O god among men, the celestial mansion of the great serpent, mighty in power, and having seen the great result of merit, I have gone forth in faith, O king.”
Tâu Đại vương, bậc Chúa tể của loài người, chính tôi đã thấy cung điện của vị đại xà vương có oai lực vĩ đại; và đã thấy quả báo to lớn của các công đức, do đó, tâu Đại vương, tôi đã xuất gia với lòng tin.
145.
145.
145.
‘‘Na kāmakāmā na bhayā na dosā, vācaṃ musā pabbajitā bhaṇanti;
Akkhāhi me pucchito etamatthaṃ, sutvāna me jāyihitippasādo’’.
“Not for the sake of sensual pleasure, not out of fear, nor out of hatred do the renunciants speak falsehood. Being asked, explain this matter to me; upon hearing it, serene confidence will arise in me.”
Những người xuất gia không nói lời dối trá vì tham muốn, vì sợ hãi, hay vì sân hận. Khi được hỏi, xin ngài hãy kể cho tôi nghe về việc này. Sau khi nghe, lòng tịnh tín sẽ phát sinh trong tôi.
146.
146.
146.
‘‘Vāṇijja † raṭṭhādhipa gacchamāno, pathe addasāsimhi bhojaputte †;
Pavaddhakāyaṃ uragaṃ mahantaṃ, ādāya gacchante pamodamāne’’.
“While going on a trading journey, O ruler of the land, I saw on the path the sons of Bhoja, who were carrying away a great, large-bodied serpent, rejoicing as they went.”
Tâu Quốc vương, khi đang đi buôn bán, trên đường tôi đã thấy những người thợ săn, họ đang vui mừng mang đi một con rắn lớn, thân hình to lớn.
147.
147.
147.
‘‘Sohaṃ samāgamma janinda tehi, pahaṭṭhalomo avacamhi bhīto;
Kuhiṃ ayaṃ nīyati † bhīmakāyo, nāgena kiṃ kāhatha bhojaputtā.
“So I, O lord of men, approached them, and with my hair standing on end, I spoke in fear: ‘Where is this one of dreadful body being taken? What will you do with this serpent, O sons of Bhoja?’”
Tâu Nhân chủ, tôi đã đến gần họ, với lòng sợ hãi, lông tóc dựng đứng, và hỏi rằng: 'Này các thợ săn, con rắn có thân hình đáng sợ này đang được mang đi đâu? Các vị sẽ làm gì với con rắn này?'
148.
148.
148.
‘‘Nāgo ayaṃ nīyati bhojanatthā †, pavaddhakāyo urago mahanto;
Sāduñca thūlañca muduñca maṃsaṃ, na tvaṃ rasaññāsi videhaputta.
“This serpent is being taken for food, a great, large-bodied serpent. Its flesh is tasty, thick, and tender—you do not know its flavor, O son of Videha.”
Con rắn này, một con rắn lớn với thân hình to lớn, đang được mang đi để làm thức ăn. Thịt của nó vừa ngon, vừa béo, vừa mềm. Hỡi người con của xứ Videha, ông không biết hương vị của nó đâu.
149.
149.
149.
‘‘Ito mayaṃ gantvā sakaṃ niketaṃ †, ādāya satthāni vikopayitvā;
Maṃsāni bhokkhāma † pamodamānā, mayañhi ve sattavo pannagānaṃ.
“Going from here to our own dwelling, and taking up knives, we will cut it up. We will eat the flesh, rejoicing, for we are indeed the enemies of serpents.”
Từ đây, chúng tôi sẽ mang nó về nhà, lấy dao xẻ thịt, rồi vui vẻ ăn thịt nó. Quả thật, chúng tôi là kẻ thù của loài rắn.
150.
150.
150.
‘‘Sace ayaṃ nīyati bhojanatthā, pavaddhakāyo urago mahanto;
Dadāmi vo balibaddāni † soḷasa, nāgaṃ imaṃ muñcatha bandhanasmā.
“If this great, large-bodied serpent is being taken for food, I will give you sixteen oxen; release this serpent from its bonds.”
Nếu con rắn lớn với thân hình to lớn này được mang đi để làm thức ăn, tôi sẽ cho các vị mười sáu con bò kéo xe. Xin hãy thả con rắn này khỏi sự trói buộc.
