Bản dịch
JA 523 — Chuyện thiên nữ Alambusà (Tiền thân Alambusà)
3. Alambusājātaka
3174. Vị Anusissa nay là Ānanda, vị Kisavaccha nay là Kolita, vị Nārada nay là Puṇṇa Mantāniputta, hội chúng còn lại nay là hội chúng của đức Phật, vị Sarabhaṅga nay là đấng Đấng Bảo Hộ Thế Gian. Các ngươi hãy ghi nhớ câu chuyện Bổn Sanh như vậy.”
3175. Khi ấy, Thiên chủ Inda vĩ đại, bậc đã khuất phục A-tu-la Vatra, người cha của các vị chiến thắng, đã chọn ra nàng tiên nữ Alambusā và đã nói với nàng ấy tại hội trường Sudhammā rằng:
3176. “Này Alambusā kiều diễm, chư Thiên cõi Đạo Lợi với Thiên Chủ Inda thỉnh cầu nàng. Này cô nàng quyến rũ ẩn sĩ, nàng hãy đi gặp Isisiṅga.
3177. Vị này đầy đủ về phận sự, có Phạm hạnh, thích thú Niết Bàn, tăng trưởng về đức độ, vượt trội chúng tôi ở Thiên cung. Nàng hãy ngăn chặn các đạo lộ của vị ấy.”
3178. “Tâu Thiên Vương, ngài làm điều gì vậy, khi ngài đây nhìn thấy chỉ mỗi thiếp, nói rằng: ‘Này cô nàng quyến rũ ẩn sĩ, nàng hãy đi’? Vẫn còn có các tiên nữ khác nữa.
3179. Có các cô tương đương thiếp và còn quý phái hơn, tại khu vườn Nandana không có sầu muộn. Hãy là cơ hội cho các cô ấy. Hãy để các cô nàng quyến rũ ấy đi vậy.”
3180. “Nàng nói quả đúng là sự thật. Vẫn còn có các tiên nữ khác nữa. Có các cô tương đương nàng và còn quý phái hơn, tại khu vườn Nandana không có sầu muộn.
3181. Này người phụ nữ có sự xinh đẹp toàn thân, các nàng ấy không biết cách phục vụ khi đến với người nam, còn người như nàng đây biết.
3182. Và nàng là quý phái trong giới phụ nữ. Này mỹ nữ, chính nàng hãy đi, bằng sắc đẹp và vóc dáng của chính nàng, nàng sẽ khiến vị ẩn sĩ ấy chiều theo quyền lực của nàng.”
3183. “Được vị chúa của chư Thiên sai phái, thiếp sẽ không thể không đi. Nhưng thiếp hãi sợ ở việc xúc phạm vị ấy, bởi vì vị Bà-la-môn có oai lực nổi bật.
3184. Không ít người đã rơi vào địa ngục sau khi xúc phạm bậc ẩn sĩ, đã gánh chịu sự luân hồi bởi vì si mê; (nghĩ đến) điều ấy, thiếp rởn hết cả lông.”
3185. Nói xong điều này, nàng tiên nữ Alambusā kiều diễm, có sắc đẹp theo như ý muốn, dời gót, trong khi đang mong mỏi được kết thân với vị Isisiṅga.
3186. Và nàng ấy đã đi sâu vào khu rừng nọ, nơi được hộ trì bởi vị Isisiṅga, được bao phủ bởi các chồi non của loài dây leo bimbi ở xung quanh đến nửa d0-tuần.
3187. Sáng sớm tinh mơ, vào bữa điểm tâm, lúc mặt trời mọc lên, nàng ấy đã đi đến gặp Isisiṅga đang quét dọn gian nhà thờ lửa.
3188. “Người nữ nào chiếu sáng tựa như tia chớp, tựa như ngôi sao osadhī ? Nàng có vải vóc và đồ trang sức đủ màu sắc rực rỡ, có bông tai bằng ngọc trai và ngọc ma-ni,–
3189. –tương tự như màu sắc của mặt trời, có mùi thơm của trầm hương vàng, có cặp đùi tròn trịa, vô cùng kỳ diệu, là nàng thiếu nữ có vẻ đáng mến.
3190. Thon thả, mảnh mai, trong trắng, hai bàn chân của nàng khéo léo chạm đất. Các bước đi đáng yêu của nàng làm ngẩn ngơ tâm trí của ta.
3191. Và hai đùi của nàng thoai thoải tựa như vòi voi. Cặp mông đẹp của nàng trơn láng giống như tấm ván của trò chơi xúc xắc.
3192. Lỗ rún của nàng nằm ở vị trí khéo léo tựa như chùm nhụy của đóa sen xanh, được nhìn thấy từ đằng xa giống như được phủ đầy lớp thuốc bôi màu đen.
