Bản dịch
JA 519 — Chuyện Hoàng hậu Sambulà (Tiền thân Sambulà)
9. Sambulājātaka
3008. “Hỡi cô nàng có cặp đùi kín đáo, nàng là ai, một mình đứng ở hang núi, run rẩy? Hỡi cô nàng có vòng eo có thể được đo bằng bàn tay, được ta hỏi, nàng hãy nói cho ta biết tên và các thân quyến.
3009. Này mỹ nữ, nàng là ai, đang làm chói sáng khu rừng xinh đẹp, nơi được lai vãng bởi loài sư tử và loài cọp? Này cô nàng có vòng eo xinh xắn, nàng thuộc về ai? Này người nữ hiền thục, ta xin thi lễ với nàng. Ta là loài A-tu-la, xin kính lễ nàng.”
3010. “Người ấy là con trai của đức vua xứ Kāsi. Người ta biết chàng với tên Sotthisena. Thiếp là Sambulā, vợ của người ấy. Thưa vị A-tu-la, ngài hãy biết như thế. Thưa bậc tôn đức, thiếp xin thi lễ với ngài. Thiếp là Sambulā, xin kính lễ ngài.
3011. Thưa bậc tôn đức, người con trai xứ Vedeha bị bệnh, sống ở trong rừng. Một mình thiếp đã phục vụ chỉ mỗi chàng, trong lúc chàng đang bị hành hạ bởi căn bệnh.
3012. Và thiếp đã thu nhặt ở trong rừng miếng thịt ngon, là vật ăn còn thừa lại của thú rừng. Vật thiếp mang về ấy, thật vậy, sẽ là thức ăn đáp ứng nhu cầu của chàng ngày hôm nay.”
3013. “Nàng sẽ làm gì trong khu rừng với vị hoàng tử bị bệnh đang được chăm sóc? Này nàng Sambulā, hãy để ta trở thành người chồng của nàng.”
3014. “Do trạng thái sầu muộn, do bản thân bị khốn khổ, sắc đẹp gì được tìm thấy ở thiếp? Thưa bậc tôn đức, ngài hãy tìm kiếm người nữ khác xinh đẹp hơn thiếp.”
3015. “Nàng hãy đến, hãy bước lên ngọn núi này. Ta có bốn trăm người vợ. Nàng hãy là người nữ cao quý trong số các nàng ấy; nàng có sự thành tựu tất cả các dục.
3016. Thật vậy, này người nữ có ánh sáng như màu sắc của các vì sao, bất cứ vật gì mà nàng mong muốn ở trong tâm, mọi thứ ấy của ta đều dồi dào. Hôm nay, nàng hãy vui sướng cùng với ta.
3017. Này nàng Sambulā, nếu nàng không chịu làm hoàng hậu, ta nghĩ rằng nàng đương nhiên sẽ là thức ăn cho bữa ăn sáng.
3018. Và trong lúc nàng ấy không tìm thấy người bảo hộ ở khu rừng, gã ăn thịt người có bảy búi tóc, hung dữ, răng hô đã nắm lấy Sambulā ở cánh tay.
3019. Và bị bắt giữ bởi gã quỷ sứ hung dữ, quan tâm về vật chất, bị rơi vào sự khống chế của kẻ thù, nàng ấy lo âu chỉ mỗi người chồng.
3020. “Sự khổ sở như thế này của thiếp không phải là việc quỷ sứ có thể ăn thịt thiếp, mà là việc tướng công của thiếp sẽ có ý nghĩ theo cách khác.
3021. Chư Thiên không hiện hữu, chắc chắn các ngài sống ở nơi khác! Chắc chắn các bậc hộ trì thế gian không có ở nơi này! Chắc chắn không có các vị ngăn chặn những kẻ không tự kiềm chế đang hành động bằng bạo lực!”
3022. “Trong số những người phụ nữ, nàng ấy là cao quý, có danh tiếng, điềm đạm, bình lặng, có năng lực nổi trội tựa như ngọn lửa. Này quỷ sứ, nếu ngươi ăn thịt người thiếu nữ ấy, cái đầu của ngươi có thể vỡ tan thành bảy mảnh. Ngươi chớ có thiêu đốt nàng. Ngươi hãy trả tự do cho người vợ chung thủy ấy.”