151.
151.
151.
‘‘Addhā hi no bhakkho ayaṃ manāpo, bahū ca no uragā bhuttapubbā †;
Karoma te taṃ vacanaṃ aḷāra †, mittañca no hohi videhaputta.
“Truly, this is pleasing food for us, and we have eaten many serpents before. We will do your bidding, Āḷāra, and you shall be our friend, O son of Videha.”
Quả thật, đây là món ăn khoái khẩu của chúng tôi, và chúng tôi đã từng ăn nhiều rắn trước đây. Thưa ngài Āḷāra, chúng tôi sẽ làm theo lời ngài. Và xin ngài hãy là bạn của chúng tôi, hỡi người con của xứ Videha.
152.
152.
152.
‘‘Tadassu te bandhanā mocayiṃsu, yaṃ natthuto paṭimokkassa pāse;
Mutto ca so bandhanā nāgarājā, pakkāmi pācīnamukho muhuttaṃ.
“Then they released him from the bonds, from the snare that was fastened through his nostril. And that Nāga king, freed from his bonds, departed facing east for a moment.”
Khi ấy, họ đã giải thoát nó khỏi sự trói buộc, khỏi chiếc thòng lọng đã được xỏ qua mũi nó. Và được giải thoát khỏi sự trói buộc, vị Long vương ấy đã đi về hướng đông một lúc.
153.
153.
153.
‘‘Gantvāna pācīnamukho muhuttaṃ, puṇṇehi nettehi palokayī maṃ;
Tadāssahaṃ piṭṭhito anvagacchiṃ, dasaṅguliṃ añjaliṃ paggahetvā.
“Having gone eastward for a moment, he looked back at me with eyes full of tears. Then I followed behind him, raising my joined hands in reverence.”
Sau khi đi về hướng đông một lúc, nó nhìn lại tôi với đôi mắt đẫm lệ. Khi ấy, tôi đã chắp tay mười ngón, đi theo sau nó.
154.
154.
154.
‘‘Gaccheva kho tvaṃ taramānarūpo, mā taṃ amittā punaraggahesuṃ;
Dukkho hi luddehi punā samāgamo, adassanaṃ bhojaputtāna gaccha.
“Go now, and make haste, lest your enemies seize you again. Painful indeed is another encounter with the cruel. Go where you will be unseen by the sons of Bhoja.”
Xin ngài hãy đi nhanh lên, đừng để kẻ thù bắt lại ngài lần nữa. Gặp lại những kẻ tàn ác quả là đau khổ. Xin hãy đi đến nơi mà những người thợ săn không thể nhìn thấy.
155.
155.
155.
‘‘Agamāsi so rahadaṃ vippasannaṃ, nīlobhāsaṃ ramaṇīyaṃ sutitthaṃ;
Samotataṃ † jambuhi vetasāhi, pāvekkhi nittiṇṇabhayo patīto.
“He came to a very clear lake, blue-shining, delightful, with excellent fords; bordered by rose-apple and cane trees, he entered it, with fear overcome, delighted.”
Nó đã đến một hồ nước trong vắt, có màu xanh biếc, đẹp đẽ, với những bến tắm tốt. Hồ được bao quanh bởi những cây trâm và cây mây. Thoát khỏi sợ hãi và lòng đầy hoan hỷ, nó đã đi vào hồ.
156.
156.
156.
‘‘So taṃ pavissa na cirassa nāgo, dibbena me pāturahuṃ janinda;
Upaṭṭhahī maṃ pitaraṃva putto, hadayaṅgamaṃ kaṇṇasukhaṃ bhaṇanto.
“Having entered it, O lord of men, the Nāga appeared before me not long after in divine form. He attended to me as a son to his father, speaking words that go to the heart and are pleasant to the ear.”
Tâu Nhân chủ, sau khi vào hồ nước ấy, không lâu sau, con rắn ấy đã hiện ra trước mặt tôi với hình tướng thiên nhân. Nó đã hầu hạ tôi như con trai hầu hạ cha, nói những lời cảm động và êm tai.
157.
157.
157.
