Bản dịch
JA 521 — Chuyện ba con chim (Tiền thân Tesakuna)
1. Tesakuṇajātaka
3081. “Này chim, chúc điều tốt lành đến chim. Trẫm hỏi chim Vessantara, với ý muốn trị vì vương quốc, phận sự nào được thực hiện là tốt nhất?”
3082. “Quả thật, cha Kaṃsa thân yêu, người cai trị thành Bārāṇasī, lâu nay bị xao lãng, đã quở trách con, đứa con trai không bị xao lãng.
3083. Tâu vị Sát-đế-lỵ, trước tiên nên ngăn chặn sự không chân thật, sự giận dữ, sự cười giỡn. Sau đó, nên làm các việc cần phải làm; người xưa đã nói việc ấy là bổn phận.
3084. Cha thân, hành động khổ hạnh nào đã được làm trước đây theo thông lệ, là việc mà cha có thể làm khi bị luyến ái và sân hận; từ đây, không nên làm việc ấy nữa.
3085. Tâu bậc làm hưng thịnh đất nước, tất cả của cải ở đất nước của vị Sát-đế-lỵ đã bị xao lãng đều bị tiêu tan; việc ấy gọi là sự bất hạnh của vị vua.
3086. Cha thân, nữ thần Sirī và nữ thần Lakkhī, khi được hỏi, đã nói điều này: ‘Ta ưa thích những người sốt sắng, tinh tấn, không đố kỵ.’
3087. Tâu đại vương, nữ thần Kālakaṇṇī, vị thần phá hoại vận may, ưa thích những kẻ đố kỵ, có tâm xấu xa, những kẻ phá hoại công việc.
3088. Tâu đại vương, cha đây hãy có tâm tốt lành đối với tất cả, hãy bảo vệ tất cả, hãy xua đuổi nữ thần Alakkhī, hãy là chỗ trú của nữ thần Lakkhī.
3089. Bởi vì, là người có sự may mắn, đầy đủ sự dũng cảm, đi đến sự lớn mạnh, vị chúa của xứ Kāsi chặt đứt cả gốc lẫn ngọn của các kẻ thù.
3090. Bởi vì, ngay cả Thiên Chủ Sakka, vị chúa của các sanh linh, không xao lãng trong việc sốt sắng, sau khi tạo ra sự dũng cảm trong việc phước thiện, ngài thực hiện sự sốt sắng ở tâm.
3091. Các vị Càn-thát-bà, các vị Phạm Thiên, chư Thiên có cuộc sống là như thế ấy. Chư Thiên ngự kế cận các vị sốt sắng, không xao lãng.
3092. Cha thân, cha đây hãy ra lệnh làm các việc cần phải làm, không được xao lãng, không nóng giận, và hãy nỗ lực trong các phận sự. Người biếng nhác không tìm thấy hạnh phúc.
3093. Ngay trong trường hợp ấy, các phần công việc của bệ hạ chính là các lời khuyên bảo ấy; chúng là vừa đủ để đem lại hạnh phúc cho các bạn bè và gây khó khăn cho các kẻ thù.”
3094. “Này chim Kuṇḍalinī, con là thân nhân. Này nữ thân quyến của dòng Sát-đế-lỵ, con nghĩ thế nào (về câu hỏi), với ý muốn trị vì vương quốc, phận sự nào được thực hiện là tốt nhất?”
3095. “Cha thân, có hai nguyên nhân chính, căn cứ vào đó, mọi thứ được thiết lập: Đạt được cái chưa đạt được, và bảo vệ cái đã đạt được.
3096. Cha thân, cha hãy nhận biết các quan đại thần (nào là) sáng trí và rành rẽ về mục đích, không cờ bạc, không gian lận, không nghiện ngập, không phung phí.
3097. Cha thân, người này có thể gìn giữ tài sản thuộc về cha, tựa như người đánh xe có thể chăm sóc cỗ xe, người ấy có thể thực hiện các việc cần phải làm của cha.
3098. Với nhân sự nội bộ khéo được chăm sóc, nên đích thân xem xét tài sản, của cải cất giấu, nợ nần, và vật biếu xén. Không nên làm các công việc đem lại thu nhập cho kẻ khác.
3099. Nên đích thân biết về thu thập và chi tiêu, nên đích thân biết về việc đã làm hay chưa làm, nên khiển trách kẻ đáng bị khiển trách, nên cất nhắc người đáng được cất nhắc.
3100. Tâu đấng thủ lãnh xa binh, ngài nên tự mình chỉ dạy dân chúng về mục đích. Chớ để những viên chức phi pháp hủy hoại tài sản và đất nước của ngài.
3101. Và ngài chớ thực hiện hoặc cho người thực hiện các phận sự một cách vội vã, bởi vì đối với công việc được làm một cách vội vã, sau này kẻ đần độn sẽ hối hận.
