Bản dịch
JA 520 — Chuyện vị thần cây Tindu (Tiền thân Gandatindu)
10. Gandhatindukajātaka
3043. “Sự không xao lãng là đạo lộ Bất Tử (Niết Bàn), sự xao lãng là con đường đưa đến sự chết. Những người không xao lãng không chết, những người nào xao lãng giống như đã chết.
3044. Từ mê đắm, sanh ra xao lãng; từ xao lãng, sanh ra sự tiêu hoại; và từ sự tiêu hoại, sanh ra các tội lỗi. Tâu vị lãnh đạo tối cao, chớ có mê đắm.
3045. Bởi vì nhiều vị Sát-đế-lỵ có sự xao lãng, đã đánh mất sự tiến thân và đất nước; cũng vậy, những người chủ làng đánh mất các ngôi làng, những người chủ nhà trở thành không nhà.
3046. Tâu bậc làm hưng thịnh đất nước, tất cả của cải ở đất nước của vị Sát-đế-lỵ đã bị xao lãng đều bị tiêu tan; việc ấy gọi là sự bất hạnh của vị vua.
3047. Tâu đại vương, việc ấy không phải là đúng pháp. Bệ hạ chớ xao lãng quá nhiều thời gian. Lũ trộm cướp phá hoại đất nước giàu có, phồn thịnh ấy.
3048. Bệ hạ sẽ không có con trai kế nghiệp, không có vàng, không có tài sản. Khi đất nước đang bị cướp bóc, bệ hạ bị mất mát mọi thứ của cải.
3049. Khi vị vua hoặc luôn cả vị Sát-đế-lỵ đã bị tiêu tán mọi thứ của cải, các thân quyến, bạn bè, và các thân hữu không nghĩ về vị ấy với sự tôn trọng.
3050. Các viên quản tượng, các ngự lâm quân, các xa binh, và các bộ binh đang sống nương vào chính vị ấy, họ không nghĩ về vị ấy với sự tôn trọng.
3051. Vinh quang từ bỏ kẻ có trí tồi, ngu si, có công việc không được sắp xếp, có sự cố vấn bởi kẻ cố vấn tồi, tựa như con rắn từ bỏ lớp da già cỗi.
3052. Mọi thứ của cải tăng trưởng cho người có công việc khéo được sắp xếp, có sự thức dậy sớm, không biếng nhác, tựa như bầy bò có con bò mộng đầu đàn (sẽ phát triển đông đúc).
3053. Tâu đại vương, bệ hạ hãy du hành ở đất nước, ở xứ sở cho việc nghe ngóng. Sau khi nhìn thấy và lắng nghe tại nơi ấy, kế đó, mong rằng bệ hạ hãy thực hành điều ấy.”
3054. “Hôm nay, ta cảm thọ bị gai đâm như thế nào, thì vua Pañcāla hãy cảm thọ bị tên bắn ở chiến trường giống như vậy.”
3055. “Ông già cả, mắt yếu, không nhìn thấy cảnh vật rõ ràng, nên cây gai mới đâm vào ông; trong việc ấy, điều gì liên quan đến vua Brahmadatta?”
3056. “Thưa vị Bà-la-môn, ở đây, việc tôi bị gai đâm có nhiều liên quan đến vua Brahmadatta. Dân chúng là không được bảo vệ, bị hành hạ bởi thuế má phi pháp.
3057. Và ban đêm, bọn cướp tước đoạt, ban ngày, lũ thuế vụ tước đoạt. Ở đất nước của vị vua ác độc, có nhiều người không đạo đức.
3058. Tôn ông ơi, khi có sự sợ hãi như thế này, bị hành hạ vì sợ hãi, dân chúng tạo ra chỗ ẩn náu trong rừng, sau khi đã rải rắc gai nhọn (ở căn nhà của mình).”
3059. “Vậy cho đến khi nào ông vua Brahmadatta này sẽ chết? Ở trong đất nước của ông, các cô con gái tới tuổi già mà vẫn không chồng.”
3060. “Ôi lời nói tầm xàm của bà! Này bà lão kém cỏi, không thông suốt chữ nghĩa, ở đâu mà đức vua tìm kiếm chồng cho các cô con gái?”
3061. “Thưa vị Bà-la-môn, lão không có lời nói tầm xàm, lão là người có chữ nghĩa được thông suốt. Dân chúng là không được bảo vệ, bị hành hạ bởi thuế má phi pháp.