3193. Hai vú là hai bầu sữa được sanh ra từ ngực, đầy đặn, có sự nhô lên tốt đẹp, không bị chảy xệ, tựa như hai nửa trái bí ngô.
3194. Cổ dài tương tự mặt phẳng, có ba ngấn (tướng may mắn) giống như cổ loài sơn dương. Đôi môi xinh xắn (có màu đỏ thắm) tương tự như cái lưỡi.
3195. Hàm răng trên và hàm răng được chùi sạch bằng đầu nhọn của cây chà răng. Những cái răng được mọc lên không có khuyết điểm từ hai hàm là diện mạo xinh đẹp của nàng.
3196. Hai con mắt dài và rộng, có màu đen với đường viền màu đỏ, tương tự như trái dâu rừng, là diện mạo xinh đẹp của nàng.
3197. Mái tóc của nàng mọc ở đầu, không quá dài, khéo được chải chuốt, được gom lại bởi chiếc lược bằng vàng, có mùi thơm của trầm hương.
3198. Cho đến những người sống nhờ vào việc trồng trọt, việc chăn nuôi bò, và lợi nhuận của các việc buôn bán, cho đến vị đang nỗ lực trong số các bậc ẩn sĩ, các đạo sĩ khổ hạnh đã tự kiềm chế,–
3199. –ta không nhìn thấy ai sánh bằng nàng ở trên vòm trái đất này. Nàng là ai, là con của người nào? Làm thế nào chúng tôi có thể biết về nàng?”
3200. “Này Kassapa, không phải là lúc hỏi câu hỏi, khi vận may qua đi như vầy. Chàng ơi, chàng hãy đến. Cả hai chúng ta sẽ vui vầy ở khu ẩn cư của chúng ta. Chàng hãy đến. Khi thiếp ôm lấy chàng, chàng hãy tỏ ra khéo léo đối với các thú vui vầy.”
3201. Nói xong điều này, nàng tiên nữ Alambusā kiều diễm, có sắc đẹp theo như ý muốn, dời gót, trong khi đang mong mỏi được kết thân với vị Isisiṅga.
3202. Và vị ấy, đã tức tốc bước ra, đã làm đứt đoạn sự nỗ lực bị trì trệ. đã nắm được nàng ấy ở các phần trên đầu, ở các bím tóc, và đã sờ mó.
3203. Người mỹ nữ có sắc đẹp tuyệt vời đã xoay vị ấy lại và ôm chặt lấy. Phạm hạnh ở vị ấy đã tiêu hoại. Và như thế, tiên nữ Alambusā được hài lòng về điều ấy.
3204. Bằng tâm ý, nàng tiên đã đi đến với Thiên Chủ Inda đang ngự tại khu vườn Nandana. Sau khi nhận biết ý định của nàng ấy, Maghavā, vị đứng đầu chư Thiên–
3205. –đã tức tốc phái đi chiếc kiệu khiêng bằng vàng, có vật phụ tùng, có năm mươi mái che, có một ngàn tấm vải bao bọc.
3206. Trong chiếc kiệu, người con gái đẹp đã ôm choàng lấy vị ấy sau khi đã đặt vào ngực; nàng đã ôm chàng hầu như chỉ trong một chốc lát mà đã ba năm (trôi qua ở cõi nhân loại).
3207. Thức giấc sau ba năm, vị Bà-la-môn, hết bị mê đắm, đã nhìn thấy các cây xanh ở xung quanh gian nhà thờ lửa,–
3208. –khu rừng mới thay lá xum xuê, náo nhiệt bởi bầy chim cu cu. Và sau khi quan sát xung quanh, vị ấy đã tuôn những giọt nước mắt, than khóc rằng:
3209. “Ta không có thể cúng tế, ta không có thể trì tụng các chú thuật, lễ tế thần lửa đã bị bỏ bê. Vậy ai đã quyến rủ tâm trước đây của ta vào việc phục vụ (các chuyện ô nhiễm)?
3210. Người nào đã lấy đi pháp tích lũy được từ năng lực (Sa-môn) của ta trong khi ta sống ở trong rừng, tựa như đã lấy đi chiếc thuyền chứa đầy các loại châu báu ở ngoài biển khơi.”
3211. “Thiếp được vị chúa của chư Thiên sai phái đến để phục vụ cho chàng. Thiếp đã phá hoại tâm bằng tâm. Do xao lãng, chàng đã không cảnh giác.”
3212. “Người cha yêu dấu Kassapa quả thật có dạy bảo ta những lời này: ‘Này người trai trẻ, con hãy cảnh giác những phụ nữ như là đóa hoa sen ấy.
