Bản dịch
JA 522 — Chuyện đại nhân thiện xạ Sarabhanga (Tiền thân Sarabhanga)
2. Sarabhaṅgajātaka
3130. “Các vị đã được trang điểm, có đeo bông tai, y phục tươm tất, đeo gươm có chuôi bằng ngọc bích và ngọc trai. Thưa các ngài thủ lãnh xa binh, xin các ngài dừng lại, và các ngài là ai? Người ta nhận biết các ngài như thế nào ở thế giới nhân loại?”
3131. “Trẫm là Aṭṭhaka, và vị này là Bhīmaratha, còn vị nổi bật này là vua Kāliṅga. Chúng tôi đi đến nơi này để yết kiến các vị ẩn sĩ đã khéo tự kiềm chế để hỏi các câu hỏi.”
3132. “Ngài đứng ở không trung, trên bầu trời, tựa như mặt trăng vào ngày rằm, ở lưng chừng trời. Thưa vị Dạ-xoa có đại thần lực, trẫm xin hỏi ngài, người ta nhận biết ngài như thế nào ở thế giới nhân loại?”
3133. “Ở giữa chư Thiên, người ta đã gọi vị ấy là ‘Chồng của nàng Sujā,’ và ở thế giới nhân loại đã gọi là ‘Maghavā.’ Hôm nay, vị Thiên Vương ấy đi đến nơi này để yết kiến các vị ẩn sĩ đã khéo tự kiềm chế.”
3134. “Các vị ẩn sĩ của chúng ta ở xa xôi đã được nghe danh. Các ngài đã tụ hội lại. Các ngài có đại thần lực, đã đạt được các loại thần thông. Thưa các ngài, với tâm tịnh tín, tôi xin đảnh lễ các ngài, những vị ưu tú của nhân loại ở thế gian của cuộc sống tại nơi này.”
3135. “Mùi hương phát ra từ cơ thể của các vị ẩn sĩ đã xuất gia lâu ngày đi theo chiều gió. Thưa vị Nghìn Mắt, ngài hãy bước lui khỏi nơi này. Thưa vị Thiên Vương, mùi hương của các vị ẩn sĩ là không trong sạch.”
3136. “Mùi hương phát ra từ cơ thể của các vị ẩn sĩ đã xuất gia lâu ngày hãy đi theo chiều gió, tựa như tràng hoa thơm ngát với bông hoa nhiều màu sắc. Bạch ngài, chúng tôi mong mỏi mùi hương này, bởi vì chư Thiên không có ý tưởng nhờm gớm về mùi hương này.”
3137. “Vị đã bố thí trước đây, vị chúa của các sanh linh, vị có danh tiếng, vị chúa của chư Thiên, vị Maghavā, chồng của nàng Sujā, vị Thiên Vương ấy, vị có sự đánh tan bè lũ A-tu-la, mong chờ cơ hội để hỏi câu hỏi.
3138. Vậy ở đây, ai trong số các bậc sáng suốt này, khi được hỏi, sẽ trả lời các câu hỏi vi tế của ba vị vua, là ba bậc chúa tể cai trị loài người, của đấng quyền năng, và của vị chúa của chư Thiên?”
3139. “Vị ẩn sĩ Sarabhaṅga này có danh tiếng, đã lánh xa pháp đôi lứa từ lúc sanh ra, là con trai của vị giáo thọ, đã khéo được huấn luyện, vị ấy sẽ trả lời các câu hỏi của các bậc (vua chúa) ấy.”
3140. “Thưa ngài Koṇḍañña, xin ngài trả lời các câu hỏi. Các vị ẩn sĩ đức độ thỉnh cầu điều ấy. Thưa ngài Koṇḍañña, điều ấy là quy luật ở loài người, trách nhiệm ấy dành cho vị trưởng thượng.”
3141. “Cơ hội đã được tạo ra. Hãy để quý ngài hỏi bất cứ câu hỏi nào được mong mỏi ở trong tâm. Bởi vì ta sẽ trả lời cho quý vị từng câu một sau khi tự thân ta biết về đời này và đời sau.”
3142. Và sau đó, Thiên Chủ Maghavā, Sakka, vị mong mỏi điều lợi ích, vị đã bố thí trước đây, đã hỏi câu hỏi đầu tiên về điều đã được mong mỏi (ở trong tâm).
3143. “Sau khi tiêu diệt cái gì mà không bao giờ sầu muộn? Các bậc ẩn sĩ khen ngợi việc dứt bỏ cái gì? Nên nhẫn nhịn người nào về điều thô lỗ đã được họ nói ra ở nơi này? Thưa ngài Koṇḍañña, hãy giải thích cho tôi về điều ấy.”
3144. “Sau khi tiêu diệt sự giận dữ thì không bao giờ sầu muộn. Các bậc ẩn sĩ khen ngợi việc dứt bỏ sự gièm pha. Nên nhẫn nhịn tất cả mọi người về điều thô lỗ đã được họ nói ra. Các bậc thiện nhân đã nói sự nhẫn nại này là tối thượng.”
3145. “Có thể kham nhẫn lời nói của hai hạng người ngang bằng mình hoặc ưu tú hơn mình, làm thế nào nhẫn nhịn lời nói của người thấp kém? Thưa ngài Koṇḍañña, hãy giải thích cho tôi về điều ấy.”
3146. “Có thể kham nhẫn lời nói của người ưu tú bởi vì sợ hãi, và của người bằng mình vì nguyên nhân nguy hiểm đến sinh mạng. Ở đây, người nào có thể tha thứ lời nói của người thấp kém, các bậc thiện nhân đã nói sự nhẫn nại này là tối thượng.
