Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
JA 522

Bản dịch

JA 522Chuyện đại nhân thiện xạ Sarabhanga (Tiền thân Sarabhanga)

2. Sarabhaṅgajātaka

3130. “Các vị đã được trang điểm, có đeo bông tai, y phục tươm tất, đeo gươm có chuôi bằng ngọc bích và ngọc trai. Thưa các ngài thủ lãnh xa binh, xin các ngài dừng lại, và các ngài là ai? Người ta nhận biết các ngài như thế nào ở thế giới nhân loại?”

3131. “Trẫm là Aṭṭhaka, và vị này là Bhīmaratha, còn vị nổi bật này là vua Kāliṅga. Chúng tôi đi đến nơi này để yết kiến các vị ẩn sĩ đã khéo tự kiềm chế để hỏi các câu hỏi.”

3132. “Ngài đứng ở không trung, trên bầu trời, tựa như mặt trăng vào ngày rằm, ở lưng chừng trời. Thưa vị Dạ-xoa có đại thần lực, trẫm xin hỏi ngài, người ta nhận biết ngài như thế nào ở thế giới nhân loại?”

3133. “Ở giữa chư Thiên, người ta đã gọi vị ấy là ‘Chồng của nàng Sujā,’ và ở thế giới nhân loại đã gọi là ‘Maghavā.’ Hôm nay, vị Thiên Vương ấy đi đến nơi này để yết kiến các vị ẩn sĩ đã khéo tự kiềm chế.”

3134. “Các vị ẩn sĩ của chúng ta ở xa xôi đã được nghe danh. Các ngài đã tụ hội lại. Các ngài có đại thần lực, đã đạt được các loại thần thông. Thưa các ngài, với tâm tịnh tín, tôi xin đảnh lễ các ngài, những vị ưu tú của nhân loại ở thế gian của cuộc sống tại nơi này.”

3135. “Mùi hương phát ra từ cơ thể của các vị ẩn sĩ đã xuất gia lâu ngày đi theo chiều gió. Thưa vị Nghìn Mắt, ngài hãy bước lui khỏi nơi này. Thưa vị Thiên Vương, mùi hương của các vị ẩn sĩ là không trong sạch.”

3136. “Mùi hương phát ra từ cơ thể của các vị ẩn sĩ đã xuất gia lâu ngày hãy đi theo chiều gió, tựa như tràng hoa thơm ngát với bông hoa nhiều màu sắc. Bạch ngài, chúng tôi mong mỏi mùi hương này, bởi vì chư Thiên không có ý tưởng nhờm gớm về mùi hương này.”

3137. “Vị đã bố thí trước đây, vị chúa của các sanh linh, vị có danh tiếng, vị chúa của chư Thiên, vị Maghavā, chồng của nàng Sujā, vị Thiên Vương ấy, vị có sự đánh tan bè lũ A-tu-la, mong chờ cơ hội để hỏi câu hỏi.

3138. Vậy ở đây, ai trong số các bậc sáng suốt này, khi được hỏi, sẽ trả lời các câu hỏi vi tế của ba vị vua, là ba bậc chúa tể cai trị loài người, của đấng quyền năng, và của vị chúa của chư Thiên?”

3139. “Vị ẩn sĩ Sarabhaṅga này có danh tiếng, đã lánh xa pháp đôi lứa từ lúc sanh ra, là con trai của vị giáo thọ, đã khéo được huấn luyện, vị ấy sẽ trả lời các câu hỏi của các bậc (vua chúa) ấy.”

3140. “Thưa ngài Koṇḍañña, xin ngài trả lời các câu hỏi. Các vị ẩn sĩ đức độ thỉnh cầu điều ấy. Thưa ngài Koṇḍañña, điều ấy là quy luật ở loài người, trách nhiệm ấy dành cho vị trưởng thượng.”

3141. “Cơ hội đã được tạo ra. Hãy để quý ngài hỏi bất cứ câu hỏi nào được mong mỏi ở trong tâm. Bởi vì ta sẽ trả lời cho quý vị từng câu một sau khi tự thân ta biết về đời này và đời sau.”

3142. Và sau đó, Thiên Chủ Maghavā, Sakka, vị mong mỏi điều lợi ích, vị đã bố thí trước đây, đã hỏi câu hỏi đầu tiên về điều đã được mong mỏi (ở trong tâm).

3143. “Sau khi tiêu diệt cái gì mà không bao giờ sầu muộn? Các bậc ẩn sĩ khen ngợi việc dứt bỏ cái gì? Nên nhẫn nhịn người nào về điều thô lỗ đã được họ nói ra ở nơi này? Thưa ngài Koṇḍañña, hãy giải thích cho tôi về điều ấy.”