3102. Chớ để tự do cho việc phạm tội của ngài, khi tâm bị nổi giận vô cùng mãnh liệt, bởi vì do giận dữ, nhiều gia đình đông đúc đã đi đến tình trạng (tan nát) không còn gia đình.
3103. Cha thân, (biết rằng): ‘Ta là vị chúa tể,’ chớ dẫn dắt dân chúng vào sự thối đọa. Chớ để hậu quả khổ đau đến với những người nữ và những người nam của ngài.
3104. Đối với vị vua đeo đuổi ngũ dục, không còn sợ hãi sự chê trách, tất cả của cải đều bị tiêu tan; việc ấy gọi là sự bất hạnh của vị vua.
3105. Ngay trong trường hợp ấy, các phần công việc của bệ hạ chính là các lời khuyên bảo ấy. Giờ đây, bệ hạ hãy là người khôn ngoan, người làm việc phước thiện, không nghiện ngập, không phung phí. Tâu đại vương, ngài hãy là người có giới hạnh, (bởi vì) kẻ có giới hạnh tồi là kẻ sẽ bị đọa vào địa ngục.
3106. “Chúng ta đã hỏi chim thuộc dòng họ Kosiya (chim Vessantara) và chim Kuṇḍalinī y như vậy. Này chim Jambuka, giờ đây con hãy nói về sức mạnh tối cao trong số các sức mạnh.”
3107. “Có năm loại sức mạnh ở con người đã trở nên vĩ đại trên thế gian; trong số đó, cái gọi là sức mạnh của cánh tay được cho là sức mạnh sau cùng.
3108. Thưa tiền bối, sức mạnh về của cải được cho là sức mạnh thứ nhì. [1] Thưa tiền bối, sức mạnh của người cố vấn được cho là sức mạnh thứ ba.
[1] Sự sắp xếp ở đây là theo thứ tự từ thấp lên cao, trí tuệ được xếp vào vị trí thứ năm, tức là vị trí cao nhất (ND).
3109. Và sức mạnh của dòng dõi, cái ấy là thứ tư, không có nghi ngờ. Bậc sáng suốt làm chủ tất cả các sức mạnh ấy.
3110. Trong số các sức mạnh, sức mạnh đứng đầu, cao cả, cao quý ấy là sức mạnh của trí tuệ. Được nâng đỡ bởi sức mạnh của trí tuệ, bậc sáng suốt tìm được sự tiến thân.
3111. Thậm chí, nếu kẻ đần độn đạt được trái đất quý báu, phồn thịnh, thì kẻ khác cũng sẽ dùng vũ lực đoạt lấy phần đất của kẻ không có mong muốn.
3112. Dầu cho vị Sát-đế-lỵ được sanh ra cao quý, sau khi đạt được vương quốc, chính vì có trí tuệ tồi, vị chúa của xứ Kāsi không thể sinh tồn với toàn thể vương quốc ấy.
3113. Trí tuệ có sự suy xét điều đã được nghe.
Trí tuệ có sự làm tăng trưởng danh thơm tiếng tốt.
Ở đây, người được đầy đủ trí tuệ
tìm thấy các sự an lạc, thậm chí ngay cả trong khổ đau.
3114. Thật vậy, người không mong muốn lắng nghe, không đến gần vị có kiến thức rộng (đa văn), không chia chẽ ý nghĩa của các pháp, không người nào đạt đến trí tuệ.
3115. Và người nào biết phân loại các pháp, có sự thức dậy sớm, không biếng nhác, tiến hành công việc theo thời biểu, kết quả của công việc được thành tựu đến vị ấy.
3116. Đối với kẻ có bản tánh không nỗ lực, thân cận với kẻ không nỗ lực, có hành động một cách chán nản, mục đích không được kết trái một cách đúng đắn (cho kẻ ấy).
3117. Và đối với người đã gắn bó với (sự tu tập của) bản thân, thân cận với người nỗ lực như thế ấy, có hành động không chán nản, mục đích được kết trái một cách đúng đắn (cho người ấy).
3118. Cha thân, cha hãy thực hành hai việc ấy: việc gọi là gắn bó và thực hành, việc bảo vệ tài sản đã được tích lũy. Chớ để tiêu hoại do không hoạt động, bởi vì kẻ ngu do không hoạt động tựa như căn nhà bằng sậy bị sụp đổ.
3119. Tâu đại vương, tâu vị Sát- đế- lỵ, hãy thực hành pháp (phụng dưỡng) đối với cha mẹ. Tâu bệ hạ, sau khi thực hành pháp ở nơi này, bệ hạ sẽ đi đến cõi Trời.
3120. Tâu đại vương, tâu vị Sát- đế- lỵ, hãy thực hành pháp (cấp dưỡng) đối với vợ con. Tâu bệ hạ, sau khi thực hành pháp ở nơi này, bệ hạ sẽ đi đến cõi Trời.