3213. Con hãy cảnh giác các nàng có hai khối nhô lên ở ngực. Này người trai trẻ, con hãy cảnh giác các cô ấy.’ Là người có lòng thương tưởng đến ta, người cha yêu dấu đã dạy bảo ta như thế.
3214. Ta đã không thực hiện lời nói của vị ấy, lời giảng dạy của người cha, của bậc trưởng thượng. Hôm nay, trong khu rừng vắng bóng người, ta đây chỉ một mình, ăn năn.
3215. Ta đây sẽ làm như thế nào! Thật xấu hổ thay cho mạng sống của ta! Ta sẽ trở lại là người tu tập như trước đây, hay là ta sẽ chọn lấy cái chết?”
3216. Sau khi biết được năng lực, sự tinh tấn, sự quả quyết đã được tăng trưởng tốt đẹp cho vị ấy, tiên nữ Alambusā đã đê đầu ở bàn chân của Isisiṅga, (nói rằng):
3217. “Thưa bậc đại hùng, xin ngài chớ giận thiếp. Thưa bậc đại ẩn sĩ, xin ngài chớ giận thiếp. Thiếp đã làm được lợi ích lớn lao cho chư Thiên cõi Tam Thập danh tiếng. Khi ấy, ngài đã làm cho toàn bộ Thiên giới bị rung chuyển.”
3218. “Chư Thiên cõi Đạo Lợi và Thiên Chủ Vāsava của chư Thiên cõi Tam Thập, và nàng, này người nữ hiền thục, mong rằng nàng được an lành. Này cô gái, nàng hãy ra đi thoải mái.”
3219. Sau khi nắm lấy hai bàn của vị ẩn sĩ, và đi nhiễu vòng quanh vị ấy, nàng tiên đã chắp tay lên và đã rời khỏi nơi ấy.
3220. Đã có chiếc kiệu khiêng bằng vàng, có vật phụ tùng, có năm mươi mái che, có một ngàn tấm vải bao bọc hiện ra cho nàng ấy. Nàng tiên đã bước lên chiếc kiệu ấy và đi về trú xứ của chư Thiên.
3221. Trong khi nàng ấy tiến đến tựa như cây đuốc đang cháy sáng giống như tia chớp, vị Chúa của chư Thiên hớn hở, thích ý, mừng rỡ, đã ban cho nàng ấy điều ước muốn.
3222. Tâu Sakka, nếu ngài ban cho thiếp điều ước muốn, tâu vị chúa tể của tất cả sanh linh, thiếp có thể không phải đi quyến rũ ẩn sĩ. Tâu Sakka, thiếp chọn điều ước muốn ấy.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Atha bravi brahā indo, vatrabhū jayataṃ pitā;
Devakaññaṃ parābhetvā, sudhammāyaṃ alambusaṃ.
Then the great Indra, Vatrabhū, father of the victorious, spoke in the Sudhammā assembly to Alambusā, the celestial maiden.
Bấy giờ, Đại Đế Thích, vị chinh phục Vatra, cha của những người chiến thắng, sau khi thuyết phục thiên nữ Alambusā tại pháp đường Sudhammā, đã nói.
96.
96.
96.
‘‘Misse devā taṃ yācanti, tāvatiṃsā saindakā;
Isippalobhane † gaccha, isisiṅgaṃ alambuse.
‘O lady Alambusā, skilled in tempting sages, the Tāvatiṃsa gods, together with Indra, beseech you: Go to the ascetic Isisiṅga!’
Này nàng Missā, các vị trời cõi Ba Mươi Ba cùng với Đế Thích đang thỉnh cầu nàng. Hỡi Alambusā, người có tài quyến rũ đạo sĩ, hãy đi đến chỗ đạo sĩ Isisiṅga.
97.
97.
97.
‘‘Purāyaṃ amhe acceti †, vattavā † brahmacariyavā;
Nibbānābhirato vuddho †, tassa maggāni āvara’’.
‘Before this great ascetic, who fulfills his vows and the holy life and delights in tranquility, surpasses us, you must obstruct his paths.’
Trước khi vị khổ hạnh này, người giữ giới và phạm hạnh, người trưởng thượng hoan hỷ trong sự tịch tịnh, vượt qua chúng ta, hãy ngăn chặn các con đường của vị ấy.
98.
98.
98.
‘‘Devarāja kimeva tvaṃ, mameva tuvaṃ sikkhasi;
Isippalobhane † gaccha, santi aññāpi accharā.
‘O King of Gods, why do you instruct me alone? You say to me, “Go, tempt the sage!” But there are other celestial nymphs as well.’