3147. Làm thế nào có thể nhận biết được một người là ưu tú, tương đương, hoặc là thấp kém hơn với hình thức bên ngoài của bốn oai nghi? Các bậc thiện nhân du hành với hình thức ngụy trang (giả dạng người tồi tàn); chính vì thế, nên nhẫn nhịn lời nói của tất cả mọi người.
3148. Thật vậy, các đạo quân với cả đức vua dầu có vĩ đại, trong khi chiến đấu cũng không đạt được mục đích ấy, nhưng bậc chân nhân có lòng nhẫn nại lại đạt được điều ấy; đối với sức mạnh của lòng nhẫn nại, các sự hận thù được lặng yên.”
3149. “Sau khi tùy hỷ với lời khéo nói của ngài, tôi hỏi ngài điều khác. Nào, xin ngài hãy nói về điều ấy. Ví như thời xưa đã có các vị Daṇḍakī, Nāḷikīra, rồi vị Ajjuna, và luôn cả vị vua Kalābu, xin ngài nói về cảnh giới của những kẻ có hành động vô cùng độc ác ấy, những kẻ quấy nhiễu các vị ẩn sĩ sẽ tái sanh ở đâu?”
3150. “Bởi vì vua Daṇḍakī đã ném vật dơ ở Kisavaccha, với cả đất nước cùng với dân chúng đã bị bứng gốc, và bị nung nấu ở địa ngục tên Kukkula; các cục than hừng đổ lên thân hình của vị vua ấy.
3151. Nāḷikīra đã quấy nhiễu các vị xuất gia đã tự kiềm chế, các bậc Sa-môn không tội lỗi đang thuyết giảng thiện pháp. Các con chó ăn thịt kẻ Nāḷikīra đang run rẩy ấy khi gã tái sanh vào thế giới khác.
3152. Còn Ajjuna đã bị rơi vào địa ngục cọc nhọn, có chân phía trên đầu phía dưới, sau khi đã quấy nhiễu vị đạo sĩ khổ hạnh Aṅgīrasa Gotama có sự nhẫn nại, đã thực hành Phạm hạnh lâu dài.
3153. Kalābu đã chặt đứt vị xuất gia, bậc Sa-môn không tội lỗi đang thuyết giảng về sự nhẫn nại, thành từng khúc, và bị nung nấu sau khi tái sanh vào địa ngục Avīci có sự nóng bức dữ dội, đắng cay, chốn gây nên nỗi kinh hoàng.
3154. Sau khi nghe về những địa ngục ấy và những địa ngục khác còn tồi tệ hơn nữa ở nơi này, vị sáng suốt nên thực hành thiện pháp ở nơi các vị Sa-môn và Bà-la-môn; vị làm như vậy đi đến vị thế cõi trời.”
3155. “Sau khi tùy hỷ với lời khéo nói của ngài, tôi hỏi ngài điều khác. Nào, xin ngài hãy nói về điều ấy. (Các bậc trí) nói người như thế nào gọi là người có giới? (Các bậc trí) nói người như thế nào gọi là người có trí tuệ? (Các bậc trí) nói người như thế nào gọi là bậc thiện nhân? Người như thế nào thì sự vinh quang không rời bỏ?”
3156. “Ở đây, người nào đã tự kiềm chế thân và khẩu, và không làm bất cứ điều xấu xa nào bằng ý, không nói việc không thật vì nguyên nhân bản thân, (các bậc trí) nói người như thế ấy gọi là người có giới.
3157. Người suy xét bằng tâm về câu hỏi thâm sâu, không làm hành động hung dữ và không có lợi ích, không bê trễ lời nói có lợi ích khi thời điểm đến, , (các bậc trí) nói người như thế ấy gọi là người có trí tuệ.
3158. Người nào thật sự là người tri ân, biết trả ân, sáng trí, là người bạn tốt lành, và có lòng nhiệt tình bền vững, là người làm phận sự một cách nghiêm chỉnh đối với kẻ bị đau khổ, (các bậc trí) nói người như thế ấy gọi là bậc thiện nhân.
3159. Người được đầy đủ với tất cả các đức tính ấy, có niềm tin, mềm mỏng, có sự chia sớt về tài sản, rộng lượng, hào phóng, nói năng tử tế, có lời nói dịu dàng, người như thế ấy thì sự vinh quang không rời bỏ.”
3160. “Sau khi tùy hỷ với lời khéo nói của ngài, tôi hỏi ngài điều khác. Nào, xin ngài hãy nói về điều ấy. Về (các yếu tố) giới hạnh, cùng với sự vinh quang, và đức tính của những người tốt, và trí tuệ, (các bậc trí) nói yếu tố nào là ưu tú hơn?”
3161. “Các bậc thiện xảo nói chính trí tuệ là ưu tú, tựa như vua của các vì tinh tú (mặt trăng) ở giữa các vì sao. Giới hạnh, cùng với sự vinh quang, và đức tính của những người tốt là những yếu tố đi theo sau trí tuệ.”
3162. “Sau khi tùy hỷ với lời khéo nói của ngài, tôi hỏi ngài điều khác. Nào, xin ngài hãy nói về điều ấy. Người hành động như thế nào, làm việc gì, đang thực hành điều gì, đang phụng sự điều gì thì đạt được trí tuệ ở thế gian này? Giờ đây, xin ngài hãy nói về đường lối thực hành để đạt được trí tuệ. Người hành động như thế nào là người có trí tuệ?”
3163. “Hãy thân cận các bậc trưởng thượng, tinh tế, có kiến thức, nên là người học tập, nên là người hỏi (điều thắc mắc), nên cẩn thận lắng nghe các lời khéo nói; người hành động như vậy là người có trí tuệ.
3164. Vị có trí tuệ ấy nhìn thấy các loại dục là vô thường, là khổ não, là bệnh tật. Người có sự minh sát như vậy dứt bỏ sự mong muốn ở các sự khổ đau, ở các dục, ở các nỗi sợ hãi lớn lao.