‘‘Tvaṃ mesi mātā ca pitā † aḷāra, abbhantaro pāṇadado sahāyo;
Sakañca iddhiṃ paṭilābhakosmi †, aḷāra passa me nivesanāni;
Pahūtabhakkhaṃ bahuannapānaṃ, masakkasāraṃ viya vāsavassa’’.
“You are my mother and father, Āḷāra, an intimate friend, a giver of life. I have regained my power. Āḷāra, behold my dwellings, with abundant food, with much food and drink, like the Masakkasāra mansion of Vāsava.”
Thưa ngài Āḷāra, ngài là mẹ, là cha của tôi, là người bạn thân thiết đã ban lại mạng sống cho tôi. Tôi đã lấy lại được thần thông của mình. Thưa ngài Āḷāra, xin hãy xem các cung điện của tôi, có nhiều thức ăn, nhiều cơm nước, giống như cung điện Masakkasāra của trời Vāsava.
158.
158.
158.
‘‘Taṃ bhūmibhāgehi upetarūpaṃ, asakkharā ceva mudū subhā ca;
Nīcattiṇā † apparajā ca bhūmi, pāsādikā yattha jahanti sokaṃ.
“That place is endowed with excellent grounds, free from gravel, soft and lovely; the earth has low grass and little dust, a delightful place where beings abandon sorrow.”
Nơi đây, chúng sanh từ bỏ mọi sầu muộn. Vùng đất này có những đặc điểm: mặt đất không có sỏi đá, mềm mại và xinh đẹp, cỏ mọc thấp, ít bụi bặm, và trông thật đáng ưa.
159.
159.
159.
‘‘Anāvakulā veḷuriyūpanīlā, catuddisaṃ ambavanaṃ surammaṃ;
Pakkā ca pesī ca phalā suphullā, niccotukā dhārayantī phalāni.
“There are clear ponds, blue as beryl, and in the four directions, a most delightful mango grove. The trees are in full bloom and bear fruit both ripe and young; they are in season perpetually, always bearing fruit.”
Những hồ nước trong xanh như ngọc lưu ly, ở bốn phương là những vườn xoài rất đẹp. Cây cối trổ hoa sum suê, có cả quả chín lẫn quả non, và ra quả quanh năm.
160.
160.
160.
‘‘Tesaṃ vanānaṃ naradeva majjhe, nivesanaṃ bhassarasannikāsaṃ;
Rajataggaḷaṃ sovaṇṇamayaṃ uḷāraṃ, obhāsatī vijjurivantalikkhe.
“In the midst of those groves, O god among men, is a dwelling of radiant appearance, magnificent and made of gold, with silver bolts, shining in the sky like lightning.”
Tâu Nhân chủ, giữa những khu rừng ấy, có một cung điện rực rỡ, then cài bằng bạc, làm bằng vàng, thật nguy nga, tỏa sáng trên không trung như tia chớp.
161.
161.
161.
‘‘Maṇīmayā soṇṇamayā † uḷārā, anekacittā satataṃ sunimmitā;
Paripūrā kaññāhi alaṅkatābhi, suvaṇṇakāyūradharāhi rāja.
“Made of jewels and gold, they are magnificent, of many varied designs, always well-wrought; they are filled with beautifully adorned maidens wearing golden armlets, O king.”
Tâu Đại vương, những gian phòng làm bằng ngọc, bằng vàng, thật nguy nga, được khéo tạo tác và trang trí đa dạng, luôn luôn đầy ắp những thiếu nữ được trang điểm, đeo vòng vàng.
162.
162.
162.
‘‘So saṅkhapālo taramānarūpo, pāsādamāruyha anomavaṇṇo;
Sahassathambhaṃ atulānubhāvaṃ, yatthassa bhariyā mahesī ahosi.
“That Saṅkhapāla, swift of form and of excellent beauty, ascended the palace of a thousand pillars and of incomparable majesty, where his wife, the chief queen, resided.”
Vị Saṅkhapāla ấy, có dung sắc tuyệt vời, vội vã dẫn tôi lên lầu đài có ngàn cột trụ, oai lực không gì sánh bằng, đến nơi mà chánh phi của ngài đang ở.
163.
163.
163.
‘‘Ekā ca nārī taramānarūpā, ādāya veḷuriyamayaṃ mahagghaṃ;
Subhaṃ maṇiṃ jātimantūpapannaṃ, acoditā āsanamabbhihāsi.