3062. Và ban đêm, bọn cướp tước đoạt, ban ngày, lũ thuế vụ tước đoạt. Ở đất nước của vị vua ác độc, có nhiều người không đạo đức. Khi cuộc sống khó nhọc, khó cấp dưỡng cho người vợ, thì chồng ở đâu cho cô con gái?”
3063. “Con bò khốn khổ Sāliya này bị đâm bởi lưỡi cày nằm xụi như thế nào, thì vua Pañcāla, bị đâm bởi cây thương ở chiến trường, hãy nằm đơ giống như vậy.”
3064. “Này ông lão kém cỏi, lão nổi giận với vua Brahmadatta một cách vô lý; sau khi gây ra lầm lỗi cho bản thân, lão lại nguyền rủa đức vua.”
3065. “Thưa vị Bà-la-môn, lão nổi giận với vua Brahmadatta một cách có lý lẽ. Dân chúng là không được bảo vệ, bị hành hạ bởi thuế má phi pháp.
3066. Và ban đêm, bọn cướp tước đoạt, ban ngày, lũ thuế vụ tước đoạt. Ở đất nước của vị vua ác độc, có nhiều người không đạo đức.
3067. Đúng vậy, người phụ nữ đã nấu lại lần nữa và đã mang lại bữa ăn trễ giờ. Trong khi ta trông ngóng nàng mang lại bữa ăn, con bò Sāliya đã bị thương tích bởi lưỡi cày.”
3068. “Hôm nay, ta đã bị bò đá và sữa của ta bị đổ tràn như thế nào, thì vua Pañcāla, bị gươm đâm ở chiến trường, hãy bị thương tích giống như vậy.”
3069. “Việc con thú làm đổ sữa và hãm hại người chăn thú, việc ông chê trách chúng tôi, trong việc ấy, điều gì liên quan đến vua Brahmadatta?”
3070. “Thưa vị Bà-la-môn, vua Pañcāla thuộc hoàng tộc Brahmadatta là đáng bị chê trách. Dân chúng là không được bảo vệ, bị hành hạ bởi thuế má phi pháp.
3071. Và ban đêm, bọn cướp tước đoạt, ban ngày, lũ thuế vụ tước đoạt. Ở đất nước của vị vua ác độc, có nhiều người không đạo đức.
3072. Trước đây, chúng tôi không vắt sữa con bò cái thô tháo, hoang dã. Giờ đây, bị quấy rối bởi những đòi hỏi về sữa, hôm nay chúng tôi vắt sữa nó.”
3073. “Con bò cái khốn khổ, mất bê con, chạy lung tung này như thế nào, thì vua Pañcāla, bị mất con, hãy than khóc, hãy héo khô giống như vậy.”
3074. “Việc con thú đi lang thang hoặc kêu ầm ĩ đối với người chăn thú, trong việc này, có tội lỗi gì liên quan đến vua Brahmadatta?”
3075. “Thưa vị Bà-la-môn, có tội lỗi liên quan đến vua Brahmadatta. Dân chúng là không được bảo vệ, bị hành hạ bởi thuế má phi pháp.
3076. Và ban đêm, bọn cướp tước đoạt, ban ngày, lũ thuế vụ tước đoạt. Ở đất nước của vị vua ác độc, có nhiều người không đạo đức. Vậy làm thế nào mà con bê còn bú sữa bị giết chết vì mục đích làm bao gươm?”
3077. “Hôm nay, là loài nhái sanh ra ở rừng, tôi bị ăn thịt bởi những con quạ sống ở trong làng như thế nào, thì vua Pañcāla, bị giết chết ở trận chiến cùng với con trai, hãy bị ăn thịt giống như vậy.”
3078. “Này nhái, các vị vua ở thế giới loài người không xếp đặt sự bảo vệ cho tất cả các loài sinh vật. Với bấy nhiêu đó, không thể gọi đức vua là người thực hành phi pháp trong việc các con quạ ăn thịt những con nhái các ngươi đang còn sống như thế ấy.”
3079. “Ông quả là người thực hành Phạm hạnh với hình thức phi pháp, ông nói lời xu nịnh đến vị Sát-đế-lỵ. Trong khi số đông chúng sanh đang bị cướp bóc, ông ca ngợi đức vua có lời tuyên bố tuyệt hảo.