Tâu Thiên vương, vì sao ngài lại chỉ dạy bảo một mình con: 'Hãy đi quyến rũ vị đạo sĩ'? Vẫn còn có các thiên nữ khác kia mà.
99.
99.
99.
‘‘Mādisiyo pavarā ceva, asoke nandane vane;
Tāsampi hotu pariyāyo, tāpi yantu palobhanā’’ †.
‘There are those like me, and even superior ones, in the Asoka and Nandana groves. Let it be their turn also; let them too go to tempt him.’
Trong vườn Nandana không sầu muộn, có những người giống như con và cả những người hơn con. Cũng hãy đến lượt của họ, họ cũng hãy đi để quyến rũ.
100.
100.
100.
‘‘Addhā hi saccaṃ bhaṇasi, santi aññāpi accharā;
Tādisiyo pavarā ceva, asoke nandane vane.
‘Indeed, you speak the truth. There are other celestial nymphs, some like you and some even more excellent, in the Asoka and Nandana groves.’
Hỡi Alambusā, chắc chắn nàng đã nói lời chân thật. Trong vườn Nandana không sầu muộn, vẫn còn có các thiên nữ khác, những người giống như nàng và cả những người hơn nàng.
101.
101.
101.
‘‘Na tā evaṃ pajānanti, pāricariyaṃ pumaṃ gatā;
Yādisaṃ tvaṃ pajānāsi, nāri sabbaṅgasobhane.
‘But having approached a man, they do not know how to serve him in the way that you know, O woman, lovely in all your limbs.’
Họ không biết cách phục vụ khi đến với người nam, như cách mà nàng biết, hỡi nàng có toàn thân xinh đẹp.
102.
102.
102.
‘‘Tvameva gaccha kalyāṇi, itthīnaṃ pavarā casi;
Taveva vaṇṇarūpena, savasamānayissasi’’ †.
“You alone must go, O lovely one, for you are the best of women. By your beauty and form alone, you will bring him under your control.”
Chỉ có nàng hãy đi, hỡi nàng hiền thục, nàng là người ưu việt trong số các phụ nữ. Chỉ bằng sắc đẹp và hình dáng của nàng, nàng sẽ có thể đưa vị ấy vào vòng kiểm soát của mình.
103.
103.
103.
‘‘Na vāhaṃ na gamissāmi, devarājena pesitā;
Vibhemi cetaṃ āsāduṃ, uggatejo hi brāhmaṇo.
“It is not that I will not go, having been sent by the king of gods; but I fear to approach him, for the brahmin is of fierce power.”
Không phải là con sẽ không đi khi được Thiên vương sai phái. Nhưng con sợ việc tiếp cận vị ấy, vì vị Bà-la-môn có uy lực mãnh liệt.
104.
104.
104.
‘‘Aneke nirayaṃ pattā, isimāsādiyā janā;
Āpannā mohasaṃsāraṃ, tasmā lomāni haṃsaye’’.
“Many people who have assailed sages have reached hell, having fallen into the saṃsāra of delusion. Therefore, my hair stands on end.”
Nhiều người đã xúc phạm đến đạo sĩ, đã rơi vào vòng luân hồi si mê, đã sa vào địa ngục. Vì thế, lông của con dựng đứng.
105.
105.
105.
‘‘Idaṃ vatvāna pakkāmi, accharā kāmavaṇṇinī;
Missā missitu † micchantī, isisiṅgaṃ alambusā.
Having said this, Alambusā, the nymph of alluring beauty, departed, desiring to mingle with and entice Isisiṅga.
Nói lời này xong, thiên nữ Alambusā, người có dung sắc quyến rũ, người khuấy động, mong muốn khuấy động đạo sĩ Isisiṅga, đã ra đi.
106.
106.
106.
‘‘Sā ca taṃ vanamogayha, isisiṅgena rakkhitaṃ;
Bimbajālakasañchannaṃ, samantā aḍḍhayojanaṃ.
And she, having entered that forest protected by Isisiṅga, which was covered with a network of Bimba trees and extended for half a yojana all around,
Và nàng đã đi vào khu rừng ấy, rộng nửa do-tuần xung quanh, được bao phủ bởi mạng lưới cây bimbajāla, và được đạo sĩ Isisiṅga bảo vệ.
107.
107.
107.
‘‘Pātova pātarāsamhi, udaṇhasamayaṃ † pati;
Aggiṭṭhaṃ parimajjantaṃ, isisiṅgaṃ upāgami’’.
Early in the morning, at the time of the morning meal, she approached Isisiṅga as he was sweeping the fire-hut.