3121. Tâu đại vương, tâu vị Sát- đế- lỵ, hãy thực hành pháp (thu phục) đối với bạn bè và đồng nghiệp. Tâu bệ hạ, sau khi thực hành pháp ở nơi này, bệ hạ sẽ đi đến cõi Trời.
3122. Tâu đại vương, tâu vị Sát- đế- lỵ, hãy thực hành pháp (chu cấp) đối với các đội xa binh và bộ binh. Tâu bệ hạ, sau khi thực hành pháp ở nơi này, bệ hạ sẽ đi đến cõi Trời.
3123. Tâu đại vương, tâu vị Sát- đế- lỵ, hãy thực hành pháp (không sách nhiễu) ở các thôn làng và các phố thị. Tâu bệ hạ, sau khi thực hành pháp ở nơi này, bệ hạ sẽ đi đến cõi Trời.
3124. Tâu đại vương, tâu vị Sát- đế- lỵ, hãy thực hành pháp (không sách nhiễu) trong các đất nước và các xứ sở. Tâu bệ hạ, sau khi thực hành pháp ở nơi này, bệ hạ sẽ đi đến cõi Trời.
3125. Tâu đại vương, tâu vị Sát- đế- lỵ, hãy thực hành pháp (bố thí) đến các Sa-môn và Bà-la-môn. Tâu bệ hạ, sau khi thực hành pháp ở nơi này, bệ hạ sẽ đi đến cõi Trời.
3126. Tâu đại vương, tâu vị Sát- đế- lỵ, hãy thực hành pháp (không hãm hại) đối với các loài thú và loài chim. Tâu bệ hạ, sau khi thực hành pháp ở nơi này, bệ hạ sẽ đi đến cõi Trời.
3127. Tâu đại vương, hãy thực hành (thiện) pháp. (Thiện) pháp được thực hành là nguồn đem lại niềm an lạc. Tâu bệ hạ, sau khi thực hành pháp ở nơi này, bệ hạ sẽ đi đến cõi Trời.
3128. Tâu đại vương, hãy thực hành (thiện) pháp. Thiên Chủ Inda, chư Thiên, cùng với Phạm Thiên đã đạt được cung Trời nhờ đã thực hành tốt đẹp. Tâu bệ hạ, chớ xao lãng (thiện) pháp.
3129. Ngay trong trường hợp ấy, các phần công việc của bệ hạ chính là các lời khuyên bảo ấy. Bệ hạ hãy là người tốt lành, có sự thân cận các bậc trí tuệ, là người hiểu biết đầy đủ về bản thân.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Vessantaraṃ taṃ pucchāmi, sakuṇa bhaddamatthu te;
Rajjaṃ kāretukāmena, kiṃ su kiccaṃ kataṃ varaṃ’’.
“I ask you, Vessantara, O bird, may good fortune be yours. By one desiring to rule, what is the most excellent deed to be done?”
“Này chim Vessantara, ta hỏi ngươi đây, mong ngươi được an lành. Đối với người muốn trị vì vương quốc, việc làm tốt đẹp nào là cao thượng nhất?”
2.
2.
2.
‘‘Cirassaṃ vata maṃ tāto, kaṃso bārāṇasiggaho;
Pamatto appamattaṃ maṃ, pitā puttaṃ acodayi.
“Indeed, after a long time, my father Kaṃsa, Lord of Bārāṇasī, though heedless, has questioned me, his son, who am heedful.”
“Quả thật, sau một thời gian dài, phụ vương ta, đức vua Kaṃsa, người cai trị xứ Bārāṇasī, vốn đã xao lãng, nay lại hỏi ta, người con không xao lãng.”
3.
3.
3.
‘‘Paṭhameneva vitathaṃ, kodhaṃ hāsaṃ nivāraye;
Tato kiccāni kāreyya, taṃ vataṃ āhu khattiya.
“First, one should restrain falsehood, anger, and frivolity; then one should perform one's duties. That, O noble, they call the practice.”
“Trước hết, bậc vương giả nên tránh nói dối, sân hận, và vui đùa thái quá. Sau đó, hãy thực thi các phận sự. Người ta gọi đó là giới hạnh của bậc Sát-đế-lỵ.”
4.
4.
4.
‘‘Yaṃ tvaṃ tāta tapokammaṃ †, pubbe katamasaṃsayaṃ;
Ratto duṭṭho ca yaṃ kayirā, na taṃ kayirā tato puna †.
“Dear father, whatever deed you might do when impassioned or hateful, you would surely regret it later. Do not do such a deed again.”
“Tâu phụ vương, việc làm nào mà ngài thực hiện khi tham ái hoặc sân hận, chắc chắn sau này ngài sẽ hối tiếc về việc đã làm trước đây. Do đó, đừng bao giờ làm lại việc ấy nữa.”
5.
5.
5.
‘‘Khattiyassa pamattassa, raṭṭhasmiṃ raṭṭhavaḍḍhana;
Sabbe bhogā vinassanti, rañño taṃ vuccate aghaṃ.