3080. Thưa vị Bà-la-môn, nếu đất nước có sự cai trị tốt đẹp này là phồn thịnh, hòa bình, an lạc, các con quạ sau khi đã ăn đồ cúng tế và các phần thức ăn quý giá, các con quạ sẽ không ăn thịt những con nhái đang còn sống như tôi.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
520. Gandhatindukajātakaṃ (10)
520. 10. The Gandhatinduka Jātaka.
520. Chuyện Bổn sanh Gandhatinduka (thứ 10).
332.
332.
332.
Appamādo amataṃ padaṃ †, pamādo maccuno padaṃ;
Appamattā na mīyanti, ye pamattā yathā matā.
Heedfulness is the path to the Deathless; heedlessness is the path to death. The heedful do not die; the heedless are as if dead.
Không phóng dật là con đường bất tử, phóng dật là con đường của tử thần. Người không phóng dật thì không chết, những ai phóng dật thì như đã chết.
333.
333.
333.
Madā pamādo jāyetha, pamādā jāyate khayo;
Khayā padosā † jāyanti, mā pamādo † bharatūsabha †.
From intoxication, heedlessness may arise; from heedlessness, ruin arises. From ruin, corruptions arise. Therefore, O bull of the Bharatas, be not heedless.
Từ sự say sưa, phóng dật khởi sanh; từ phóng dật, sự tổn thất khởi sanh. Từ sự tổn thất, các điều ác khởi sanh; này đấng Ngưu vương của dòng Bharata, chớ nên phóng dật.
334.
334.
334.
Bahū hi khattiyā jīnā, atthaṃ raṭṭhaṃ pamādino;
Athopi gāmino gāmā, anagārā agārino.
Indeed, many heedless kings have ruined their welfare and their kingdom. Furthermore, village headmen, villagers, the homeless, and householders who are heedless also come to ruin.
Thật vậy, nhiều vị vua dòng Sát-đế-lỵ do phóng dật đã suy vong về lợi ích và vương quốc. Cũng vậy, các trưởng làng suy vong khỏi làng, và những người không nhà cùng người tại gia cũng suy vong.
335.
335.
335.
Khattiyassa pamattassa, raṭṭhasmiṃ raṭṭhavaḍḍhana;
Sabbe bhogā vinassanti, rañño taṃ vuccate aghaṃ.
O promoter of the kingdom, in the realm of a heedless king, all possessions are destroyed. That is called the king's misfortune.
Tâu ngài, người làm cho quốc độ hưng thịnh, trong vương quốc của một vị vua phóng dật, tất cả tài sản đều bị tiêu vong. Điều đó được gọi là nỗi bất hạnh của nhà vua.
336.
336.
336.
Nesa dhammo mahārāja, ativelaṃ pamajjasi;
Iddhaṃ phītaṃ janapadaṃ, corā viddhaṃsayanti naṃ.
This is not the proper way, O great king, that you are heedless beyond measure. Thieves plunder and destroy this prosperous and affluent country of yours.
Tâu Đại vương, đây không phải là chánh pháp, việc ngài phóng dật quá mức. Kẻ cướp đang tàn phá xứ sở thịnh vượng, giàu có ấy.
337.
337.
337.
Na te puttā bhavissanti, na hiraññaṃ na dhāniyaṃ †;
Raṭṭhe viluppamānamhi, sabbabhogehi jiyyasi.
You will have no sons, no gold, no grain. When the kingdom is being plundered, you will be deprived of all your possessions.
Ngài sẽ không có con cái, không vàng bạc, không ngũ cốc. Khi vương quốc bị cướp phá, ngài bị tổn thất tất cả tài sản.
338.
338.
338.
Sabbabhogā parijiṇṇaṃ, rājānaṃ vāpi khattiyaṃ †;
Ñātimittā suhajjā ca, na taṃ maññanti māniyaṃ †.
A king or noble who is bereft of all possessions—his relatives, friends, and companions do not consider him worthy of respect.
Một vị vua dòng Sát-đế-lỵ, dù là vua, khi đã bị suy tổn tất cả tài sản, thì bà con, bạn bè, và những người thân thiết cũng không còn xem trọng vị ấy nữa.
339.
339.
339.
Hatthārohā anīkaṭṭhā, rathikā pattikārakā;
Tamevamupajīvantā, na taṃ maññanti māniyaṃ.