Vào buổi sáng, vào giờ ăn sáng, nàng đã đến gần đạo sĩ Isisiṅga đang quét dọn nhà lửa.
108.
108.
108.
‘‘Kā nu vijjurivābhāsi, osadhī viya tārakā;
Vicittahatthābharaṇā †, āmuttamaṇikuṇḍalā †.
“Who are you that shines like lightning, or like the morning star? You are adorned with elaborate hand ornaments and wear jeweled earrings.”
Nàng là ai, tỏa sáng như tia chớp, như sao Hôm, với trang sức tay đa dạng, đeo bông tai bằng ngọc?
109.
109.
109.
‘‘Ādiccavaṇṇasaṅkāsā, hemacandanagandhinī;
Saññatūrū mahāmāyā, kumārī cārudassanā.
“Resembling the color of the sun, fragrant with golden sandalwood, with well-formed thighs, of great allure, a maiden of lovely appearance.”
Nàng có màu sắc tựa như mặt trời, tỏa hương chiên-đàn vàng, có cặp đùi thon gọn, nhiều ma thuật, là một thiếu nữ có dáng vẻ đáng yêu.
110.
110.
110.
‘‘Vilaggā † mudukā suddhā, pādā te suppatiṭṭhitā;
Gamanā kāmanīyā † te, harantiyeva me mano.
“Slender-waisted, soft, and pure are you; your feet are well-placed. Your enchanting gait steals my very mind.”
Eo nàng thon thả, đôi chân nàng mềm mại, trong sạch, và đặt vững vàng. Dáng đi đáng yêu của nàng quả thật đã chiếm đoạt tâm trí ta.
111.
111.
111.
‘‘Anupubbāva te ūrū, nāganāsasamūpamā;
Vimaṭṭhā tuyhaṃ sussoṇī, akkhassa phalakaṃ yathā.
“Your thighs are gradually tapering, like an elephant’s trunk; your beautiful hips are smooth, like a polished gaming board.”
Đôi đùi của nàng thon dần, tựa như vòi voi. Vòng hông xinh đẹp của nàng tròn trịa, giống như tấm ván xúc xắc.
112.
112.
112.
‘‘Uppalasseva kiñjakkhā, nābhi te sādhu saṇṭhitā;
Pūrā kaṇhañjanasseva, dūrato paṭidissati.
“Your navel is well-formed, like the filament of a blue lotus; as if full of black collyrium, it is visible from afar.”
Rốn của nàng có hình dáng đẹp, tựa như nhụy hoa sen xanh. Trông xa như thể được tô đầy thuốc vẽ mắt màu đen.
113.
113.
113.
‘‘Duvidhā jātā urajā, avaṇṭā sādhu paccudā;
Payodharā apatitā †, aḍḍhalābusamā thanā.
“Born in a pair upon your chest, your breasts are stalkless and well-protruding; not drooping, your breasts are like half-gourds of gold.”
Đôi vú của nàng sinh ra thành cặp trên ngực, không cuống, nổi cao đẹp đẽ. Đôi nhũ hoa không chảy xệ, tựa như nửa quả bầu vàng.
114.
114.
114.
‘‘Dīghā kambutalābhāsā, gīvā eṇeyyakā yathā;
Paṇḍarāvaraṇā vaggu, catutthamanasannibhā.
“Your neck is long, shining like a polished conch, like that of a gazelle; your lips are lovely and red, like the color of your tongue.”
Cổ của nàng thon dài như cổ nai, sáng như vỏ ốc xà cừ. Đôi môi nàng xinh đẹp, đỏ thắm như màu lưỡi.
115.
115.
115.
‘‘Uddhaggā ca adhaggā ca, dumaggaparimajjitā;
Duvijā nelasambhūtā, dantā tava sudassanā.
“Polished with a fine twig, your teeth of the upper and lower rows, twice-born and sprung from flawless gums, are very beautiful to see.”
Hàm răng trên và hàm răng dưới của nàng, được chải sạch bằng nhánh cây, mọc lên từ nướu không tì vết, thật là đẹp đẽ.
116.
116.
116.
‘‘Apaṇḍarā lohitantā, jiñjūka † phalasannibhā;
Āyatā ca visālā ca, nettā tava sudassanā.
“Dark, with reddish corners, long and wide, your eyes are very beautiful to see.”
Đôi mắt của nàng không có màu trắng đục, khóe mắt hồng, tựa như quả jiñjūka. Mắt nàng vừa dài vừa rộng, trông thật đáng yêu.
117.
117.
117.
‘‘Nātidīghā susammaṭṭhā, kanakabyā † samocitā;
Uttamaṅgaruhā tuyhaṃ, kesā candanagandhikā.