“O prosperer of the kingdom, when a noble is heedless, all wealth in the kingdom is destroyed; that is called the king's misfortune.”
“Thưa đấng làm cho vương quốc phồn vinh, khi một vị vua Sát-đế-lỵ sống buông thả, tất cả tài sản trong vương quốc đều bị tiêu vong. Điều đó được gọi là nỗi bất hạnh của nhà vua.”
6.
6.
6.
‘‘Sirī tāta alakkhī ca †, pucchitā etadabravuṃ;
Uṭṭhāna † vīriye pose, ramāhaṃ anusūyake.
“Dear father, Sirī and Alakkhī, the goddesses of fortune and misfortune, when asked, said this. Sirī spoke: ‘I delight in a person who is energetic, persevering, and free from envy.’”
“Tâu phụ vương, khi được hỏi, nữ thần May Mắn (Sirī) và nữ thần Bất Hạnh (Alakkhī) đã nói điều này. (Nữ thần May Mắn nói): ‘Ta vui thích ở cùng người có sự phấn đấu, tinh cần, và không ganh tỵ.’”
7.
7.
7.
‘‘Usūyake duhadaye, purise kammadussake;
Kālakaṇṇī mahārāja, ramati † cakkabhañjanī.
“In an envious, malevolent person, one who spoils good deeds, Kālakaṇṇī, the wheel-breaker, delights, O great king.”
“Tâu Đại vương, nữ thần Bất Hạnh (Kālakaṇṇī), kẻ phá hoại vận may, lại vui thích ở cùng người hay ganh tỵ, có tâm địa xấu xa, và phá hoại các thiện nghiệp.”
8.
8.
8.
‘‘So tvaṃ sabbesu suhadayo †, sabbesaṃ rakkhito bhava;
Alakkhiṃ nuda mahārāja, lakkhyā bhava nivesanaṃ.
“Therefore, be kind-hearted towards all, be a protector of all. Drive away Misfortune, O great king, and be an abode for Fortune.”
“Vậy, tâu Đại vương, ngài hãy có thiện tâm với tất cả, hãy là người bảo hộ cho tất cả. Xin hãy xua đuổi nữ thần Bất Hạnh và hãy trở thành nơi cư ngụ cho nữ thần May Mắn.”
9.
9.
9.
‘‘Sa lakkhīdhitisampanno, puriso hi mahaggato;
Amittānaṃ kāsipati, mūlaṃ aggañca chindati.
“Indeed, that man endowed with fortune and steadfastness is one of high attainment; O lord of Kāsi, he cuts off his enemies, root and branch.”
“Thưa đức vua xứ Kāsī, người nào được phú cho sự may mắn và lòng kiên định, người ấy quả thật đã đạt đến sự vĩ đại, và sẽ chặt đứt tận gốc ngọn kẻ thù của mình.”
10.
10.
10.
‘‘Sakkopi hi bhūtapati, uṭṭhāne nappamajjati;
Sa kalyāṇe dhitiṃ katvā, uṭṭhāne kurute mano.
“Even Sakka, the lord of beings, is not heedless in exertion; having resolved on what is good, he sets his mind on exertion.”
“Thưa đấng chúa tể của chúng sanh, ngay cả đức vua trời Sakka cũng không xao lãng trong việc nỗ lực. Ngài quyết tâm làm điều thiện và chuyên chú vào sự phấn đấu.”
11.
11.
11.
‘‘Gandhabbā pitaro devā, sājīvā † honti tādino;
Uṭṭhāhato † appamajjato †, anutiṭṭhanti devatā.
“The Gandharvas, the Ancestors, and the devas associate with such a one; the deities watch over the one who is energetic and heedful.”
“Các vị Càn-thát-bà, các bậc tổ tiên, và chư thiên đều ủng hộ người như vậy. Chư thiên luôn bảo hộ người siêng năng và không buông thả.”
12.
12.
12.
‘‘So appamatto akkuddho †, tāta kiccāni kāraya;
Vāyamassu ca kiccesu, nālaso vindate sukhaṃ.
“Therefore, be heedful and free from anger, dear father, and attend to your duties. Strive in your tasks, for the lazy do not find happiness.”
“Vậy, tâu phụ vương, ngài hãy không xao lãng, không sân hận, và hãy thực thi các phận sự. Hãy nỗ lực trong công việc, vì người lười biếng không thể tìm thấy hạnh phúc.”
13.
13.
13.
‘‘Tattheva te vattapadā, esāva † anusāsanī;
Alaṃ mitte sukhāpetuṃ, amittānaṃ dukhāya † ca’’.
“Therein lie the principles of conduct for you; this is the instruction. It is sufficient to bring happiness to friends and suffering to enemies.”
“Đó chính là những nguyên tắc hành xử dành cho ngài. Đây chính là lời khuyên dạy. (Thực hành theo đó) sẽ đủ để mang lại hạnh phúc cho bạn bè và gây ra đau khổ cho kẻ thù.”