Elephant-riders, front-line troops, charioteers, and foot-soldiers, though they live in dependence on him, do not consider him worthy of respect.
Những người quản tượng, những người cận vệ, những chiến sĩ xa binh, những người lính bộ binh, những người sống nương tựa vào chính vị vua ấy, cũng không còn xem trọng vị ấy nữa.
340.
340.
340.
Asaṃvihitakammantaṃ, bālaṃ dummantimantinaṃ;
Sirī jahati dummedhaṃ, jiṇṇaṃva urago tacaṃ.
Fortune abandons the foolish, ill-advised king of little wisdom, whose affairs are unorganized, just as a snake abandons its old skin.
Nữ thần may mắn từ bỏ vị vua có công việc không được sắp đặt chu đáo, ngu dốt, có mưu thần tồi tệ, và kém trí tuệ, cũng như con rắn lột bỏ lớp da cũ của nó.
341.
341.
341.
Susaṃvihitakammantaṃ, kāluṭṭhāyiṃ atanditaṃ;
Sabbe bhogābhivaḍḍhanti, gāvo sausabhāmiva.
For one whose affairs are well-organized, who strives at the proper time and is diligent, all possessions increase, just as cattle increase with a bull.
Tâu Đại vương, đối với vị vua biết sắp xếp công việc chu đáo, khởi sự đúng thời, không biếng nhác, thì tất cả tài sản đều tăng trưởng, cũng như đàn bò có con bò đầu đàn vậy.
342.
342.
342.
Upassutiṃ mahārāja, raṭṭhe janapade cara;
Tattha disvā ca sutvā ca, tato taṃ † paṭipajjasi.
O great king, travel in the kingdom and the country, listening secretly. Having seen and heard things there, you should then act accordingly.
Tâu Đại vương, hãy vi hành trong xứ, trong quận để lắng nghe. Ở đó, sau khi đã thấy và đã nghe, rồi ngài sẽ hành xử theo đó.
343.
343.
343.
Evaṃ vedetu pañcālo, saṅgāme saramappito †;
Yathāhamajja vedemi, kaṇṭakena samappito.
May the Pañcāla king, pierced by an arrow in battle, suffer pain in the same way that I, pierced by a thorn, suffer pain today.
Mong rằng vua Pañcāla, bị trúng tên trong trận chiến, cũng cảm thấy đau đớn, giống như ta hôm nay cảm thấy đau đớn vì bị gai đâm.
344.
344.
344.
Jiṇṇo dubbalacakkhūsi, na rūpaṃ sādhu passasi;
Kiṃ tattha brahmadattassa, yaṃ taṃ maggeyya † kaṇṭako †.
You are old and weak-eyed; you do not see forms well. What fault is it of Brahmadatta that a thorn should pierce you on the path?
Ông đã già, mắt lại yếu, không nhìn rõ hình sắc. Lỗi của vua Brahmadatta ở đâu, khi mà cái gai có thể đâm phải ông?
345.
345.
345.
Bahvettha brahmadattassa, sohaṃ † maggasmi † brāhmaṇa;
Arakkhitā jānapadā, adhammabalinā hatā.
O brahmin, in this matter, Brahmadatta has many faults. I am on the path; the country is unprotected, oppressed by unjust force.
Này Bà-la-môn, ở đây có nhiều lỗi của vua Brahmadatta. Ta đang ở trên đường. Dân chúng trong xứ không được bảo vệ, bị áp bức bởi thuế khóa bất công.
346.
346.
346.
Rattiñhi † corā khādanti, divā khādanti tuṇḍiyā;
Raṭṭhasmiṃ kūṭarājassa, bahu adhammiko jano.
Indeed, at night thieves plunder, and by day tax-collectors plunder. In the kingdom of a deceitful king, there are many lawless people.
Ban đêm thì trộm cướp hoành hành, ban ngày thì quan thu thuế hoành hành. Trong xứ của vị vua gian xảo, có nhiều người bất chính.
347.
347.
347.
Etādise bhaye jāte †, bhayaṭṭā tāta † māṇavā;
Nillenakāni kubbanti, vane āhatva kaṇṭakaṃ.
Dear young man, when such a fear arises, young men afflicted by fear make hiding places in the forest, having brought thorns.
Này chàng thanh niên thân mến, khi nỗi sợ hãi như vậy phát sinh, những người sợ hãi làm những nơi ẩn náu, mang gai từ trong rừng về.