“Not too long and well-smoothed, anointed from a golden vessel, the hair on your head is fragrant with sandalwood.”
Mái tóc của nàng mọc trên đầu, không quá dài, được chải chuốt mượt mà, thoa dầu thơm từ chén vàng, tỏa hương chiên đàn.
118.
118.
118.
‘‘Yāvatā kasigorakkhā, vāṇijānaṃ † ca yā gati;
Isīnañca parakkantaṃ, saññatānaṃ tapassinaṃ.
“As far as the domain of farmers and cattle-herders, and the range of merchants, and the striving of sages, of restrained ascetics,”
Trong số tất cả những người làm ruộng, chăn bò, và các thương nhân hiện có; và trong phạm vi đi lại của các vị ẩn sĩ, những bậc khổ hạnh có thu thúc,
119.
119.
119.
‘‘Na te samasamaṃ passe, asmiṃ pathavi † maṇḍale;
Ko vā tvaṃ kassa vā putto, kathaṃ jānemu taṃ mayaṃ’’.
“I see no one your equal in this realm of earth. Who are you? Or whose child are you? How may we know you?”
trên khắp cõi đất này, ta không thấy ai có thể sánh bằng nàng. Nàng là ai? Là con của ai? Làm sao chúng tôi có thể biết được nàng?
120.
120.
120.
‘‘Na pañhakālo bhaddante, kassapevaṃ gate sati;
Ehi samma ramissāma, ubho asmākamassame;
Ehi taṃ upagūhissaṃ †, ratīnaṃ kusalo bhava’’.
“This is not the time for questions, venerable sir of the Kassapa clan, now that your heart is so inclined. Come, good sir, let us both enjoy ourselves in our hermitage. Come, I will embrace you; be skilled in pleasures.”
Thưa ngài Kassapa khả kính, khi tâm ngài đã hướng về tôi như vậy, đây không phải là lúc để hỏi han. Này bạn, hãy đến đây, cả hai chúng ta hãy cùng hoan lạc trong am thất. Hãy đến đây, tôi sẽ ôm lấy ngài, mong ngài hãy là người thiện xảo trong các thú vui.
121.
121.
121.
‘‘Idaṃ vatvāna pakkāmi, accharā kāmavaṇṇinī;
Missā missitumicchantī, isisiṅgaṃ alambusā’’.
Having spoken thus, Alambusā, the nymph of alluring beauty, made as if to depart, desiring to mingle with Isisiṅga.
Nói lời này xong, thiên nữ Apsara Alambusā, người có dung sắc khêu gợi, người quyến rũ, mong muốn được gần gũi đạo sĩ Isisiṅga, liền rời đi.
122.
122.
122.
‘‘So ca vegena nikkhamma, chetvā dandhaparakkamaṃ †;
Tamuttamāsu veṇīsu, ajjhappatto † parāmasi;
And he, going forth with speed, abandoning his slow gait, overtook her and grasped her by her excellent braids.
Vị ấy từ bỏ dáng đi chậm chạp, vội vã bước ra, khi đuổi kịp, đã nắm lấy bím tóc tuyệt đẹp của nàng.
123.
123.
123.
‘‘Tamudāvatta kalyāṇī, palissaji susobhanā †;
Cavitamhi † brahmacariyā, yathā taṃ atha tositā.
The lovely one, the very beautiful one, turned towards him and embraced him. When he had fallen from the holy life, she was pleased, for so it was accomplished.
Nàng yêu kiều, xinh đẹp tuyệt trần, quay lại và ôm lấy vị ấy. Khi vị ấy đã từ bỏ phạm hạnh, đúng như ý muốn, nàng liền hài lòng.
124.
124.
124.
‘‘Manasā agamā indaṃ, vasantaṃ nandane vane;
Tassā saṅkappamaññāya, maghavā devakuñjaro.
With her mind she went to Indra, dwelling in the Nandana Grove. Knowing her intention, Maghavā, chief of the gods,
Nàng dùng tâm ý hướng đến vua Inda đang ngự trong vườn Nandana. Bậc Maghavā, vị trời cao quý nhất, biết được ý định của nàng.
125.
125.
125.
‘‘Pallaṅkaṃ pahiṇī khippaṃ, sovaṇṇaṃ sopavāhanaṃ;
Sauttaracchadapaññāsaṃ, sahassapaṭiyatthataṃ †.
Quickly sent a golden palanquin, complete with its carriers, with fifty upper coverings, and spread with a thousand carpets.
(Vua trời) liền nhanh chóng gửi đến một chiếc kiệu vàng có người khiêng, với năm mươi lọng che và được trải một ngàn tấm thảm.
126.
126.
126.