14.
14.
14.
‘‘Sakkhisi tvaṃ † kuṇḍalini, maññasi khattabandhuni †;
Rajjaṃ kāretukāmena, kiṃ su kiccaṃ kataṃ varaṃ’’.
“Are you able, O Kuṇḍalinī, do you understand, O kinswoman of nobles? By one who wishes to rule, what is the most excellent deed to be done?”
“Này nàng Kuṇḍalinī, người thân tộc của dòng Sát-đế-lỵ, nàng có thể trả lời chăng, nàng có hiểu chăng? Đối với người muốn trị vì vương quốc, việc làm tốt đẹp nào là cao thượng nhất?”
15.
15.
15.
‘‘Dveva tāta padakāni, yattha † sabbaṃ patiṭṭhitaṃ;
Aladdhassa ca yo lābho, laddhassa cānurakkhaṇā.
“Dear father, there are just two foundations upon which everything is established: the acquisition of what has not been gained, and the protection of what has been gained.”
“Tâu phụ vương, chỉ có hai nguyên tắc, là nền tảng cho tất cả mọi việc: đó là đạt được những gì chưa đạt được, và bảo vệ những gì đã đạt được.”
16.
16.
16.
‘‘Amacce tāta jānāhi, dhīre atthassa kovide;
Anakkhā kitave tāta, asoṇḍe avināsake.
“Dear father, know your ministers: that they be wise, skilled in affairs, not slanderers or cheats, dear father, not dissolute, and not destructive.”
“Tâu phụ vương, hãy biết rõ các vị quan của mình: những người hiền trí, thông thạo công việc. Tâu phụ vương, (hãy chọn) những người không vu khống, không cờ bạc, không nghiện rượu, và không phá hoại của công.”
17.
17.
17.
‘‘Yo ca taṃ tāta rakkheyya, dhanaṃ yañceva te siyā;
Sūtova rathaṃ saṅgaṇhe, so te kiccāni kāraye.
“Dear father, whoever would guard your wealth, just as a charioteer manages a chariot, you should appoint him to carry out your affairs.”
“Tâu phụ vương, vị quan nào có thể bảo vệ bất cứ tài sản nào của ngài, cũng như người đánh xe điều khiển cỗ xe, hãy để người ấy đảm đương công việc cho ngài.”
18.
18.
18.
‘‘Susaṅgahitantajano, sayaṃ vittaṃ avekkhiya;
Nidhiñca iṇadānañca, na kare parapattiyā.
“Having well-supported one's retinue and personally overseen one's wealth, one should not make deposits or give loans by relying on another's word.”
“Hãy khéo léo quản lý những người thân cận, hãy tự mình kiểm tra tài sản. Việc cất giữ của cải và cho vay mượn, chớ nên làm qua sự tin tưởng người khác.”
19.
19.
19.
‘‘Sayaṃ āyaṃ vayaṃ † jaññā, sayaṃ jaññā katākataṃ;
Niggaṇhe niggahārahaṃ, paggaṇhe paggahārahaṃ.
“You yourself should know your income and expenditure; you yourself should know what has been done and what has not. Restrain one who deserves restraint, and support one who deserves support.”
“Hãy tự mình biết rõ các khoản thu chi, tự mình biết rõ việc đã làm và chưa làm. Hãy khiển trách người đáng bị khiển trách, và hãy tán thưởng người đáng được tán thưởng.”
20.
20.
20.
‘‘Sayaṃ jānapadaṃ atthaṃ, anusāsa rathesabha;
Mā te adhammikā yuttā, dhanaṃ raṭṭhañca nāsayuṃ.
“You yourself should administer the welfare of the country, O bull among charioteers. Let not your unrighteous officials destroy your wealth and your kingdom.”
“Thưa bậc Tối thắng, ngài hãy tự mình cai quản việc nước. Đừng để các quan lại bất chính phá hoại tài sản và vương quốc của ngài.”
21.
21.
21.
‘‘Mā ca vegena kiccāni, karosi † kārayesi vā;
Vegasā hi kataṃ kammaṃ, mando pacchānutappati.
“Do not perform your duties with haste, nor have them so performed; for a deed done with haste is later regretted by the fool.”
“Chớ nên tự mình làm hoặc sai người làm các công việc một cách vội vã. Bởi vì kẻ ngu si sẽ hối hận về sau đối với việc làm hấp tấp.”
22.
22.
22.
‘‘Mā te adhisare muñca, subāḷhamadhikodhitaṃ †;
Kodhasā hi bahū phītā, kulā akulataṃ gatā.
“Do not unleash your very fierce and excessive anger in a dispute; for through anger many prosperous families have come to ruin.”
“Đối với người phạm lỗi, xin ngài chớ trút cơn giận quá mạnh mẽ và dữ dội. Bởi vì do sân hận, nhiều gia tộc thịnh vượng đã đi đến chỗ suy vong.”