3023. Được thoát khỏi kẻ ăn thịt người, nàng ấy đã đi về lại khu ẩn cư, tựa như con chim mẹ tha mồi về tổ, về chỗ trú ngụ vắng bóng các chim con.
3024. Tại nơi ấy, nàng công chúa danh tiếng Sambulā ấy, hai mắt khờ dại, trong khi không nhìn thấy người chồng ở trong rừng, đã than khóc rằng:
3025. “Thiếp xin đảnh lễ các vị Sa-môn, các vị Bà-la-môn, các vị ẩn sĩ đầy đủ đức hạnh. Trong khi không nhìn thấy tướng công, thiếp đi đến nương nhờ các ngài.
3026. Thiếp xin đảnh lễ các loài sư tử, các loài cọp, và các con thú khác ở trong rừng. Trong khi không nhìn thấy tướng công, thiếp đi đến nương nhờ các vị.
3027. (Thiếp xin đảnh lễ các vị thần ngự ở) các giống cỏ, các dây leo, các cây thuốc, các ngọn núi, và các khu rừng. Trong khi không nhìn thấy tướng công, thiếp đi đến nương nhờ các ngài.
3028. Thiếp xin đảnh lễ (vị thần) đêm tối có màu sắc tựa như bông hoa súng, có vòng hoa là các vì tinh tú. Trong khi không nhìn thấy tướng công, thiếp đi đến nương nhờ ngài.
3029. Thiếp xin đảnh lễ thần sông Bhāgīrathī, nơi tiếp nhận các dòng nước. Trong khi không nhìn thấy tướng công, thiếp đi đến nương nhờ ngài.
3030. Thiếp xin đảnh lễ thần núi đá Himavantu, ngọn núi chúa hạng nhất. Trong khi không nhìn thấy tướng công, thiếp đi đến nương nhờ ngài.”
3031. “Này nàng công chúa danh tiếng, thật sự nàng đã trở về quá tối. Vậy hôm nay, nàng đã đi đến với ai? Ai được nàng yêu thương hơn ta?”
3032. “Bị bắt giữ bởi kẻ thù ấy, quả thật khi ấy thiếp đã có nói điều này: ‘Sự khổ sở như thế này của thiếp không phải là việc quỷ sứ có thể ăn thịt thiếp, mà là việc tướng công của thiếp sẽ có ý nghĩ theo cách khác.’”
3033. “Đối với các nữ đạo tặc có nhiều trí thông minh, sự chân thật ở các nàng này là điều khó đạt được. Bản tánh của các người nữ là khó hiểu, tựa như đường đi của loài cá ở trong nước.”
3034. “Thiếp biết chắc là không có người đàn ông nào khác được thiếp yêu thương hơn chàng. Nếu lời nói như thế của thiếp là sự thật, xin hãy hộ trì cho thiếp, và sẽ hộ trì cho thiếp trong tương lai. Do lời nói chân thật này, mong rằng bệnh của chàng được lặng yên.”
3035. “Bảy trăm con voi xuất sắc, có vũ khí sẵn sàng, bảo vệ ngày đêm, và một ngàn sáu trăm cung thủ. Này thục nữ, bằng cách nào con nhìn thấy những kẻ thù?”
3036. “Chàng nhìn xem các nữ nhân đã được trang điểm, có làn da tuyệt mỹ màu hoa sen, có vòng eo thon, có giọng nói ngọt ngào như chim thiên nga, sau khi lắng nghe lời ca tiếng nhạc đã được chọn lọc của các nàng ấy, giờ đây, tâu phụ hoàng, chàng đối với con không còn như là trước đây.
3037. Các nàng ấy có thân hình xinh đẹp, mang thắt lưng bằng vàng, đã được trang điểm, sánh tựa tiên nữ, là những người yêu dấu của Sotthisena, có cơ thể không bị chê bai, thưa cha, các công nương dòng Sát-đế-lỵ quyến rủ chàng.