‘‘Tamenaṃ tattha dhāresi, ure katvāna sobhanā;
Yathā ekamuhuttaṃva, tīṇi vassāni dhārayi.
The beautiful one held him there, having placed him on her breast; as though for a single moment, she held him for three years.
Nàng xinh đẹp đặt vị ấy lên lòng và ấp ôm ở đó. Nàng ấp ôm vị ấy suốt ba năm mà dường như chỉ trong một khoảnh khắc.
127.
127.
127.
‘‘Vimado tīhi vassehi, pabujjhitvāna brāhmaṇo;
Addasāsi harita † rukkhe, samantā aggiyāyanaṃ.
Free from intoxication after three years, the brahmin awoke and saw green trees standing all around his fire-hut.
Sau ba năm, vị Bà-la-môn tỉnh khỏi cơn mê, khi thức dậy, ngài thấy những hàng cây xanh tươi đứng bao quanh am lửa của mình.
128.
128.
128.
‘‘Navapattavanaṃ phullaṃ, kokilaggaṇaghositaṃ;
Samantā paviloketvā, rudaṃ assūni vattayi.
Looking all around at the blossoming forest of new leaves, resounding with flocks of cuckoos, he wept, and his tears flowed.
Nhìn khu rừng xung quanh đang trổ lá non, hoa nở rộ, vang tiếng chim cu gáy, ngài khóc than và tuôn rơi nước mắt.
129.
129.
129.
‘‘Na juhe na jape † mante, aggihuttaṃ pahāpitaṃ;
Ko nu me pāricariyāya, pubbe cittaṃ palobhayi.
“I have not made offerings, nor have I recited mantras; my fire sacrifice has been abandoned. Who, with such service, formerly seduced my mind?”
Ta đã không cúng dường, không trì tụng thần chú, việc thờ lửa đã bị bỏ bê. Trước đây, ai đã dùng sự hầu hạ để quyến rũ tâm ta?
130.
130.
130.
‘‘Araññe me viharato, yo me tejā ha sambhutaṃ †;
Nānāratnaparipūraṃ, nāvaṃva gaṇhi aṇṇave’’.
“Who has destroyed the spiritual power that arose in me while I dwelt in the forest, seizing it as one might seize a ship in the ocean laden with various jewels?”
Kẻ nào đã phá hoại năng lực của ta, vốn sinh ra khi ta trú trong rừng, cũng giống như kẻ đã nhận chìm một con thuyền đầy châu báu giữa đại dương.
131.
131.
131.
‘‘Ahaṃ te pāricariyāya, devarājena pesitā;
Avadhiṃ † cittaṃ cittena, pamādo † tvaṃ na bujjhasi’’.
“Sent by the king of gods to attend upon you, I subdued your mind with my mind. Being heedless, you did not realize it.”
Tôi được vua trời phái đến để hầu hạ ngài. Tôi đã dùng tâm trí của mình để trói buộc tâm trí của ngài. Do buông lung, ngài đã không nhận ra.
132.
132.
132.
‘‘Imāni kira maṃ tāto, kassapo anusāsati;
Kamalāsadisitthiyo †, tāyo bujjhesi māṇava.
“Indeed, my father Kassapa used to instruct me with these words: ‘Beware of them, young man, these women who are like lotuses.’”
Cha ta, ngài Kassapa, quả thật đã dạy ta những lời này: 'Này chàng trai trẻ, có những người nữ giống như loài dây leo kamalā, con hãy coi chừng họ'.
133.
133.
133.
‘‘Ure gaṇḍāyo bujjhesi, tāyo bujjhesi māṇava;
Iccānusāsi maṃ tāto, yathā maṃ anukampako.
“‘Beware of the protuberances on their chests; beware of them, young man.’ Thus my father, who had compassion for me, instructed me.”
'Này chàng trai trẻ, hãy coi chừng những khối u trên ngực họ, hãy coi chừng họ.' Cha ta, người có lòng thương xót ta, đã dạy ta như vậy.
134.
134.
134.
‘‘Tassāhaṃ vacanaṃ nākaṃ, pitu vuddhassa sāsanaṃ;
Araññe nimmanussamhi, svajja jhāyāmi † ekako.
“I did not heed his word, the teaching of my wise father. Today, in this unpeopled forest, I grieve alone.”
Ta đã không làm theo lời dạy, lời giáo huấn của người cha già dặn kinh nghiệm. Hôm nay, ta phải than khóc một mình trong khu rừng vắng bóng người.
135.
135.
135.
‘‘Sohaṃ tathā karissāmi, dhiratthu jīvitena me;
Puna vā tādiso hessaṃ, maraṇaṃ me bhavissati’’.