23.
23.
23.
‘‘Mā tāta issaromhīti, anatthāya patārayi;
Itthīnaṃ purisānañca, mā te āsi dukhudrayo.
“Dear father, do not, thinking ‘I am the master,’ bring about ruin. May you not be a source of suffering for women and men.”
“Tâu phụ vương, chớ vì nghĩ rằng ‘Ta là chúa tể’ mà lấn át người khác để làm hại họ. Xin ngài đừng trở thành nguyên nhân gây đau khổ cho cả phụ nữ và nam giới (trong vương quốc).”
24.
24.
24.
‘‘Apetalomahaṃsassa, rañño kāmānusārino;
Sabbe bhogā vinassanti, rañño taṃ vuccate aghaṃ.
“Of a king who is devoid of awe and follows his desires, all his wealth is destroyed; this is called the king's misfortune.”
“Đối với một vị vua không biết sợ hãi (hậu quả của việc ác) và chỉ chạy theo dục vọng, tất cả tài sản đều bị tiêu vong. Điều đó được gọi là nỗi bất hạnh của nhà vua.”
25.
25.
25.
‘‘Tattheva te vattapadā, esāva anusāsanī;
Dakkhassudāni puññakaro, asoṇḍo avināsako;
Sīlavāssu † mahārāja, dussīlo vinipātiko’’ †.
“Therein lie the principles of conduct for you; this is the instruction. Be diligent now, a doer of merit, not dissolute, not destructive. Be virtuous, O great king; for one without virtue is headed for downfall.”
Chính trong đó là những pháp hành của bậc đế vương, đây chính là lời giáo huấn. Bây giờ, hãy là người siêng năng, làm phước, không nghiện ngập, không phá hoại. Tâu Đại vương, hãy là người có giới hạnh; người không có giới hạnh sẽ bị sa đọa.
26.
26.
26.
‘‘Apucchimha kosiyagottaṃ †, kuṇḍaliniṃ tatheva ca;
Tvaṃ dāni vadehi jambuka †, balānaṃ balamuttamaṃ’’.
“We have asked Kosiyagotta, and Kuṇḍalinī as well. Now you, Jambu, tell me of the highest strength among strengths.”
Ta đã hỏi người thuộc dòng Kosiya, và cũng đã hỏi nàng Kuṇḍalinī. Giờ đây, hỡi Jambuka, con hãy nói cho ta nghe về sức mạnh tối thượng trong các sức mạnh.
27.
27.
27.
‘‘Balaṃ pañcavidhaṃ loke, purisasmiṃ mahaggate;
Tattha bāhubalaṃ nāma, carimaṃ vuccate balaṃ.
“In this world, there are five kinds of strength in a person of high attainment; among them, the strength of arms is said to be the last.”
Trên đời này, người có chí lớn có năm loại sức mạnh. Trong đó, sức mạnh của cánh tay được gọi là sức mạnh thấp kém nhất.
28.
28.
28.
‘‘Bhogabalañca dīghāvu, dutiyaṃ vuccate balaṃ;
Amaccabalañca dīghāvu, tatiyaṃ vuccate balaṃ.
“The strength of wealth, O long-lived one, is called the second strength; and the strength of ministers, O long-lived one, is called the third strength.”
Thưa ngài Dīghāvu, sức mạnh của tài sản được gọi là sức mạnh thứ hai. Thưa ngài Dīghāvu, sức mạnh của quần thần được gọi là sức mạnh thứ ba.
29.
29.
29.
‘‘Abhijaccabalaṃ ceva, taṃ catutthaṃ asaṃsayaṃ;
Yāni cetāni sabbāni, adhigaṇhāti paṇḍito.
“And the strength of high birth, that is the fourth, without a doubt. Yet a wise person surpasses all of these.”
Và sức mạnh của dòng dõi cao quý, đó chắc chắn là sức mạnh thứ tư. Người có trí tuệ có thể chế ngự tất cả những sức mạnh này.
30.
30.
30.
‘‘Taṃ balānaṃ balaṃ seṭṭhaṃ, aggaṃ paññābaṃ balaṃ †;
Paññābalenupatthaddho, atthaṃ vindati paṇḍito.
“The strength of wisdom is the best of strengths, the highest strength of all. Supported by the strength of wisdom, the wise person finds success.”
Trong các sức mạnh, sức mạnh trí tuệ là cao quý nhất, là hàng đầu. Được hỗ trợ bởi sức mạnh trí tuệ, người có trí tuệ đạt được lợi ích.
31.
31.
31.
‘‘Api ce labhati mando, phītaṃ dharaṇimuttamaṃ;
Akāmassa pasayhaṃ vā, añño taṃ paṭipajjati.
“Even if a fool obtains a prosperous and excellent land, another takes possession of it from him, against his will or by force.”
Dù kẻ ngu dốt có được vùng đất thịnh vượng, cao quý, thì người khác cũng sẽ chiếm lấy nó, dù kẻ ấy không muốn hoặc bị cưỡng đoạt.