348.
348.
348.
Kadāssu nāmayaṃ rājā, brahmadatto marissati;
Yassa raṭṭhamhi jiyyanti, appatikā kumārikā.
When, I wonder, will this King Brahmadatta die, in whose kingdom young maidens grow old without husbands?
Khi nào vị vua Brahmadatta này sẽ chết đi? Trong vương quốc của ông ta, các thiếu nữ phải già đi mà không có chồng.
349.
349.
349.
Dubbhāsitañhi te jammi, anatthapadakovide;
Kuhiṃ rājā kumārīnaṃ, bhattāraṃ pariyesati.
O wretch, skilled in words of non-benefit, you have spoken ill words! Where is a king to seek a husband for young maidens?
Này kẻ khốn khổ, không thông thạo lời lẽ ý nghĩa, ngươi đã nói lời ác. Vua đi tìm chồng cho các thiếu nữ ở đâu được?
350.
350.
350.
Na me dubbhāsitaṃ brahme, kovidatthapadā ahaṃ;
Arakkhitā jānapadā, adhammabalinā hatā.
I have not spoken ill words, O brahmin; I am skilled in words of benefit. The country is unprotected, oppressed by unjust force.
Này Bà-la-môn, tôi không nói lời ác, tôi là người thông thạo lời lẽ ý nghĩa. Dân chúng trong xứ không được bảo vệ, bị áp bức bởi thuế khóa bất công.
351.
351.
351.
Rattiñhi corā khādanti, divā khādanti tuṇḍiyā;
Raṭṭhasmiṃ kūṭarājassa, bahu adhammiko jano;
Dujjīve dubbhare dāre, kuto bhattā kumāriyo.
Indeed, at night thieves plunder, and by day tax-collectors plunder. In the kingdom of a deceitful king, there are many lawless people. In a land where it is hard to live and families are hard to support, from where will young maidens get husbands?
Ban đêm thì trộm cướp hoành hành, ban ngày thì quan thu thuế hoành hành. Trong xứ của vị vua gian xảo, có nhiều người bất chính. Khi cuộc sống khó khăn, vợ con khó nuôi, thì các thiếu nữ làm sao có được chồng?
352.
352.
352.
Evaṃ sayatu pañcālo, saṅgāme sattiyā hato;
Yathāyaṃ kapaṇo seti, hato phālena sāliyo.
May the Pañcāla king lie struck by a spear in battle, just as this wretched ox, Sāliya, lies, having been struck by the ploughshare.
Mong rằng vua Pañcāla, bị đâm bởi ngọn giáo trong trận chiến, cũng sẽ nằm xuống, giống như con bò Sāliya khốn khổ này đang nằm đây, bị lưỡi cày đâm phải.
353.
353.
353.
Adhammena tuvaṃ jamma, brahmadattassa kujjhasi;
Yo tvaṃ sapasi rājānaṃ, aparajjhitvāna attano †.
O wretch, you are unjustly angry with Brahmadatta, you who curse the king, though he has done you no wrong.
Này kẻ khốn khổ, ngươi nổi giận với vua Brahmadatta một cách bất công. Ngươi nguyền rủa nhà vua, dù ngài không làm gì sai trái với ngươi.
354.
354.
354.
Dhammena brahmadattassa, ahaṃ kujjhāmi brāhmaṇa;
Arakkhitā jānapadā, adhammabalinā hatā.
O Brahmin, I am justly angry with Brahmadatta. His country-districts are unprotected and oppressed by unjust taxes.
Này Bà-la-môn, tôi nổi giận với vua Brahmadatta một cách chính đáng. Dân chúng trong xứ không được bảo vệ, bị áp bức bởi thuế khóa bất công.
355.
355.
355.
Rattiñhi corā khādanti, divā khādanti tuṇḍiyā;
Raṭṭhasmiṃ kūṭarājassa, bahu adhammiko jano.
By night, thieves plunder; by day, tax collectors plunder. In the realm of a deceitful king, many people are unrighteous.
Ban đêm thì trộm cướp hoành hành, ban ngày thì quan thu thuế hoành hành. Trong xứ của vị vua gian xảo, có nhiều người bất chính.
356.
356.
356.
Sā nūna puna re pakkā, vikāle bhattamāhari;
Bhattahāriṃ apekkhanto, hato phālena sāliyo.