3165. Vị ấy có luyến ái đã được xa lìa, có thể xua đi sân hận, có thể phát triển tâm từ ái vô hạn lượng. Sau khi đã buông bỏ sự hành hạ đối với tất cả chúng sanh, không bị chê bai, vị ấy đạt đến vị thế Phạm Thiên.
3166. Đã có sự đạt đến quyền lực lớn lao cho bệ hạ, luôn cả đức vua Bhīmaratha, và đức vua Kāliṅga nổi bật; tâu (đức vua) Aṭṭhaka, sự luyến ái trong các dục của tất cả các vị đã được dứt bỏ.”
3167. “Điều ấy là như vậy, thưa bậc biết được tâm của người khác, sự luyến ái trong các dục của tất cả chúng tôi đã được dứt bỏ. Xin ngài hãy tạo cho cơ hội bằng sự nâng đỡ. Mong rằng chúng tôi đạt được giống như sự thành tựu của ngài.”
3168. “Ta tạo cho cơ hội bằng sự nâng đỡ, bởi vì sự luyến ái trong các dục của các vị đã được dứt bỏ như thế ấy. Các vị hãy thấm nhuần toàn thân với tràn đầy hỷ lạc. Các vị hãy đạt được giống như sự thành tựu của ta.”
3169. “Chúng tôi sẽ thực hành mọi điều chỉ dạy của ngài, mỗi một điều ngài sẽ nói ra, thưa bậc có trí tuệ uyên bác, Mong rằng chúng tôi thấm nhuần toàn thân với tràn đầy hỷ lạc. Mong rằng chúng tôi đạt được giống như sự thành tựu của ngài.”
3170. “Việc tôn vinh đến vị Kisavaccha này đã được thực hiện. Các ngài hãy ra đi, thưa chư tôn đức ẩn sĩ có hình dáng tốt lành, chư vị hãy thích thú với việc tham thiền, luôn luôn định tĩnh; việc ấy là sự lạc thú tối ưu của bậc xuất gia.”
3171. “Sau khi lắng nghe các kệ ngôn liên hệ đến mục đích tối thượng đã được khéo nói bởi bậc ẩn sĩ sáng suốt, các vị ấy tùy hỷ với niềm hân hoan sanh khởi, chư Thiên có danh tiếng đã về lại Thiên giới.
3172. Những câu kệ ngôn này có ý nghĩa, có văn hay, đã được khéo nói bởi bậc ẩn sĩ sáng suốt. Bất cứ ai chăm chú lắng nghe những lời này có thể đạt được sự chứng đạt thứ bậc đầu tiên. Sau khi đạt được sự chứng đạt thứ bậc đầu tiên, có thể vượt khỏi tầm nhìn của Thần Chết.
3173. (Thời bấy giờ) vị Sālissara nay là Sāriputta, vị tên Meṇḍissara nay là Kassapa, vị Pabbata nay là Anuruddha, còn vị Kaccāyana nay là Devala.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Ahamaṭṭhako bhīmaratho panāyaṃ, kāliṅgarājā pana uggatoyaṃ †;
Susaññatānaṃ isīnaṃ † dassanāya, idhāgatā pucchitāyemha pañhe’’.
I am Aṭṭhaka, and this is Bhīmaratha; and this is Uggata, the king of Kāliṅga. We have come here for the sight of the well-restrained sages, and to ask questions.
Tôi là Aṭṭhaka, vị này là Bhīmaratha, còn vị nổi danh này là vua xứ Kāliṅga. Chúng tôi đến đây để diện kiến các vị ẩn sĩ đã khéo chế ngự, và để hỏi các câu hỏi.
52.
52.
52.
‘‘Vehāyasaṃ tiṭṭhasi † antalikkhe, pathaddhuno pannaraseva cando;
Pucchāmi taṃ yakkha mahānubhāva, kathaṃ taṃ jānanti manussaloke’’.
You stand in the sky, in mid-air, like the moon on the fifteenth day upon its course. I ask you, O yakkha of great power, how are you known in the world of humans?
Ngài đứng giữa không trung, không có chỗ tựa, như mặt trăng vào ngày rằm trên con đường của nó. Hỡi vị Dạ-xoa có đại thần lực, tôi xin hỏi ngài: người đời biết đến ngài như thế nào?
53.
53.
53.
‘‘Yamāhu devesu sujampatīti, maghavāti taṃ āhu manussaloke;
Sa devarājā idamajja patto, susaññatānaṃ isīnaṃ dassanāya’’.
He whom they call Sujampati among the devas, they call Maghavā in the world of humans. That king of devas has arrived here today for the sight of the well-restrained sages.
“Vị mà ở cõi trời, họ gọi là Sujampati, vị ấy ở cõi người, họ gọi là Maghavā. Vị Thiên vương ấy, hôm nay đã đến đây, để diện kiến các vị ẩn sĩ đã khéo thu thúc.”
54.
54.
54.
‘‘Dūre sutā no isayo samāgatā, mahiddhikā iddhiguṇūpapannā;
Vandāmi te ayire pasannacitto, ye jīvalokettha manussaseṭṭhā’’.
From afar we have heard that sages have assembled, of great psychic power, endowed with the qualities of iddhi. With a serene mind, I pay homage to those noble ones, who are the best among humans here in this world of the living.
“Từ phương xa, chúng tôi đã nghe về các vị ẩn sĩ hội họp, những vị có đại thần lực, thành tựu các phẩm chất thần thông. Với tâm tịnh tín, con xin đảnh lễ các bậc tôn quý ấy, những vị là bậc tối thắng giữa loài người trong thế gian này.”
55.
55.
55.