32.
32.
32.
‘‘Abhijātopi ce hoti, rajjaṃ laddhāna khattiyo;
Duppañño hi kāsipati, sabbenapi na jīvati.
“Even if a noble is of high birth and has obtained a kingdom, if he is foolish, O lord of Kāsi, he cannot survive even with all that.”
Thưa vua xứ Kāsi, dù một người dòng Sát-đế-lỵ có xuất thân cao quý, sau khi có được vương quốc, nếu thiếu trí tuệ, người ấy cũng không thể sống được với tất cả những gì mình có.
33.
33.
33.
‘‘Paññāva sutaṃ vinicchinī †, paññā kitti silokavaḍḍhanī †;
Paññāsahito naro idha, api dukkhe sukhāni vindati.
“Wisdom itself discerns what is learned; wisdom increases fame and renown. Here in this world, a person with wisdom finds happiness even amid suffering.”
Trí tuệ giúp phân định điều đã học, trí tuệ làm tăng trưởng danh tiếng và tiếng tăm. Người có trí tuệ ở đời này, ngay cả trong khổ đau, vẫn tìm thấy hạnh phúc.
34.
34.
34.
‘‘Paññañca kho asussūsaṃ, na koci adhigacchati;
Bahussutaṃ anāgamma, dhammaṭṭhaṃ avinibbhujaṃ.
“Indeed, no one attains wisdom who is unwilling to listen, who fails to approach the very learned, and who does not discern what is right in principle.”
Không ai có thể đạt được trí tuệ nếu không muốn lắng nghe, không gần gũi người học rộng, không đứng vững trong Chánh pháp, và không phân định được (đúng sai).
35.
35.
35.
‘‘Yo ca dhammavibhaṅgaññū †, kāluṭṭhāyī matandito;
Anuṭṭhahati kālena, kammaphalaṃ tassa ijjhati †.
For the wise one who understands the analysis of the Dhamma, is diligent and unwearied, and strives at the proper time, the fruit of his kamma is accomplished.
Người trí nào biết phân biệt các pháp, siêng năng đúng lúc, không lười biếng, và nỗ lực vào thời điểm thích hợp, quả của nghiệp của người ấy sẽ được thành tựu.
36.
36.
36.
‘‘Anāyatana † sīlassa, anāyatana † sevino;
Na nibbindiyakārissa, sammadattho vipaccati.
For one of immoral conduct, who associates with the immoral, and who acts with weariness, the true benefit does not mature.
Đối với người có hành vi của kẻ vô giới, giao du với kẻ vô giới, và làm việc một cách chán nản, lợi ích chân chánh sẽ không trổ quả.
37.
37.
37.
‘‘Ajjhattañca payuttassa, tathāyatanasevino;
Anibbindiyakārissa, sammadattho vipaccati.
For one who is internally diligent, who associates with the virtuous, and who acts without weariness, the true benefit matures.
Đối với người nỗ lực tu tập nội tâm, giao du với người có nền tảng tương xứng, và làm việc không chán nản, lợi ích chân chánh sẽ trổ quả.
38.
38.
38.
‘‘Yogappayogasaṅkhātaṃ, sambhatassānurakkhaṇaṃ;
Tāni tvaṃ tāta sevassu, mā akammāya randhayi;
Akammunā hi dummedho, naḷāgāraṃva sīdati’’.
That which is known as proper application and exertion, and the protection of what has been accumulated—these two, O father, you should attend to. Do not bring about ruin through improper action. For by improper action, the foolish one perishes, just as a dilapidated reed house collapses.
Thưa cha, ngài hãy thực hành những phương pháp thích hợp để bảo vệ tài sản đã tích lũy. Đừng làm hao tổn tài sản bằng những việc không thích hợp. Vì kẻ ngu dốt, do hành động sai trái, sẽ suy sụp như một ngôi nhà sậy.
39.
39.
39.
‘‘Dhammaṃ cara mahārāja, mātāpitūsu khattiya;
Idha dhammaṃ caritvāna, rāja saggaṃ gamissasi.
Practice the Dhamma, O great king, towards your parents, O khattiya. Having practiced the Dhamma in this world, O king, you will go to heaven.
Tâu Đại vương, hãy thực hành Chánh pháp đối với cha mẹ, hỡi vị vua dòng Sát-đế-lỵ. Nhờ thực hành Chánh pháp ở đời này, tâu đức vua, ngài sẽ được sanh về cõi trời.
40.
40.
40.
‘‘Dhammaṃ cara mahārāja, puttadāresu khattiya;
Idha dhammaṃ caritvāna, rāja saggaṃ gamissasi.
Practice the Dhamma, O great king, towards your children and wives, O khattiya. Having practiced the Dhamma in this world, O king, you will go to heaven.