Surely that woman has returned again, bringing food at an improper time. While I was looking out for the food-bringer, my ox Sāliya was struck by the ploughshare.
Này ông, chắc hẳn cô ấy lại nấu nướng và mang cơm đến không đúng lúc. Trong lúc trông chờ người mang cơm, con bò Sāliya đã bị lưỡi cày đâm phải.
357.
357.
357.
Evaṃ haññatu pañcālo, saṅgāme asinā hato †;
Yathāhamajja pahato, khīrañca me pavaṭṭitaṃ.
Just as I was kicked today and my milk pot was overturned, so too may the Pañcāla king be struck by a sword on the battlefield and perish.
Mong rằng vua Pañcāla, bị gươm chém trong trận chiến, cũng sẽ bị giết, giống như hôm nay ta bị đá và sữa của ta bị đổ.
358.
358.
358.
Yaṃ pasu khīraṃ chaḍḍeti, pasupālaṃ vihiṃsati †;
Kiṃ tattha brahmadattassa, yaṃ no garahate † bhavaṃ.
That the cow spills the milk and kicks the cowherd—what fault is that of Brahmadatta, that you blame him?
Việc con bò làm đổ sữa, húc người chăn bò, thì có lỗi gì của vua Brahmadatta ở đó, mà ngài lại quở trách?
359.
359.
359.
Gārayho brahme pañcālo, brahmadattassa rājino;
Arakkhitā jānapadā, adhammabalinā hatā.
O Brahmin, the Pañcāla king, Brahmadatta, is blameworthy. His country-districts are unprotected and oppressed by unjust taxes.
Này Bà-la-môn, vua Pañcāla Brahmadatta đáng bị quở trách. Dân chúng trong xứ không được bảo vệ, bị áp bức bởi thuế khóa bất công.
360.
360.
360.
Rattiñhi corā khādanti, divā khādanti tuṇḍiyā;
Raṭṭhasmiṃ kūṭarājassa, bahu adhammiko jano.
By night, thieves plunder; by day, tax collectors plunder. In the realm of a deceitful king, many people are unrighteous.
Ban đêm thì trộm cướp hoành hành, ban ngày thì quan thu thuế hoành hành. Trong xứ của vị vua gian xảo, có nhiều người bất chính.
361.
361.
361.
Caṇḍā aṭanakā † gāvī, yaṃ pure na duhāmase;
Taṃ dāni ajja dohāma, khīrakāmehupaddutā.
This cow is fierce and prone to wandering, one which we did not milk before. Now, today, we must milk her, being oppressed by those who demand milk.
Con bò cái này hung dữ và hay đi lang thang, trước đây chúng tôi không vắt sữa nó. Nhưng bây giờ, hôm nay chúng tôi phải vắt sữa nó, vì bị những kẻ muốn sữa áp bức.
362.
362.
362.
Evaṃ kandatu pañcālo, viputto vippasukkhatu;
Yathāyaṃ kapaṇā gāvī, viputtā paridhāvati.
Just as this wretched cow, bereft of her calf, runs about, so too may the Pañcāla king, bereft of his son, wail and waste away.
Mong rằng vua Pañcāla cũng khóc than, mất con và khô héo đi, giống như con bò cái khốn khổ này, mất con rồi chạy quanh khắp nơi.
363.
363.
363.
Yaṃ pasu pasupālassa, sambhameyya † raveyya vā;
Ko nīdha aparādhatthi, brahmadattassa rājino.
If a cowherd's animal should run away or bellow, what fault in this is there of King Brahmadatta?
Việc con bò có thể chạy trốn khỏi người chăn bò, hoặc kêu la, thì ở đây có lỗi gì của vua Brahmadatta?
364.
364.
364.
Aparādho mahābrahme, brahmadattassa rājino;
Arakkhitā jānapadā, adhammabalinā hatā.
O great Brahmin, the fault of King Brahmadatta is great. His country-districts are unprotected and oppressed by unjust taxes.
Thưa Đại Bà-la-môn, có lỗi của vua Brahmadatta. Dân chúng trong xứ không được bảo vệ, bị áp bức bởi thuế khóa bất công.
365.
365.
365.
Rattiñhi corā khādanti, divā khādanti tuṇḍiyā;
Raṭṭhasmiṃ kūṭarājassa, bahu adhammiko jano;
Kathaṃ no asikosatthā, khīrapā haññate pajā.