3144. “Sau khi tiêu diệt sự giận dữ thì không bao giờ sầu muộn. Các bậc ẩn sĩ khen ngợi việc dứt bỏ sự gièm pha. Nên nhẫn nhịn tất cả mọi người về điều thô lỗ đã được họ nói ra. Các bậc thiện nhân đã nói sự nhẫn nại này là tối thượng.”

3145. “Có thể kham nhẫn lời nói của hai hạng người ngang bằng mình hoặc ưu tú hơn mình, làm thế nào nhẫn nhịn lời nói của người thấp kém? Thưa ngài Koṇḍañña, hãy giải thích cho tôi về điều ấy.”

3146. “Có thể kham nhẫn lời nói của người ưu tú bởi vì sợ hãi, và của người bằng mình vì nguyên nhân nguy hiểm đến sinh mạng. Ở đây, người nào có thể tha thứ lời nói của người thấp kém, các bậc thiện nhân đã nói sự nhẫn nại này là tối thượng.

3147. Làm thế nào có thể nhận biết được một người là ưu tú, tương đương, hoặc là thấp kém hơn với hình thức bên ngoài của bốn oai nghi? Các bậc thiện nhân du hành với hình thức ngụy trang (giả dạng người tồi tàn); chính vì thế, nên nhẫn nhịn lời nói của tất cả mọi người.

3148. Thật vậy, các đạo quân với cả đức vua dầu có vĩ đại, trong khi chiến đấu cũng không đạt được mục đích ấy, nhưng bậc chân nhân có lòng nhẫn nại lại đạt được điều ấy; đối với sức mạnh của lòng nhẫn nại, các sự hận thù được lặng yên.”

3149. “Sau khi tùy hỷ với lời khéo nói của ngài, tôi hỏi ngài điều khác. Nào, xin ngài hãy nói về điều ấy. Ví như thời xưa đã có các vị Daṇḍakī, Nāḷikīra, rồi vị Ajjuna, và luôn cả vị vua Kalābu, xin ngài nói về cảnh giới của những kẻ có hành động vô cùng độc ác ấy, những kẻ quấy nhiễu các vị ẩn sĩ sẽ tái sanh ở đâu?”

3150. “Bởi vì vua Daṇḍakī đã ném vật dơ ở Kisavaccha, với cả đất nước cùng với dân chúng đã bị bứng gốc, và bị nung nấu ở địa ngục tên Kukkula; các cục than hừng đổ lên thân hình của vị vua ấy.

3151. Nāḷikīra đã quấy nhiễu các vị xuất gia đã tự kiềm chế, các bậc Sa-môn không tội lỗi đang thuyết giảng thiện pháp. Các con chó ăn thịt kẻ Nāḷikīra đang run rẩy ấy khi gã tái sanh vào thế giới khác.

3152. Còn Ajjuna đã bị rơi vào địa ngục cọc nhọn, có chân phía trên đầu phía dưới, sau khi đã quấy nhiễu vị đạo sĩ khổ hạnh Aṅgīrasa Gotama có sự nhẫn nại, đã thực hành Phạm hạnh lâu dài.

3153. Kalābu đã chặt đứt vị xuất gia, bậc Sa-môn không tội lỗi đang thuyết giảng về sự nhẫn nại, thành từng khúc, và bị nung nấu sau khi tái sanh vào địa ngục Avīci có sự nóng bức dữ dội, đắng cay, chốn gây nên nỗi kinh hoàng.

3154. Sau khi nghe về những địa ngục ấy và những địa ngục khác còn tồi tệ hơn nữa ở nơi này, vị sáng suốt nên thực hành thiện pháp ở nơi các vị Sa-môn và Bà-la-môn; vị làm như vậy đi đến vị thế cõi trời.”

3155. “Sau khi tùy hỷ với lời khéo nói của ngài, tôi hỏi ngài điều khác. Nào, xin ngài hãy nói về điều ấy. (Các bậc trí) nói người như thế nào gọi là người có giới? (Các bậc trí) nói người như thế nào gọi là người có trí tuệ? (Các bậc trí) nói người như thế nào gọi là bậc thiện nhân? Người như thế nào thì sự vinh quang không rời bỏ?”

3156. “Ở đây, người nào đã tự kiềm chế thân và khẩu, và không làm bất cứ điều xấu xa nào bằng ý, không nói việc không thật vì nguyên nhân bản thân, (các bậc trí) nói người như thế ấy gọi là người có giới.

3157. Người suy xét bằng tâm về câu hỏi thâm sâu, không làm hành động hung dữ và không có lợi ích, không bê trễ lời nói có lợi ích khi thời điểm đến, , (các bậc trí) nói người như thế ấy gọi là người có trí tuệ.

3158. Người nào thật sự là người tri ân, biết trả ân, sáng trí, là người bạn tốt lành, và có lòng nhiệt tình bền vững, là người làm phận sự một cách nghiêm chỉnh đối với kẻ bị đau khổ, (các bậc trí) nói người như thế ấy gọi là bậc thiện nhân.