Gandho isīnaṃ ciradikkhitānaṃ †, kāyā cuto gacchati mālutena;
Ito paṭikkamma sahassanetta, gandho isīnaṃ asuci devarāja’’.
The scent of the long-ordained sages, issuing from their bodies, is carried by the wind. Withdraw from here, O Thousand-Eyed One; the scent of the sages is impure, O King of Devas.
“Mùi của các vị ẩn sĩ đã xuất gia lâu ngày, từ thân toát ra, bay đi theo gió. Này vị Thiên Nhãn, hãy lui ra khỏi đây. Này Thiên vương, mùi của các vị ẩn sĩ thật là ô uế.”
56.
56.
56.
‘‘Gandho isīnaṃ ciradikkhitānaṃ, kāyā cuto gacchatu mālutena;
Vicitrapupphaṃ surabhiṃva mālaṃ, gandhañca etaṃ pāṭikaṅkhāma bhante;
Na hettha devā paṭikkūlasaññino’’.
Let the scent of the long-ordained sages, issuing from their bodies, be carried by the wind. Like a fragrant garland of varied flowers, we desire this very scent, venerable sirs. For in this, the devas have no perception of repulsion.
“Mùi của các vị ẩn sĩ đã xuất gia lâu ngày, từ thân toát ra, cứ bay đi theo gió. Kính bạch các ngài, chúng tôi mong mỏi mùi hương này, giống như một tràng hoa thơm ngát với những bông hoa đa dạng. Chư thiên không có tưởng ghê tởm đối với mùi hương này.”
57.
57.
57.
‘‘Purindado bhūtapatī yasassī, devānamindo sakko † maghavā sujampati;
Sa devarājā asuragaṇappamaddano, okāsamākaṅkhati pañha pucchituṃ.
Purindada, lord of beings, the renowned, Indra of the devas, Sakka, Maghavā, Sujampati; that king of devas, crusher of the asura hosts, desires an opportunity to ask a question.
“Vị Purindada, Chúa tể chúng sanh, đầy danh tiếng, Vua của chư thiên, Sakka, Maghavā, Sujampati; vị Thiên vương ấy, người nhiếp phục chúng A-tu-la, đang mong muốn có cơ hội để hỏi một câu hỏi.”
58.
58.
58.
‘‘Ko nevimesaṃ idha paṇḍitānaṃ, pañhe puṭṭho nipuṇe byākarissati;
Tiṇṇañca raññaṃ manujādhipānaṃ, devānamindassa ca vāsavassa’’.
Who indeed among these wise ones here, when asked subtle questions, will be able to answer them—the questions of the three kings, lords of men, and of Vāsava, the Indra of the devas?
“Ở đây, trong số các bậc hiền trí này, ai sẽ có thể trả lời những câu hỏi vi tế khi được hỏi, (câu hỏi) của ba vị vua, chúa tể loài người, và của Vāsava, vua của chư thiên?”
59.
59.
59.
‘‘Ayaṃ isi † sarabhaṅgo tapassī †, yato jāto virato methunasmā;
Āceraputto † suvinītarūpo, so nesaṃ pañhāni viyākarissati’’.
This sage, Sarabhaṅga, is an ascetic; from the time of his birth he has abstained from sexual intercourse. He is the son of the royal chaplain, of a well-disciplined nature. He will answer their questions.
“Vị ẩn sĩ Sarabhaṅga này, một vị khổ hạnh, từ khi sinh ra đã từ bỏ việc dâm dục, là con của vị thầy, có phong thái được khéo huấn luyện. Vị ấy sẽ trả lời các câu hỏi của họ.”
60.
60.
60.
‘‘Koṇḍañña pañhāni viyākarohi, yācanti taṃ isayo sādhurūpā;
Koṇḍañña eso manujesu dhammo, yaṃ vuddha † māgacchati esa bhāro’’.
Koṇḍañña, please answer the questions; the virtuous sages entreat you. Koṇḍañña, this is the way among humans: this burden falls upon the wise.
“Này ngài Koṇḍañña, xin hãy trả lời các câu hỏi, các vị ẩn sĩ có phong thái tốt đẹp đang thỉnh cầu ngài. Này ngài Koṇḍañña, đây là pháp ở giữa loài người, rằng gánh nặng này đến với người trưởng thượng.”
61.
61.
61.
‘‘Katāvakāsā pucchantu bhonto, yaṃ kiñci pañhaṃ manasābhipatthitaṃ;
Ahañhi taṃ taṃ vo viyākarissaṃ, ñatvā sayaṃ lokamimaṃ parañca’’.
Having been granted the opportunity, let the venerable ones ask whatever question they have conceived in their minds. For I will explain that very thing to you, having myself known this world and the next.
“Kính thưa các ngài, đã được cho phép, xin hãy hỏi bất cứ câu hỏi nào mà tâm các ngài mong muốn. Tôi sẽ trả lời câu hỏi ấy cho các ngài, sau khi tự mình biết rõ đời này và đời sau.”
62.
62.
62.
‘‘Tato ca maghavā sakko, atthadassī purindado;
Apucchi paṭhamaṃ pañhaṃ, yañcāsi abhipatthitaṃ’’.
Then Maghavā Sakka, the seer of the goal, Purindada, asked the first question, the one he had longed to ask.
“Sau đó, Maghavā Sakka, vị thấy được lợi ích, vị Purindada, đã hỏi câu hỏi đầu tiên, câu hỏi mà ngài đã mong muốn.”
63.
63.
63.
‘‘Kiṃ sū vadhitvā na kadāci socati, kissappahānaṃ isayo vaṇṇayanti;
Kassīdha vuttaṃ pharusaṃ khametha, akkhāhi me koṇḍañña etamatthaṃ’’.
Having slain what does one never grieve? The abandonment of what do the sages praise? Whose harsh speech should one endure in this world? Explain this matter to me, Koṇḍañña.