“I shall act in such a way that I may once more become as I was. Fie on this life! Otherwise, death will be mine.”
Ta sẽ hành động để trở lại như xưa. Thật đáng nguyền rủa cho mạng sống này của ta! Nếu không, ta sẽ phải chết.
136.
136.
136.
‘‘Tassa tejaṃ † vīriyañca, dhitiṃ † ñatvā avaṭṭhitaṃ †;
Sirasā aggahī pāde, isisiṅgaṃ alambusā.
Knowing his power, his energy, and his unwavering resolve, Alambusā bowed, touching the sage Isisiṅga's feet with her head.
Biết được năng lực, tinh tấn, và sự kiên định vững chắc của ngài, nàng Alambusā đã cúi đầu đảnh lễ dưới chân đạo sĩ Isisiṅga.
137.
137.
137.
‘‘Mā me kujjha † mahāvīra, mā me kujjha † mahāise;
Mahā attho mayā ciṇṇo, tidasānaṃ yasassinaṃ;
Tayā saṃkampitaṃ āsi, sabbaṃ devapuraṃ tadā’’.
“Do not be angry with me, great hero; do not be angry with me, great sage. A great service was performed by me for the glorious Thirty-three Gods, for at that time, the entire city of the gods was shaken by you.”
Xin ngài đừng giận con, hỡi bậc Đại Anh hùng! Xin ngài đừng giận con, hỡi bậc Đại Ẩn sĩ! Khi ấy, vì ngài mà toàn thể cõi trời đã rung chuyển, con đã làm một việc lợi ích lớn lao cho các vị trời Ba mươi ba vinh quang.
138.
138.
138.
‘‘Tāvatiṃsā ca ye devā, tidasānañca vāsavo;
Tvañca bhadde sukhī hohi, gaccha kaññe yathāsukhaṃ’’.
“May the Tāvatiṃsa gods and Vāsava, lord of the Thirty-three, be happy. And you, good lady, be happy also. Go, maiden, as you please.”
Mong rằng các vị trời ở cõi Ba mươi ba, và cả vua Vāsava của họ, được an lạc. Này hiền nữ, mong nàng cũng được an lạc. Này thiếu nữ, hãy đi tùy theo ý nàng.
139.
139.
139.
‘‘Tassa pāde gahetvāna, katvā ca naṃ padakkhiṇaṃ;
Añjaliṃ paggahetvāna, tamhā ṭhānā apakkami.
Having taken his feet in reverence and circumambulated him to the right, she raised her joined hands in homage and departed from that place.
(Nàng Alambusā) đảnh lễ dưới chân vị ấy, đi nhiễu quanh ngài theo chiều bên phải, rồi chắp tay cung kính và rời khỏi nơi đó.
140.
140.
140.
‘‘Yo ca tassāsi pallaṅko, sovaṇṇo sopavāhano;
Sauttaracchadapaññāso, sahassapaṭiyatthato;
Tameva pallaṅkamāruyha, agā devāna santike.
And that palanquin which was hers, golden, with its carriers, with fifty upper coverings, and spread with a thousand carpets—mounting that very palanquin, she went into the presence of the gods.
Và chiếc kiệu của nàng tiên nữ ấy, làm bằng vàng, có đoàn tùy tùng; có năm mươi lọng che bên trên, được trải một ngàn tấm thảm cõi trời; nàng đã lên chính chiếc kiệu ấy, đi đến trước chư Thiên.
141.
141.
141.
‘‘Tamokkamiva āyantiṃ, jalantiṃ vijjutaṃ yathā;
Patīto sumano vitto, devindo adadā varaṃ’’.
Seeing her coming like a torch, shining like lightning, the lord of gods, pleased, glad, and delighted, granted her a boon.
Khi nàng tiên nữ ấy đang đến, như một ngọn đuốc, rực sáng như tia chớp; Thiên chủ, với lòng hoan hỷ, vui mừng, phấn khởi, đã ban cho một ân huệ.
142.
142.
142.
‘‘Varañce me ado sakka, sabbabhūtānamissara;
Nisippalobhikā † gacche, etaṃ sakka varaṃ vare’’ti.
“If, Sakka, lord of all beings, you would grant me a boon, may I not go to the temptress of the seer. This, Sakka, is the boon I choose.”
Thưa ngài Sakka, Chúa tể của tất cả chúng sanh, nếu ngài ban cho con một ân huệ, thì xin cho con không phải đi quyến rũ vị ẩn sĩ. Thưa ngài Sakka, đó là ân huệ con xin chọn.
Alambusājātakaṃ tatiyaṃ.
The Alambusā Jātaka, the Third.
Chuyện Bổn Sanh Alambusā, phần thứ ba.