“And one woman, swift of form, unbidden, brought a seat made of priceless beryl, a beautiful, jewelled seat of the finest quality.”
Và một người phụ nữ, vội vã, không cần ai nhắc nhở, đã mang đến một chiếc ghế làm bằng ngọc lưu ly, rất quý giá, xinh đẹp, và được khảm những viên ngọc quý.
164.
164.
164.
‘‘Tato maṃ urago hatthe gahetvā, nisīdayī pāmukhaāsanasmiṃ;
Idamāsanaṃ atra bhavaṃ nisīdatu, bhavañhi me aññataro garūnaṃ.
“Then the serpent took me by the hand and seated me on the foremost seat, saying, ‘May the venerable one be seated here, for you are indeed one of my revered elders.’”
Sau đó, vị Long vương nắm tay tôi và mời tôi ngồi vào ghế chính, nói rằng: 'Đây là chỗ ngồi, xin ngài hãy an tọa nơi đây, vì ngài là một trong những bậc đáng kính của tôi.'
165.
165.
165.
‘‘Aññā ca nārī taramānarūpā, ādāya vāriṃ upasaṅkamitvā;
Pādāni pakkhālayī me janinda, bhariyāva † bhattū patino piyassa.
“And another woman, swift of form, approached carrying water. O lord of men, she washed my feet, like a wife her beloved husband and master.”
Tâu Nhân chủ, một người phụ nữ khác vội vã mang nước đến gần và rửa chân cho tôi, như một người vợ rửa chân cho người chồng, người chủ thân yêu của mình.
166.
166.
166.
‘‘Aparā ca nārī taramānarūpā, paggayha sovaṇṇamayāya † pātiyā;
Anekasūpaṃ vividhaṃ viyañjanaṃ, upanāmayī bhatta manuññarūpaṃ.
“And another woman, swift of form, holding up a golden bowl, offered delightful food with many curries and various relishes.”
Một người phụ nữ khác nữa, vội vã, dâng lên trong một chiếc bát bằng vàng, nhiều món canh và các loại thức ăn khác nhau, cùng với cơm rất ngon.
167.
167.
167.
‘‘Turiyehi † maṃ bhārata bhuttavantaṃ, upaṭṭhahuṃ bhattu mano viditvā;
Tatuttariṃ † maṃ nipatī mahantaṃ, dibbehi kāmehi anappakehi.
“When I had eaten, O Bhārata, knowing their master’s mind, they attended upon me with music. Furthermore, the great Nāga king himself served me with abundant divine sensual pleasures.”
Tâu ngài Bhārata, sau khi tôi dùng bữa xong, các nàng, hiểu ý chủ nhân, đã hầu hạ tôi bằng âm nhạc. Hơn nữa, vị Long vương vĩ đại ấy đã phục vụ tôi với vô số những dục lạc cõi trời.
168.
168.
168.
‘‘Bhariyā mametā tisatā aḷāra, sabbattamajjhā padumuttarābhā;
Aḷāra etāssu te kāmakārā, dadāmi te tā paricārayassu.
“Āḷāra, these are my three hundred wives, all with slender waists and complexions more radiant than the lotus. Āḷāra, let them be at your disposal. I give them to you; let them attend upon you.”
Này Āḷāra, đây là ba trăm người vợ của ta, thân eo thon thả, da đẹp như hoa sen. Này Āḷāra, họ sẽ làm theo ý muốn của ngươi, ta trao họ cho ngươi, hãy để họ phục vụ ngươi.
169.
169.
169.
‘‘Saṃvaccharaṃ dibbarasānubhutvā, tadāssuhaṃ † uttarimajjhabhāsiṃ †;
Nāgassidaṃ kinti kathañca laddhaṃ, kathajjhagamāsi vimānaseṭṭhaṃ’’.
“After experiencing divine delights for a year, I then spoke further to the Nāga: ‘What is this, and how was it obtained? How did you attain this excellent mansion?’”
Sau khi hưởng thụ hương vị cõi trời suốt một năm, khi ấy ta đã hỏi thêm Long vương: 'Sự giàu sang này của ngài do đâu và làm thế nào mà có được? Làm thế nào ngài đã đạt được cung điện tuyệt vời này?'