“Giết cái gì rồi thì không bao giờ sầu muộn? Các vị ẩn sĩ tán thán sự từ bỏ cái gì? Ở đời này, nên nhẫn chịu lời thô ác của ai? Này ngài Koṇḍañña, xin hãy giải thích ý nghĩa này cho tôi.”
64.
64.
64.
‘‘Kodhaṃ vadhitvā na kadāci socati, makkhappahānaṃ isayo vaṇṇayanti;
Sabbesaṃ vuttaṃ pharusaṃ khametha, etaṃ khantiṃ uttamamāhu santo’’.
Having slain anger, one never grieves. The sages praise the abandonment of denigration. One should endure the harsh speech of all. This, the virtuous call the highest patience.
“Giết sân hận rồi thì không bao giờ sầu muộn. Các vị ẩn sĩ tán thán sự từ bỏ lòng phụ ơn. Nên nhẫn chịu lời thô ác của tất cả mọi người. Các bậc thiện nhân gọi đó là sự nhẫn nại tối thượng.”
65.
65.
65.
‘‘Sakkā ubhinnaṃ † vacanaṃ titikkhituṃ, sadisassa vā seṭṭhatarassa † vāpi;
Kathaṃ nu hīnassa vaco khametha, akkhāhi me koṇḍañña etamatthaṃ’’.
It is possible to endure the speech of two kinds of people: an equal or a superior. But how should one endure the speech of an inferior? Explain this matter to me, Koṇḍañña.
“Có thể nhẫn chịu lời nói của hai hạng người, là người bằng mình hoặc người hơn mình. Nhưng làm sao có thể nhẫn chịu lời nói của người thấp kém hơn? Này ngài Koṇḍañña, xin hãy giải thích ý nghĩa này cho tôi.”
66.
66.
66.
‘‘Bhayā hi seṭṭhassa vaco khametha, sārambhahetū pana sādisassa;
Yo cīdha hīnassa vaco khametha, etaṃ khantiṃ uttamamāhu santo’’.
One should endure the speech of a superior out of fear, and that of an equal because of contention. But whoever in this world endures the speech of an inferior—that, the virtuous call the highest patience.
“Nên nhẫn chịu lời của người hơn mình vì sợ hãi, và của người bằng mình để tránh tranh chấp. Còn người nào ở đời này nhẫn chịu được lời của người thấp kém hơn, các bậc thiện nhân gọi đó là sự nhẫn nại tối thượng.”
67.
67.
67.
‘‘Kathaṃ vijaññā catupattharūpaṃ †, seṭṭhaṃ sarikkhaṃ athavāpi hīnaṃ;
Virūparūpena caranti santo, tasmā hi sabbesaṃ vaco khametha’’.
How can one know a person whose true nature is concealed, whether they are superior, equal, or inferior? The virtuous wander about in various guises; therefore, one should endure the speech of all.
“Làm sao biết được người có bản chất che đậy, là người hơn, bằng, hay thấp kém hơn mình? Các bậc thiện nhân đi lại với hình tướng khác lạ. Vì vậy, nên nhẫn chịu lời nói của tất cả mọi người.”
68.
68.
68.
‘‘Na hetamatthaṃ mahatīpi senā, sarājikā yujjhamānā labhetha;
Yaṃ khantimā sappuriso labhetha, khantī balassūpasamanti verā’’.
Not even a great army with its king, while engaged in battle, could obtain that which a patient, good person might obtain. Through the strength of patience, enmities are appeased.
“Một đạo quân lớn cùng với vua, dù chiến đấu cũng không thể đạt được lợi ích mà một bậc chân nhân có lòng nhẫn nại có thể đạt được. Nhờ sức mạnh của nhẫn nại, các oán thù được lắng dịu.”
69.
69.
69.
‘‘Subhāsitaṃ te anumodiyāna, aññaṃ taṃ pucchāmi tadiṅgha brūhi;
Yathā ahuṃ † daṇḍakī nāḷikero †, athajjuno kalābu cāpi rājā;
Tesaṃ gatiṃ brūhi supāpakamminaṃ, katthūpapannā isinaṃ viheṭhakā’’.
Rejoicing in your well-spoken words, I ask you another question; come, please tell me. As there were the kings Daṇḍakī, Nāḷikera, and also Ajjuna and King Kalābu—tell me the destination of those of exceedingly evil deeds, those harassers of sages. Where have they been reborn?
“Tùy hỷ lời khéo nói của ngài, tôi xin hỏi ngài câu khác, xin ngài hãy nói cho. Về các vị vua Daṇḍakī, Nāḷikera, và cả Ajjuna, Kalābu; xin hãy nói về cảnh giới của những kẻ làm ác ấy, những kẻ hãm hại các vị ẩn sĩ, họ đã tái sanh ở đâu?”
70.
70.
70.
‘‘Kisañhi † vacchaṃ avakiriya daṇḍakī, ucchinnamūlo sajano saraṭṭho;
Kukkuḷanāme nirayamhi paccati, tassa phuliṅgāni patanti kāye.
King Daṇḍakī, having defiled the emaciated ascetic Vaccha, was uprooted along with his people and his kingdom. He is tormented in the hell named Kukkuḷa, and sparks fall upon his body.
“Vua Daṇḍakī, sau khi hãm hại vị ẩn sĩ Vaccha gầy gò, đã bị diệt tận gốc cùng với dân chúng và vương quốc. Y đang bị thiêu đốt trong địa ngục tên là Kukkuḷa, những tia lửa rơi trên thân của y.”
71.
71.
71.
‘‘Yo saññate pabbajite aheṭhayi †, dhammaṃ bhaṇante samaṇe adūsake;
Taṃ nāḷikeraṃ sunakhā parattha, saṅgamma khādanti viphandamānaṃ.