3159. Người được đầy đủ với tất cả các đức tính ấy, có niềm tin, mềm mỏng, có sự chia sớt về tài sản, rộng lượng, hào phóng, nói năng tử tế, có lời nói dịu dàng, người như thế ấy thì sự vinh quang không rời bỏ.”

3160. “Sau khi tùy hỷ với lời khéo nói của ngài, tôi hỏi ngài điều khác. Nào, xin ngài hãy nói về điều ấy. Về (các yếu tố) giới hạnh, cùng với sự vinh quang, và đức tính của những người tốt, và trí tuệ, (các bậc trí) nói yếu tố nào là ưu tú hơn?”

3161. “Các bậc thiện xảo nói chính trí tuệ là ưu tú, tựa như vua của các vì tinh tú (mặt trăng) ở giữa các vì sao. Giới hạnh, cùng với sự vinh quang, và đức tính của những người tốt là những yếu tố đi theo sau trí tuệ.”

3162. “Sau khi tùy hỷ với lời khéo nói của ngài, tôi hỏi ngài điều khác. Nào, xin ngài hãy nói về điều ấy. Người hành động như thế nào, làm việc gì, đang thực hành điều gì, đang phụng sự điều gì thì đạt được trí tuệ ở thế gian này? Giờ đây, xin ngài hãy nói về đường lối thực hành để đạt được trí tuệ. Người hành động như thế nào là người có trí tuệ?”

3163. “Hãy thân cận các bậc trưởng thượng, tinh tế, có kiến thức, nên là người học tập, nên là người hỏi (điều thắc mắc), nên cẩn thận lắng nghe các lời khéo nói; người hành động như vậy là người có trí tuệ.

3164. Vị có trí tuệ ấy nhìn thấy các loại dục là vô thường, là khổ não, là bệnh tật. Người có sự minh sát như vậy dứt bỏ sự mong muốn ở các sự khổ đau, ở các dục, ở các nỗi sợ hãi lớn lao.

3165. Vị ấy có luyến ái đã được xa lìa, có thể xua đi sân hận, có thể phát triển tâm từ ái vô hạn lượng. Sau khi đã buông bỏ sự hành hạ đối với tất cả chúng sanh, không bị chê bai, vị ấy đạt đến vị thế Phạm Thiên.

3166. Đã có sự đạt đến quyền lực lớn lao cho bệ hạ, luôn cả đức vua Bhīmaratha, và đức vua Kāliṅga nổi bật; tâu (đức vua) Aṭṭhaka, sự luyến ái trong các dục của tất cả các vị đã được dứt bỏ.”

3167. “Điều ấy là như vậy, thưa bậc biết được tâm của người khác, sự luyến ái trong các dục của tất cả chúng tôi đã được dứt bỏ. Xin ngài hãy tạo cho cơ hội bằng sự nâng đỡ. Mong rằng chúng tôi đạt được giống như sự thành tựu của ngài.”

3168. “Ta tạo cho cơ hội bằng sự nâng đỡ, bởi vì sự luyến ái trong các dục của các vị đã được dứt bỏ như thế ấy. Các vị hãy thấm nhuần toàn thân với tràn đầy hỷ lạc. Các vị hãy đạt được giống như sự thành tựu của ta.”

3169. “Chúng tôi sẽ thực hành mọi điều chỉ dạy của ngài, mỗi một điều ngài sẽ nói ra, thưa bậc có trí tuệ uyên bác, Mong rằng chúng tôi thấm nhuần toàn thân với tràn đầy hỷ lạc. Mong rằng chúng tôi đạt được giống như sự thành tựu của ngài.”

3170. “Việc tôn vinh đến vị Kisavaccha này đã được thực hiện. Các ngài hãy ra đi, thưa chư tôn đức ẩn sĩ có hình dáng tốt lành, chư vị hãy thích thú với việc tham thiền, luôn luôn định tĩnh; việc ấy là sự lạc thú tối ưu của bậc xuất gia.”

3171. “Sau khi lắng nghe các kệ ngôn liên hệ đến mục đích tối thượng đã được khéo nói bởi bậc ẩn sĩ sáng suốt, các vị ấy tùy hỷ với niềm hân hoan sanh khởi, chư Thiên có danh tiếng đã về lại Thiên giới.

3172. Những câu kệ ngôn này có ý nghĩa, có văn hay, đã được khéo nói bởi bậc ẩn sĩ sáng suốt. Bất cứ ai chăm chú lắng nghe những lời này có thể đạt được sự chứng đạt thứ bậc đầu tiên. Sau khi đạt được sự chứng đạt thứ bậc đầu tiên, có thể vượt khỏi tầm nhìn của Thần Chết.

3173. (Thời bấy giờ) vị Sālissara nay là Sāriputta, vị tên Meṇḍissara nay là Kassapa, vị Pabbata nay là Anuruddha, còn vị Kaccāyana nay là Devala.