170.
170.
170.
‘‘Adhicca laddhaṃ pariṇāmajaṃ te, sayaṃkataṃ udāhu devehi dinnaṃ;
Pucchāmi taṃ † nāgarājetamatthaṃ, kathajjhagamāsi vimānaseṭṭhaṃ’’.
“Was it obtained by chance, or did it arise for you from a gift? Was it self-made, or was it given by the gods? I ask you, O Nāga king, about this matter: how did you attain this excellent mansion?”
Phải chăng ngài có được (cung điện này) một cách ngẫu nhiên, hay do ai đó hồi hướng, hay tự ngài tạo ra, hay do chư Thiên ban tặng? Thưa Long vương, tôi xin hỏi ngài điều này: làm thế nào ngài đã đạt được cung điện tuyệt vời này?
171.
171.
171.
‘‘Nādhicca laddhaṃ na pariṇāmajaṃ me, na sayaṃkataṃ nāpi devehi dinnaṃ;
Sakehi kammehi apāpakehi, puññehi me laddhamidaṃ vimānaṃ’’.
“It was not obtained by chance, nor did it arise for me from a gift; it was not self-made, nor was it given by the gods. By my own deeds, which are without evil, by my own merits was this mansion obtained.”
Ta không có được (cung điện này) một cách ngẫu nhiên, cũng không phải do ai hồi hướng, không phải tự ta tạo ra, cũng không phải do chư Thiên ban tặng. Cung điện này ta có được là do chính những nghiệp thiện lành, không tội lỗi của ta.
172.
172.
172.
‘‘Kiṃ te vataṃ kiṃ pana brahmacariyaṃ, kissa suciṇṇassa ayaṃ vipāko;
Akkhāhi me nāgarājetamatthaṃ, kathaṃ nu te laddhamidaṃ vimānaṃ’’.
“What was your observance, what was your holy life? Of what good practice is this the result? Tell me, O Nāga king, about this matter: how indeed was this mansion obtained by you?”
Giới hạnh của ngài là gì, phạm hạnh của ngài là gì? Quả báo này là của thiện hạnh nào? Thưa Long vương, xin hãy nói cho tôi biết điều đó, làm thế nào ngài đã có được cung điện này?
173.
173.
173.
‘‘Rājā ahosiṃ magadhānamissaro, duyyodhano nāma mahānubhāvo;
So ittaraṃ jīvitaṃ saṃviditvā, asassataṃ vipariṇāmadhammaṃ.
“I was a king, the lord of the Magadhans, Duyyodhana by name, of great power. Understanding life to be brief, impermanent, and subject to change…”
Ta từng là vua xứ Magadha, tên là Duyyodhana, có đại oai lực. Vị vua ấy, sau khi biết được đời sống này là ngắn ngủi, vô thường, có bản chất biến hoại.
174.
174.
174.
‘‘Annañca pānañca pasannacitto, sakkacca dānaṃ vipulaṃ adāsiṃ †;
Opānabhūtaṃ me gharaṃ tadāsi, santappitā samaṇabrāhmaṇā ca.
“With a devout mind, I reverently gave an abundance of food and drink. My house then was like a public well, and ascetics and brahmins were satisfied.”
Với tâm tịnh tín, ta đã cung kính bố thí rộng lớn vật thực và đồ uống. Khi ấy, nhà của ta giống như một giếng nước công cộng, các vị Sa-môn và Bà-la-môn đều được thỏa mãn.
175.
175.
175.
† ‘‘Mālañca gandhañca vilepanañca, padīpiyaṃ † yānamupassayañca;
Acchādanaṃ seyyamathannapānaṃ, sakkacca dānāni adamha tattha †.
“Garlands, perfumes, and unguents, lamps, vehicles, and lodgings, clothing, bedding, and then food and drink—these gifts we gave reverently there.”
Vòng hoa, hương liệu, vật thoa, đèn đuốc, xe cộ, nơi trú ngụ, y phục, giường nằm, và cả vật thực, đồ uống; ở nơi đó, chúng tôi đã cung kính thực hiện những sự bố thí này.
176.
176.
176.