The King Nāḷikera who harassed a restrained renunciate, a blameless ascetic speaking the Dhamma—in the next world, dogs gather and devour him as he writhes.
“Vị vua Nāḷikera đã hãm hại các vị xuất gia đã được thu thúc, các vị sa-môn vô tội đang thuyết pháp. Ở đời sau, bầy chó tụ tập lại cắn xé y trong khi y đang quằn quại.”
72.
72.
72.
‘‘Athajjuno niraye sattisūle, avaṃsiro patito uddhaṃpādo †;
Aṅgīrasaṃ gotamaṃ heṭhayitvā, khantiṃ tapassiṃ cirabrahmacāriṃ.
Furthermore, Ajjuna, having harassed Aṅgīrasa of the Gotama clan—who was patient, austere, and long-practiced in the holy life—has fallen into a hell with a spear-stake, head down and feet up.
“Và Ajjuna, sau khi đã hãm hại vị Aṅgīrasa Gotama, một vị khổ hạnh nhẫn nại, sống phạm hạnh lâu dài, đã bị rơi vào địa ngục có cọc nhọn, đầu chúc xuống, chân chổng lên.”
73.
73.
73.
‘‘Yo khaṇḍaso pabbajitaṃ achedayi, khantiṃ vadantaṃ samaṇaṃ adūsakaṃ;
Kalābuvīciṃ upapajja paccati, mahāpatāpaṃ † kaṭukaṃ bhayānakaṃ.
He who cut into pieces a blameless renunciate, an ascetic who preached patience—that King Kalābu, having arisen in the Avīci hell, is tormented in that place of great suffering, which is painful and dreadful.
“Vị vua Kalābu đã chặt vị xuất gia ra từng mảnh, vị sa-môn vô tội, người thuyết về nhẫn nại. Y sanh vào địa ngục Avīci, đang bị thiêu đốt, (địa ngục) có sự thống khổ lớn, đau đớn, kinh hoàng.”
74.
74.
74.
‘‘Etāni sutvā nirayāni paṇḍito, aññāni pāpiṭṭhatarāni cettha;
Dhammaṃ care samaṇabrāhmaṇesu, evaṅkaro saggamupeti ṭhānaṃ’’.
Having heard of these hells, and others even more wicked than these, a wise person should practice the Dhamma towards ascetics and brahmins. One who does so attains a heavenly state.
“Bậc hiền trí, sau khi nghe về những địa ngục này và những địa ngục khác còn tồi tệ hơn nữa, nên thực hành Chánh pháp đối với các sa-môn, bà-la-môn. Người làm như vậy sẽ đạt đến cảnh giới chư thiên.”
75.
75.
75.
‘‘Subhāsitaṃ te anumodiyāna, aññaṃ taṃ pucchāmi tadiṅgha brūhi;
Kathaṃvidhaṃ sīlavantaṃ vadanti, kathaṃvidhaṃ paññavantaṃ vadanti;
Kathaṃvidhaṃ sappurisaṃ vadanti, kathaṃvidhaṃ no siri no jahāti’’.
Rejoicing in your well-spoken words, I ask you another question; come now, please tell me this: What kind of person do they call virtuous? What kind of person do they call wise? What kind of person do they call a good person? And what kind of person does fortune not abandon?
“Tùy hỷ lời khéo nói của ngài, tôi xin hỏi ngài câu khác, xin ngài hãy nói cho. Người như thế nào thì được gọi là người có giới? Người như thế nào thì được gọi là người có trí tuệ? Người như thế nào thì được gọi là bậc chân nhân? Người như thế nào thì tài sản, phước đức không từ bỏ?”
76.
76.
76.
‘‘Kāyena vācāya ca yo’dha † saññato, manasā ca kiñci na karoti pāpaṃ;
Na attahetū alikaṃ bhaṇeti †, tathāvidhaṃ sīlavantaṃ vadanti.
He who here in this world is restrained in body and speech, and with his mind commits no evil whatsoever; who does not speak falsehood for his own sake—such a person they call virtuous.
“Người nào ở đời này thu thúc thân và khẩu, và không làm điều ác nào bằng ý, không nói dối vì lợi ích của bản thân, người như vậy được gọi là người có giới.”
77.
77.
77.
‘‘Gambhīrapañhaṃ manasābhicintayaṃ †, nāccāhitaṃ kamma karoti luddaṃ;
Kālāgataṃ † atthapadaṃ na riñcati, tathāvidhaṃ paññavantaṃ vadanti.
He who, pondering a profound question with his mind, is able to resolve it; who does no harmful or cruel deed; and who does not neglect a beneficial matter when the time has come—such a person they call wise.
“Người nào suy xét bằng tâm về câu hỏi sâu sắc, không làm nghiệp tàn ác, tai hại, không bỏ lỡ cơ hội mang lại lợi ích khi thời cơ đến, người như vậy được gọi là người có trí tuệ.”
78.
78.
78.
‘‘Yo ve kataññū katavedi dhīro, kalyāṇamitto daḷhabhatti ca hoti;
Dukhitassa sakkacca karoti kiccaṃ, tathāvidhaṃ sappurisaṃ vadanti.
He who is grateful and mindful of favors done, who is steadfast, a good friend, and firm in loyalty; who diligently carries out his duty to one in distress—such a person they call a good person.
“Người nào biết ơn, đền ơn, kiên định, là bạn tốt, có lòng trung thành vững chắc, làm công việc cho người bạn đang đau khổ một cách tận tâm, người như vậy được gọi là bậc chân nhân.”
79.
79.
79.
‘‘Etehi sabbehi guṇehupeto, saddho mudū saṃvibhāgī vadaññū;
Saṅgāhakaṃ sakhilaṃ saṇhavācaṃ, tathāvidhaṃ no siri no jahāti’’.