3038. Thưa cha, nếu con có thể cưu mang người chồng ấy bằng cách thu nhặt ở trong rừng lần nữa như là trước đây, mà chàng có thể tôn trọng con và không xem thường con, thưa cha, vì điều ấy, đối với con khu rừng ấy còn quý giá hơn cả nơi này.
3039. Người phụ nữ, khi được bố trí ở nơi dồi dào cơm ăn nước uống, có đồ trang sức bóng láng, đã được trang điểm, được đầy đủ mọi thứ, và không được chồng yêu thương, dầu không bị giam giữ, nhưng đối với người nữ ấy, cái chết là cao quý hơn so với việc kia.
3040. Thậm chí, nếu người phụ nữ nghèo khó, khốn khổ, không thóc lúa, có manh chiếu làm bạn, và nàng ấy được chồng yêu thương; so với người phụ nữ được đầy đủ mọi thứ mà không được yêu thương, chính người phụ nữ khốn khổ được yêu thương này là tốt hơn.”
3041. “Người phụ nữ có lợi ích đối với người nam là rất khó đạt được, và người chồng có lợi ích đối với người phụ nữ là khó đạt được. Người vợ của con là người nữ có lợi ích và có giới hạnh. Này vị chúa của loài người, hãy cư xử đúng pháp với Sambulā.”
3042. “Này ái hậu, nếu trong lúc của cải đã đạt được dồi dào, mà nàng bị áp lực bởi lòng ganh tị và tìm đến cái chết, thì trẫm và các công chúa này là thuộc về nàng, hết thảy tất cả chúng tôi hãy là người làm theo lời nói của nàng.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
519. Sambulājātakaṃ (9)
519. The Sambulā Jātaka (9)
519. Chuyện Bổn sanh Sambulā (9)
297.
297.
297.
Kā vedhamānā girikandarāyaṃ, ekā tuvaṃ tiṭṭhasi saṃhitūru †;
Puṭṭhāsi me pāṇipameyyamajjhe, akkhāhi me nāmañca bandhave ca.
Who are you, trembling in this mountain gorge, standing alone, O you with well-joined thighs? You with a waist that can be spanned by a hand, you are asked by me; tell me your name and your relatives.
Nàng là ai, hỡi người có cặp đùi thon đẹp, đang run rẩy đứng một mình trong hang núi? Hỡi người có vòng eo nhỏ trong một vòng tay, ta hỏi nàng đây, hãy cho ta biết tên và quyến thuộc của nàng.
298.
298.
298.
Obhāsayaṃ vanaṃ rammaṃ, sīhabyagghanisevitaṃ;
Kā vā tvamasi kalyāṇi, kassa vā tvaṃ sumajjhime;
Abhivādemi taṃ bhadde, dānavāhaṃ namatthu te.
Illuminating this delightful forest frequented by lions and tigers, who indeed are you, O beautiful one? And whose are you, O slender-waisted one? I, the Dānava, pay homage to you, O good lady. May there be homage to you.
Tỏa sáng khắp khu rừng khả ái, nơi ở của sư tử và cọp, nàng là ai, hỡi người diễm lệ? Nàng là con của ai, hỡi người có vòng eo thon thả? Ta là Dānava, xin đảnh lễ nàng, hỡi người hiền thục, xin kính chào nàng.
299.
299.
299.
Yo putto kāsirājassa, sotthisenoti taṃ vidū;
Tassāhaṃ sambulā bhariyā, evaṃ jānāhi dānava;
Abhivādemi taṃ bhante †, sambulāhaṃ namatthu te.
The son of the king of Kāsi, him they know as Sotthisena. I am his wife, Sambulā. Thus you should know, O Dānava. I, Sambulā, pay homage to you, venerable sir. May there be homage to you.
Vị hoàng tử của vua xứ Kāsi, người ta biết đến với tên gọi Sotthisena. Ta là Sambulā, vợ của vị ấy, hỡi Dānava, hãy biết như vậy. Con là Sambulā, xin đảnh lễ ngài, thưa tôn giả, xin kính chào ngài.
300.
300.
300.