‘‘Taṃ me vataṃ taṃ pana brahmacariyaṃ, tassa suciṇṇassa ayaṃ vipāko;
Teneva me laddhamidaṃ vimānaṃ, pahūtabhakkhaṃ bahuannapānaṃ’’;
‘‘Naccehi gītehi cupetarūpaṃ, ciraṭṭhitikaṃ na ca sassatāyaṃ.
“That was my observance, that my holy life; this is the result of that which was well-practiced. By that alone I obtained this mansion, with abundant food and much to eat and drink. It is endowed with dance and song, is long-lasting, but it is not eternal.”
Đó là giới hạnh của ta, đó là phạm hạnh của ta. Đây là quả báo của thiện hạnh ấy. Chính nhờ đó mà ta có được cung điện này, với nhiều thức ăn, nhiều vật thực và đồ uống. (Cung điện này) đầy đủ vũ điệu và ca hát, tồn tại lâu dài, nhưng không phải là vĩnh cửu.
177.
177.
177.
‘‘Appānubhāvā taṃ mahānubhāvaṃ, tejassinaṃ hanti atejavanto;
Kimeva dāṭhāvudha kiṃ paṭicca, hatthatta † māgacchi vanibbakānaṃ †.
“How can those of little power, those without majesty, harm you who are of great power and majesty? O you whose weapon is your fangs, for what reason, on account of what, have you fallen into the hands of these hunters?”
Những kẻ ít oai lực, không có uy thế lại làm hại ngài, người có đại oai lực, có uy thế. Này vị có nanh làm vũ khí, vì duyên cớ gì mà ngài lại rơi vào tay những người thợ săn?
178.
178.
178.
‘‘Bhayaṃ nu te anvagataṃ mahantaṃ, tejo nu te nānvagaṃ dantamūlaṃ;
Kimeva dāṭhāvudha kiṃ paṭicca, kilesamāpajji vanibbakānaṃ’’.
“Did great fear come upon you? Or did your venom not reach the root of your fangs? O you whose weapon is your fangs, for what reason, on account of what, did you come to affliction in the presence of those hunters?”
Phải chăng nỗi sợ hãi lớn đã đến với ngài, hay uy lực của ngài đã không đến được gốc nanh? Này vị có nanh làm vũ khí, vì duyên cớ gì mà ngài lại chịu khổ não nơi những người thợ săn?
179.
179.
179.
‘‘Na me bhayaṃ anvagataṃ mahantaṃ, tejo na sakkā mama tehi hantuṃ †;
Satañca dhammāni sukittitāni, samuddavelāva duraccayāni.
“No great fear came upon me, nor can my fiery energy be destroyed by them. But the principles of the good, well-proclaimed, are like the ocean's shore, difficult to transgress.”
Nỗi sợ hãi lớn đã không đến với ta, uy lực của ta không thể bị họ hủy diệt. Nhưng có những pháp của bậc thiện nhân đã được khéo tán thán, khó vượt qua như bờ biển.
180.
180.
180.
‘‘Cātuddasiṃ pañcadasiṃ aḷāra, uposathaṃ niccamupāvasāmi;
Athāgamuṃ soḷasa bhojaputtā, rajjuṃ gahetvāna daḷhañca pāsaṃ.
“On the fourteenth and fifteenth days, Āḷāra, I constantly observe the Uposatha. Then sixteen sons of the Bhoja clan came, carrying a rope and a strong snare.”
Này Āḷāra, vào ngày mười bốn và mười lăm, ta thường xuyên thực hành ngày trai giới. Khi ấy, mười sáu người con của Bhoja đã đến, mang theo dây thừng và thòng lọng chắc chắn.
181.
181.
181.
‘‘Bhetvāna nāsaṃ atikassa † rajjuṃ, nayiṃsu maṃ samparigayha luddā;
Etādisaṃ dukkhamahaṃ titikkhaṃ †, uposathaṃ appaṭikopayanto’’.
“Having pierced my nose and threaded a rope through it, the fierce hunters seized me and led me away. I endured such suffering as this, so as not to break my observance of the Uposatha.”
Họ xỏ mũi ta rồi luồn dây thừng qua, những người thợ săn tàn bạo đã vây bắt và dẫn ta đi. Ta đã chịu đựng nỗi khổ như vậy, để không làm hỏng ngày trai giới của mình.