The person who is endowed with all these qualities, who is faithful, gentle, one who shares, and is generous; who is helpful, courteous, and of soft speech—such a person fortune does not abandon.
“Người nào thành tựu tất cả những phẩm chất này: có tín tâm, nhu hòa, biết chia sẻ, rộng lượng, biết nhiếp phục, có lời nói thân ái, lời nói dịu dàng; tài sản, phước đức không từ bỏ người như vậy.”
80.
80.
80.
‘‘Subhāsitaṃ te anumodiyāna, aññaṃ taṃ pucchāmi tadiṅgha brūhi;
Sīlaṃ siriñcāpi satañca dhammaṃ, paññañca kaṃ seṭṭhataraṃ vadanti’’.
Rejoicing in your well-spoken words, I ask you another question; come now, please tell me this: Of virtue, fortune, the Dhamma of the good, and wisdom—which do the wise declare to be the most excellent?
“Tùy hỷ lời khéo nói của ngài, tôi xin hỏi ngài câu khác, xin ngài hãy nói cho. Giữa giới, tài sản phước đức, pháp của bậc thiện nhân, và trí tuệ, cái nào được các bậc hiền trí gọi là cao quý hơn cả?”
81.
81.
81.
‘‘Paññā hi seṭṭhā kusalā vadanti, nakkhattarājāriva tārakānaṃ;
Sīlaṃ sīrī cāpi satañca dhammo †, anvāyikā paññavato bhavanti’’.
The skillful declare that wisdom is supreme, just as the moon is the king among the stars. Virtue, fortune, and the Dhamma of the good—these all follow one who possesses wisdom.
“Các bậc thiện xảo nói rằng trí tuệ là cao quý nhất, giống như vua của các tinh tú đối với các vì sao. Giới, tài sản phước đức, và pháp của bậc thiện nhân, đều đi theo người có trí tuệ.”
82.
82.
82.
‘‘Subhāsitaṃ te anumodiyāna, aññaṃ taṃ pucchāmi tadiṅgha brūhi;
Kathaṃkaro kintikaro kimācaraṃ, kiṃ sevamāno labhatīdha paññaṃ;
Paññāya dānippaṭipaṃ † vadehi, kathaṃkaro paññavā hoti macco’’.
Rejoicing in your well-spoken words, I ask you another question; come now, please tell me this: By doing what, by what kind of action, by what conduct, and by associating with whom does one obtain wisdom here? Now, please declare the path to wisdom: how does a mortal become wise?
Sau khi hoan hỷ lời khéo nói của ngài, con xin hỏi ngài điều khác, xin ngài hãy nói điều ấy. Làm thế nào, hành động ra sao, thực hành điều gì, phụng sự ai mà ở đời này có được trí tuệ? Bây giờ, xin ngài hãy nói về con đường đưa đến trí tuệ, làm thế nào để một người trở thành bậc trí tuệ?
83.
83.
83.
‘‘Sevetha vuddhe nipuṇe bahussute, uggāhako ca paripucchako siyā;
Suṇeyya sakkacca subhāsitāni, evaṃkaro paññavā hoti macco.
One should associate with the venerable elders, the skillful, and the very learned. One should be a student and an inquirer. One should listen respectfully to well-spoken words. By doing so, a mortal becomes wise.
Nên phụng sự các bậc trưởng thượng, tinh thông, đa văn; nên là người học hỏi và là người thường xuyên tra hỏi. Nên kính cẩn lắng nghe những lời khéo nói. Người làm như vậy sẽ trở thành bậc trí tuệ.
84.
84.
84.
‘‘ Paññavā kāmaguṇe avekkhati, aniccato dukkhato rogato ca;
Evaṃ vipassī pajahāti chandaṃ, dukkhesu kāmesu mahabbhayesu.
A wise person observes the strands of sensual pleasure as impermanent, as suffering, and as a disease. One who sees things in this way abandons desire for sensual pleasures, which are suffering and a source of great fear.
Bậc trí tuệ quán xét các dục trưởng là vô thường, là khổ, và là bệnh hoạn. Người có tuệ quán như vậy từ bỏ dục tham trong các dục vốn là khổ đau, có nhiều sợ hãi.
85.
85.
85.
‘‘Sa vītarāgo pavineyya dosaṃ, mettaṃ † cittaṃ bhāvaye † appamāṇaṃ;
Sabbesu bhūtesu nidhāya daṇḍaṃ, anindito brahmamupeti ṭhānaṃ’’.
He, being free from passion and having dispelled hatred, should cultivate a boundless mind of loving-kindness. Having laid aside the rod toward all beings, he, being blameless, attains the Brahma-abode.
Vị ấy, đã ly tham, nên loại trừ sân hận, nên tu tập tâm từ vô lượng. Đặt xuống hình phạt đối với tất cả chúng sanh, vị ấy không bị chê trách, đạt đến cảnh giới Phạm thiên.
86.
86.
86.
‘‘Mahatthiyaṃ † āgamanaṃ ahosi, tavamaṭṭhakā † bhīmarathassa cāpi;
Kāliṅgarājassa ca uggatassa, sabbesa vo kāmarāgo pahīno’’.
Of great benefit has this arrival been—yours, O Aṭṭhaka, and that of Bhīmaratha, and also of the renowned King of Kāliṅga. For all of you, sensual passion has been abandoned.
Sự đến đây đã có lợi ích lớn, của ngài, hỡi Aṭṭhaka, và cả của Bhīmaratha, và của vua Uggata xứ Kāliṅga. Dục tham của tất cả các ngài đã được đoạn tận.
87.
87.
87.
‘‘Evametaṃ paracittavedi, sabbesa no kāmarāgo pahīno;
Karohi okāsamanuggahāya, yathā gatiṃ te abhisambhavema’’.