Vedehaputto bhaddante, vane vasati āturo;
Tamahaṃ rogasammattaṃ, ekā ekaṃ upaṭṭhahaṃ †.
Venerable sir, the son of the Videha king dwells in the forest, afflicted. I, alone, attend to him who is alone and afflicted by disease.
Thưa tôn giả, hoàng tử xứ Videha đang bị bệnh và sống trong rừng. Một mình con chăm sóc cho một mình chàng, người đang bị bệnh tật hành hạ.
301.
301.
301.
Ahañca vanamuñchāya, madhumaṃsaṃ migābilaṃ †;
Yadā harāmi taṃ bhakkho, tassa nūnajja nādhati †.
And I, having gleaned in the forest for honey, meat, and the leftovers of wild beasts—whatever I bring, that is his food. Surely today he suffers for want of it.
Và con đi vào rừng tìm kiếm mật ong, thịt và phần còn lại của thú dữ. Khi con mang về, đó là thức ăn của chàng. Chắc chắn hôm nay chàng đang phải chịu đói khổ.
302.
302.
302.
Kiṃ vane rājaputtena, āturena karissasi;
Sambule pariciṇṇena, ahaṃ bhattā bhavāmi te.
What will you do in the forest with an afflicted and wasted prince? O Sambulā, I will be your husband.
Nàng sẽ làm gì trong rừng với vị hoàng tử bệnh hoạn, tiều tụy? Hỡi Sambulā, ta sẽ là chồng của nàng.
303.
303.
303.
Sokaṭṭāya durattāya, kiṃ rūpaṃ vijjate mama;
Aññaṃ pariyesa bhaddante, abhirūpataraṃ mayā.
For me, who am afflicted by sorrow and in a wretched state, what beauty could there be? Seek another, venerable sir, one more beautiful than I.
Sắc đẹp nào còn tồn tại nơi con, người đang bị sầu muộn và đau khổ hành hạ? Thưa tôn giả, xin hãy tìm một người khác xinh đẹp hơn con.
304.
304.
304.
Ehimaṃ girimāruyha, bhariyā me † catussatā;
Tāsaṃ tvaṃ pavarā hohi, sabbakāmasamiddhinī.
Come, ascend this mountain. I have four hundred wives. Among them, you shall be the most excellent, endowed with all that you desire.
Hãy đến đây, hãy leo lên ngọn núi này. Ta có bốn trăm người vợ; nàng hãy là người cao quý nhất trong số họ, được toại nguyện mọi mong muốn.
305.
305.
305.
Nūna † tārakavaṇṇābhe †, yaṃ kiñci manasicchasi;
Sabbaṃ taṃ pacuraṃ mayhaṃ, ramassvajja † mayā saha.
Indeed, O you with a complexion like a star's radiance, whatever you desire in your mind, all of that is abundant with me. Rejoice with me today.
Hỡi người có vẻ đẹp như ánh sao, bất cứ điều gì nàng mong muốn trong tâm, tất cả những thứ đó ta đều có rất nhiều. Hôm nay hãy vui hưởng cùng ta.
306.
306.
306.
No ce tuvaṃ maheseyyaṃ, sambule kārayissasi;
Alaṃ tvaṃ pātarāsāya, paṇhe † bhakkhā bhavissasi.
O wise Sambulā, if you will not accept the position of chief queen, then you will be sufficient for my breakfast; you will become my food.
Hỡi Sambulā, nếu nàng không chịu làm hoàng hậu của ta, thì nàng sẽ vừa đủ cho bữa sáng, nàng sẽ trở thành thức ăn của ta.
307.
307.
307.
Tañca sattajaṭo luddo, kaḷāro purisādako;
Vane nāthaṃ apassantiṃ, sambulaṃ aggahī bhuje.
That cruel, man-eating Dānava with seven matted locks and protruding tusks seized by the arm that very Sambulā, who could find no protector in the forest.
Kẻ ăn thịt người hung ác, có răng nanh, với bảy bím tóc, đã nắm lấy tay của nàng Sambulā, người không tìm thấy nơi nương tựa trong rừng.
308.
308.
308.