By night, thieves plunder; by day, tax collectors plunder. In the realm of a deceitful king, many people are unrighteous. Why then is a milk-drinking calf being killed for the sake of a sword-sheath?
Ban đêm thì trộm cướp hoành hành, ban ngày thì quan thu thuế hoành hành. Trong xứ của vị vua gian xảo, có nhiều người bất chính. Tại sao con bê còn bú sữa lại bị giết để làm bao đựng gươm?
366.
366.
366.
Evaṃ khajjatu pañcālo, hato yuddhe saputtako;
Yathāhamajja khajjāmi, gāmikehi † araññajo.
Just as I, a forest-dweller, am now being eaten by village crows, so too may the Pañcāla king, slain in battle with his son, be eaten by crows and vultures.
Mong rằng vua Pañcāla cùng với con trai, sau khi bị giết trong trận chiến, cũng sẽ bị ăn thịt, giống như ta, sinh ra trong rừng, hôm nay bị những con quạ làng ăn thịt.
367.
367.
367.
Na sabbabhūtesu vidhenti † rakkhaṃ, rājāno maṇḍūka manussaloke;
Nettāvatā rājā adhammacārī, yaṃ tādisaṃ jīvamadeyyu dhaṅkā.
O frog, kings in the human world do not provide protection for all beings. That crows should eat a creature like you alive—a king is not unrighteous merely on account of that.
Này con ếch, các vị vua trong thế giới loài người không thể sắp đặt sự bảo vệ cho tất cả chúng sinh. Một vị vua không phải là bất chính chỉ vì những con quạ có thể ăn thịt một sinh vật như ngươi khi còn sống.
368.
368.
368.
Adhammarūpo vata brahmacārī, anuppiyaṃ bhāsasi khattiyassa;
Viluppamānāya puthuppajāya, pūjesi rājaṃ paramappamādaṃ †.
You seem unrighteous, O holy man, for you speak what is pleasing to the king. While the populace is being plundered, you praise that utterly heedless ruler.
Này người sống đời phạm hạnh, dường như ngài có bản chất bất chính, khi nói những lời dễ nghe về một vị Sát-đế-lỵ. Ngài ca tụng một vị vua hết sức cẩu thả, trong khi dân chúng đang bị cướp bóc.
369.
369.
369.
Sace imaṃ brahme surajjakaṃ siyā, phītaṃ raṭṭhaṃ muditaṃ † vippasannaṃ;
Bhutvā baliṃ aggapiṇḍañca kākā, na mādisaṃ jīvamadeyyu dhaṅkāti.
O Brahmin, if this were a well-ruled kingdom, a realm prosperous, joyful, and serene, then the crows, having eaten the offerings and the choicest morsels, would not eat a living creature like me.
Này Bà-la-môn, nếu đây là một vương quốc được cai trị tốt, một xứ sở thịnh vượng, hoan hỷ và thanh bình, thì những con quạ, sau khi đã ăn các vật cúng dường và những phần thức ăn ngon nhất, sẽ không ăn thịt một sinh vật như tôi khi còn sống.
Gandhatindukajātakaṃ dasamaṃ.
The Gandhatinduka Jātaka is the tenth.
Bổn sanh Gandhatinduka, câu chuyện thứ mười.
Tassuddānaṃ –
The summary verse for this is:
Kệ tóm tắt:
Kiṃchanda kumbha jayaddisa chaddanta, atha paṇḍitasambhava sirakapi;
Dakarakkhasa paṇḍaranāgavaro, atha sambula tindukadevasutoti.
Kiṃchanda, Kumbha, Jayaddisa, Chaddanta, then Paṇḍitasambhava, Sirakapi, Dakarakkhasa, Paṇḍaranāgavara, then Sambula, and Tindukadevasuta.
Kiṃchanda, Kumbha, Jayaddisa, Chaddanta, rồi Paṇḍitasambhava, Sirakapi; Dakarakkhasa, Paṇḍaranāgavaro, rồi Sambula, Tindukadevasuto.
Tiṃsanipātaṃ niṭṭhitaṃ.
The Section of Thirty is concluded.
Dứt Phẩm Ba Mươi.
The first part of the Jātaka Pāḷi is concluded.
Dứt phần đầu của Pāḷi Kinh Bổn Sanh.