182.
182.
182.
‘‘Ekāyane taṃ pathe addasaṃsu, balena vaṇṇena cupetarūpaṃ;
Siriyā paññāya ca bhāvitosi, kiṃ patthayaṃ † nāga tapo karosi.
“On a solitary path they saw you, endowed with strength and beauty. You are developed in fortune and wisdom. Desiring what, O Nāga, do you practice asceticism?”
Họ đã thấy ngài trên con đường mòn, đầy đủ sức mạnh và vẻ đẹp. Ngài đã được phát triển về phúc đức và trí tuệ, vậy này Long vương, mong cầu điều gì mà ngài thực hành khổ hạnh?
183.
183.
183.
‘‘Na puttahetū na dhanassa hetu, na āyuno cāpi aḷāra hetu;
Manussayoniṃ abhipatthayāno, tasmā parakkamma tapo karomi’’.
“Not for the sake of sons, not for the sake of wealth, and not for the sake of long life, O Āḷāra; aspiring to a human birth, therefore I strive and practice asceticism.”
Không phải vì con cái, không phải vì của cải, cũng không phải vì tuổi thọ, này Āḷāra. Ta mong cầu được tái sanh vào cõi người, vì vậy, ta nỗ lực thực hành khổ hạnh.
184.
184.
184.
‘‘Tvaṃ lohitakkho vihatantaraṃso, alaṅkato kappitakesamassu;
Surosito lohitacandanena, gandhabbarājāva disā pabhāsasi †.
“You are red-eyed and broad-shouldered, adorned, with hair and beard well-trimmed. Anointed with red sandalwood, you shine in all directions like a king of the gandhabbas.”
Ngài có đôi mắt đỏ, vai rộng, được trang điểm, tóc râu được cắt tỉa. Được thoa đẫm gỗ đàn hương đỏ, ngài tỏa sáng khắp các phương như một vị vua Càn-thát-bà.
185.
185.
185.
‘‘Deviddhipattosi mahānubhāvo, sabbehi kāmehi samaṅgibhūto;
Pucchāmi taṃ nāgarājetamatthaṃ, seyyo ito kena manussaloko’’.
“You have attained divine power and are of great might, endowed with all sensual pleasures. I ask you, O king of nāgas, about this matter: in what way is the human world superior to this?”
Ngài có thần thông như chư Thiên, có đại oai lực, đầy đủ tất cả các dục lạc. Thưa Long vương, tôi xin hỏi ngài điều này: cõi người hơn cõi này ở điểm nào?
186.
186.
186.
‘‘Aḷāra nāññatra manussalokā, suddhī va saṃvijjati saṃyamo vā;
Ahañca laddhāna manussayoniṃ, kāhāmi jātimaraṇassa antaṃ’’.
“O Āḷāra, nowhere else but in the human world is purity or self-restraint found. And I, having obtained a human birth, will make an end of birth and death.”
Này Āḷāra, ngoài cõi người ra, không nơi nào có sự thanh tịnh hay sự tự chế. Và ta, sau khi được tái sanh vào cõi người, sẽ đặt dấu chấm hết cho sanh và tử.
187.
187.
187.
‘‘Saṃvaccharo me vasato † tavantike, annena pānena upaṭṭhitosmi;
Āmantayitvāna palemi nāga, cirappavuṭṭhosmi † ahaṃ janinda’’.
“For a year I have dwelt in your presence and have been served with food and drink. Having taken my leave, I depart, O Nāga, for I have been long away, O lord of men.”
Đã một năm trôi qua kể từ khi tôi sống gần ngài, tôi đã được ngài phục vụ bằng vật thực và đồ uống. Thưa Long vương, sau khi xin phép, tôi sẽ ra đi. Thưa chúa tể của loài người, tôi đã xa nhà quá lâu.
188.
188.
188.
‘‘Puttā ca dārā anujīvino ca †, niccānusiṭṭhā upatiṭṭhate taṃ;
Kaccinnu taṃ nābhisapittha † koci, piyañhi me dassanaṃ tuyhaṃ † aḷāra’’.
“Your sons, wife, and dependents, always well-instructed, attend upon you. I trust no one has reviled you? For the sight of you is dear to me, O Āḷāra.”