Tâu Đại vương, hãy thực hành Chánh pháp đối với vợ con, hỡi vị vua dòng Sát-đế-lỵ. Nhờ thực hành Chánh pháp ở đời này, tâu đức vua, ngài sẽ được sanh về cõi trời.
41.
41.
41.
‘‘Dhammaṃ cara mahārāja, mittāmaccesu khattiya;
Idha dhammaṃ caritvāna, rāja saggaṃ gamissasi.
Practice the Dhamma, O great king, towards friends and ministers, O khattiya. Having practiced the Dhamma in this world, O king, you will go to heaven.
Tâu Đại vương, hãy thực hành Chánh pháp đối với bạn bè và quần thần, hỡi vị vua dòng Sát-đế-lỵ. Nhờ thực hành Chánh pháp ở đời này, tâu đức vua, ngài sẽ được sanh về cõi trời.
42.
42.
42.
‘‘Dhammaṃ cara mahārāja, vāhanesu balesu ca;
Idha dhammaṃ caritvāna, rāja saggaṃ gamissasi.
Practice the Dhamma, O great king, towards your vehicles and troops. Having practiced the Dhamma in this world, O king, you will go to heaven.
Tâu Đại vương, hãy thực hành Chánh pháp đối với các phương tiện và quân đội. Nhờ thực hành Chánh pháp ở đời này, tâu đức vua, ngài sẽ được sanh về cõi trời.
43.
43.
43.
‘‘Dhammaṃ cara mahārāja, gāmesu nigamesu ca…pe….
Practice the Dhamma, O great king, in villages and towns… and so on.
Tâu Đại vương, hãy thực hành Chánh pháp đối với dân làng và thị trấn... (v.v.)...
44.
44.
44.
‘‘Dhammaṃ cara mahārāja, raṭṭhesu † janapadesu ca…pe….
Practice the Dhamma, O great king, in kingdoms and provinces… and so on.
Tâu Đại vương, hãy thực hành Chánh pháp đối với dân trong nước và các vùng... (v.v.)...
45.
45.
45.
‘‘Dhammaṃ cara mahārāja, samaṇa † brāhmaṇesu ca…pe….
Practice the Dhamma, O great king, towards ascetics and brahmins… and so on.
Tâu Đại vương, hãy thực hành Chánh pháp đối với các vị Sa-môn và Bà-la-môn... (v.v.)...
46.
46.
46.
‘‘Dhammaṃ cara mahārāja, migapakkhīsu khattiya;
Idha dhammaṃ caritvāna, rāja saggaṃ gamissasi.
Practice the Dhamma, O great king, towards beasts and birds, O khattiya. Having practiced the Dhamma in this world, O king, you will go to heaven.
Tâu Đại vương, hãy thực hành Chánh pháp đối với các loài thú và chim, hỡi vị vua dòng Sát-đế-lỵ. Nhờ thực hành Chánh pháp ở đời này, tâu đức vua, ngài sẽ được sanh về cõi trời.
47.
47.
47.
‘‘Dhammaṃ cara mahārāja, dhammo ciṇṇo sukhāvaho †;
Idha dhammaṃ caritvāna, rāja saggaṃ gamissasi.
Practice the Dhamma, O great king, for the practiced Dhamma brings happiness. Having practiced the Dhamma in this world, O king, you will go to heaven.
Tâu Đại vương, hãy thực hành Chánh pháp; Chánh pháp được thực hành tốt đẹp sẽ mang lại hạnh phúc. Nhờ thực hành Chánh pháp ở đời này, tâu đức vua, ngài sẽ được sanh về cõi trời.
48.
48.
48.
‘‘Dhammaṃ cara mahārāja, saindā † devā sabrahmakā;
Suciṇṇena divaṃ pattā, mā dhammaṃ rāja pāmado †.
Practice the Dhamma, O great king. The devas with Indra, together with the Brahmās, attained the celestial realm through good practice. O king, be not heedless of the Dhamma.
Tâu Đại vương, hãy thực hành Chánh pháp. Các vị trời cùng với Đế Thích và Phạm thiên, nhờ thực hành tốt đẹp mà được sanh về cõi trời. Vì vậy, tâu đức vua, xin đừng xao lãng Chánh pháp.
49.
49.
49.
‘‘Tattheva te † vattapadā, esāva † anusāsanī;
Sappaññasevī kalyāṇī, samattaṃ sāma † taṃ vidū’’ti.
Therein are the principles of conduct for you; this is the instruction. Associating with the wise, being virtuous, may you yourself understand this completely.
Chính trong đó là những pháp hành của bậc đế vương, đây chính là lời giáo huấn. Hãy gần gũi người trí, hãy có những phẩm chất tốt đẹp, và hãy tự mình biết điều đó một cách trọn vẹn.
Tesakuṇajātakaṃ paṭhamaṃ.
The Tesakuṇa Jātaka, the first, is concluded.
Dứt chuyện tiền thân Tesakuṇa, là chuyện thứ nhất.