It is just so, O knower of others' minds; for all of us, sensual passion has been abandoned. Out of compassion, please grant us the opportunity, so that we may attain your destination.
Đúng là như vậy, hỡi ngài người biết tâm kẻ khác, dục tham của tất cả chúng tôi đã được đoạn tận. Xin ngài hãy tạo cơ hội để tế độ, để chúng tôi có thể đạt đến cảnh giới của ngài.
88.
88.
88.
‘‘Karomi okāsamanuggahāya, tathā hi vo kāmarāgo pahīno;
Pharātha kāyaṃ vipulāya pītiyā, yathā gatiṃ me abhisambhavetha’’.
I grant this opportunity out of compassion, for indeed your sensual passion has been abandoned. Pervade your bodies with abundant rapture, so that you may attain my destination.
Ta tạo cơ hội để tế độ, vì rằng dục tham của các ngài đã được đoạn tận. Hãy làm cho thân thể thấm nhuần hỷ lạc rộng lớn, để các ngài có thể đạt đến cảnh giới của ta.
89.
89.
89.
‘‘Sabbaṃ karissāma tavānusāsaniṃ, yaṃ yaṃ tuvaṃ vakkhasi bhūripañña;
Pharāma kāyaṃ vipulāya pītiyā, yathā gatiṃ te abhisambhavema’’.
We shall follow all your instructions, whatever you may say, O one of vast wisdom. We shall pervade our bodies with abundant rapture, so that we may attain your destination.
Chúng tôi sẽ làm theo tất cả lời giáo huấn của ngài, bất cứ điều gì ngài nói, hỡi bậc quảng tuệ. Chúng tôi sẽ làm cho thân thể thấm nhuần hỷ lạc rộng lớn, để chúng tôi có thể đạt đến cảnh giới của ngài.
90.
90.
90.
‘‘Katāya † vacchassa kisassa pūjā, gacchantu bhonto isayo sādhurūpā;
Jhāne ratā hotha sadā samāhitā, esā ratī pabbajitassa seṭṭhā’’.
Homage has been paid to Kisavaccha. Let the venerable sages of virtuous nature now depart. Always be concentrated, delighting in meditative absorption. This is the supreme delight for one who has gone forth.
Sự cúng dường đến Kisavaccha đã được thực hiện. Xin các vị đạo sĩ thiện hảo hãy đi. Hãy luôn định tĩnh, hoan hỷ trong thiền định. Sự hoan hỷ này là cao thượng đối với người xuất gia.
91.
91.
91.
‘‘Sutvāna gāthā paramatthasaṃhitā, subhāsitā isinā paṇḍitena;
Te vedajātā anumodamānā, pakkāmu † devā devapuraṃ yasassino.
Having heard the verses connected with the ultimate meaning, well-spoken by the wise sage, those renowned gods, filled with joy and appreciation, departed to their celestial city.
Sau khi nghe những câu kệ liên quan đến chân nghĩa, được vị đạo sĩ hiền trí khéo nói, các vị chư thiên có danh tiếng ấy, với hỷ lạc phát sanh, cùng nhau hoan hỷ, đã trở về thiên giới.
92.
92.
92.
‘‘Gāthā imā atthavatī subyañjanā, subhāsitā isinā paṇḍitena;
Yo kocimā aṭṭhikatvā † suṇeyya, labhetha pubbāpariyaṃ visesaṃ;
Laddhāna pubbāpariyaṃ visesaṃ, adassanaṃ maccurājassa gacche’’.
These verses, meaningful and well-phrased, well-spoken by the wise sage—whoever should listen to them, taking them to heart, would obtain a special distinction concerning past and future. Having obtained that special distinction, they would go beyond the sight of the King of Death.
Những câu kệ này có ý nghĩa, văn cú trong sáng, được vị đạo sĩ hiền trí khéo nói. Bất cứ ai kính cẩn lắng nghe những câu kệ này, sẽ đạt được sự chứng đắc đặc biệt trước sau. Sau khi đã đạt được sự chứng đắc đặc biệt trước sau, vị ấy sẽ đi đến nơi mà tử vương không nhìn thấy.
93.
93.
93.
‘‘Sālissaro sāriputto, meṇḍissaro ca kassapo;
Pabbato anuruddho ca, kaccāyano ca devalo †.
Sāriputta was the ascetic Sālissara, and Kassapa was Meṇḍissara; Anuruddha was Pabbata, and Kaccāyana was Devala.
Sāriputta là đạo sĩ Sālissara, Kassapa là đạo sĩ Meṇḍissara, Anuruddha là đạo sĩ Pabbata, và Kaccāyana là đạo sĩ Devala.
94.
94.
94.
‘‘Anusisso ca ānando, kisavaccho ca kolito;
Nārado udāyī thero †, parisā buddhaparisā;
Sarabhaṅgo lokanātho, evaṃ dhāretha jātaka’’nti.
Ānanda was the ascetic Anusissa, and Kolita was Kisavaccha; the Elder Udāyī was Nārada. The assembly of that time is now the Buddha's assembly. The Lord of the World was Sarabhaṅga. Thus should you remember this Jātaka.
Ānanda là đạo sĩ Anusissa, Kolita là đạo sĩ Kisavaccha, Trưởng lão Udāyī là đạo sĩ Nārada. Hội chúng (khi ấy) là Phật hội chúng (bây giờ). Đấng Lãnh Đạo Thế Giới (là ta) là đạo sĩ Sarabhaṅga. Hãy ghi nhớ câu chuyện tiền thân như vậy.
Sarabhaṅgajātakaṃ dutiyaṃ.
The Sarabhaṅga Jātaka, the second, is concluded.
Chuyện tiền thân Sarabhaṅga, thứ hai.