Con cái, vợ và những người tùy tùng, được thường xuyên chỉ dạy, sẽ phục vụ ngươi. Mong rằng không có ai đã nguyền rủa ngươi, vì được thấy ngươi, này Āḷāra, là điều ta yêu mến.
189.
189.
189.
‘‘Yathāpi mātū ca pitū agāre, putto piyo paṭivihito vaseyya †;
Tatopi mayhaṃ idhameva seyyo, cittañhi te nāga mayī pasannaṃ’’.
“Just as a beloved son, well cared for, would dwell in his mother's and father's house, even better than that is it for me here, O Nāga, for your mind is serene towards me.”
Giống như một người con yêu quý sống trong nhà cha mẹ, được chăm sóc chu đáo, nhưng đối với tôi, sống ở đây còn tốt hơn thế. Vì thưa Long vương, tâm của ngài tịnh tín nơi tôi.
190.
190.
190.
‘‘Maṇī mamaṃ vijjati lohitaṅko †, dhanāharo maṇiratanaṃ uḷāraṃ;
Ādāya tvaṃ † gaccha sakaṃ niketaṃ, laddhā dhanaṃ taṃ maṇimossajassu’’.
“I have a red-marked gem, a magnificent wealth-bringing jewel. Take it and go to your own dwelling; having obtained wealth, then release that gem.”
Ta có một viên ngọc màu đỏ, một viên ngọc quý cao thượng mang lại của cải. Ngươi hãy nhận lấy nó và trở về nhà của mình. Sau khi có được của cải, hãy trả lại viên ngọc đó.
191.
191.
191.
‘‘Diṭṭhā mayā mānusakāpi kāmā, asassatā vipariṇāmadhammā;
Ādīnavaṃ kāmaguṇesu disvā, saddhāyahaṃ pabbajitomhi rāja.
“I have seen human sensual pleasures; they are impermanent, subject to change. Having seen the peril in the strands of sensual pleasure, I have gone forth in faith, O king.”
Ta đã thấy các dục lạc của cõi người; chúng vô thường, có bản chất biến hoại. Thấy được sự nguy hại trong các dục lạc, thưa đức vua, với đức tin, ta đã xuất gia.
192.
192.
192.
‘‘Dumapphalānīva patanti māṇavā, daharā ca vuddhā ca sarīrabhedā;
Etampi disvā pabbajitomhi rāja, apaṇṇakaṃ sāmaññameva seyyo’’.
“Like fruits from a tree, mortals fall, both young and old, at the breaking up of the body. Seeing this too, O king, I have gone forth; the blameless ascetic life is surely best.”
Con người rơi rụng như trái cây, cả trẻ lẫn già, khi thân hoại mạng chung. Thưa đức vua, thấy được điều này, ta đã xuất gia; đời sống Sa-môn chắc chắn là tốt đẹp hơn.
193.
193.
193.
‘‘Addhā have sevitabbā sapaññā, bahussutā ye bahuṭhānacintino;
Nāgañca sutvāna tavañcaḷāra, kāhāmi puññāni anappakāni’’.
“Truly, one should associate with the wise, the learned who reflect on many matters. Having heard the Nāga and you, O Āḷāra, I will perform abundant meritorious deeds.”
Chắc chắn nên thân cận với những người có trí tuệ, những người đa văn, suy xét nhiều vấn đề. Sau khi nghe Long vương và cả ngài, Āḷāra, tôi sẽ làm nhiều công đức.
194.
194.
194.
‘‘Addhā have sevitabbā sapaññā, bahussutā ye bahuṭhānacintino;
Nāgañca sutvāna mamañca rāja, karohi puññāni anappakānī’’ti.
“Truly, one should associate with the wise, the learned who reflect on many matters. Having heard the Nāga and me, O king, perform abundant meritorious deeds.”
Chắc chắn nên thân cận với những người có trí tuệ, những người đa văn, suy xét nhiều vấn đề. Thưa đức vua, sau khi nghe Long vương và cả ta, xin ngài hãy làm nhiều công đức.
Saṅkhapālajātakaṃ catutthaṃ.
The Saṅkhapāla Jātaka, the Fourth.
Chuyện Bổn sanh Saṅkhapāla, thứ tư.