Adhipannā pisācena, luddenāmisacakkhunā;
Sā ca sattuvasampattā, patimevānusocati.
Overcome by the cruel ogre with a carnivorous eye, having fallen into the power of the enemy, she grieved only for her husband.
Bị áp chế bởi con quỷ hung ác có đôi mắt thèm khát thịt, và nàng, rơi vào tay kẻ thù, chỉ sầu muộn nghĩ đến chồng mình.
309.
309.
309.
Na me idaṃ tathā dukkhaṃ, yaṃ maṃ khādeyya rakkhaso;
Yañca me ayyaputtassa, mano hessati aññathā.
That this Rakkhasa might eat me is not so much a suffering for me; but that the mind of my noble lord might become otherwise—that, for me, is a far greater suffering.
Việc con quỷ ăn thịt con không phải là nỗi khổ của con, mà nỗi khổ lớn hơn là tâm của phu quân con sẽ nghĩ khác đi.
310.
310.
310.
Na santi devā pavasanti nūna, na hi nūna santi idha lokapālā;
Sahasā karontānamasaññatānaṃ, na hi nūna santi paṭisedhitāro.
Surely there are no gods, or surely they have gone elsewhere. Surely there are no world-protectors here. For those who are unrestrained and act with violence, surely there are no preventers.
Chắc chắn không có chư thiên, hoặc họ đã đi vắng; chắc chắn không có các vị hộ thế ở đây; chắc chắn không có ai ngăn cản những kẻ không tự chế, hành động bạo ngược.
311.
311.
311.
Itthīnamesā pavarā yasassinī, santā samā aggirivuggatejā;
Tañce tuvaṃ rakkhasādesi kaññaṃ, muddhā ca hi sattadhā te phaleyya;
Mā tvaṃ dahī † muñca patibbatāya †.
O Rakkhasa, this woman is the most excellent among women, renowned, with tranquil faculties and balanced conduct, possessing a sharp radiance like a fire. If you should eat this maiden, your head would surely split into seven pieces. Do not eat the woman devoted to her husband! Release her!
Nàng này là người cao quý nhất trong các phụ nữ, có danh tiếng, thanh tịnh, bình thản, và có uy lực rực rỡ như lửa. Hỡi quỷ dạ xoa, nếu ngươi ăn thịt thiếu nữ này, chắc chắn đầu của ngươi sẽ vỡ ra làm bảy mảnh. Ngươi chớ làm hại người phụ nữ trinh tiết, hãy thả nàng ra.
312.
312.
312.
Sā ca assamamāgacchi, pamuttā purisādakā;
Nīḷaṃ † paḷinaṃ sakuṇīva †, gatasiṅgaṃva ālayaṃ.
And she, freed from the man-eating ogre, came to the hermitage, like a mother bird to its empty nest, or as a mother cow, yearning for its calf, comes to the empty pen.
Và nàng, được giải thoát khỏi kẻ ăn thịt người, đã trở về am thất, giống như con chim mẹ trở về tổ trống vắng, như bò mẹ trở về chuồng không có con.
313.
313.
313.
Sā tattha paridevesi, rājaputtī yasassinī;
Sambulā utumattakkhā, vane nāthaṃ apassantī †.
There in that forest, the renowned Princess Sambulā, not seeing a protector and with her vision blurred by the heat of the season, lamented.
Tại nơi ấy, nàng công chúa Sambulā lừng danh, mắt bị mờ vì sức nóng, không nhìn thấy người bảo hộ trong rừng, đã than khóc.
314.
314.
314.
Samaṇe brāhmaṇe vande, sampannacaraṇe ise;
Rājaputtaṃ apassantī, tumhaṃmhi † saraṇaṃ gatā.
I pay homage to the ascetics and brahmins, to the sages perfected in conduct. Not seeing the prince, I have gone to you for refuge.
Con xin đảnh lễ các vị Sa-môn, Bà-la-môn, các vị ẩn sĩ có giới hạnh viên mãn. Vì không thấy được vương tử, con đã đến quy y nơi các ngài.
315.
315.
315.
Vande sīhe ca byagghe ca, ye ca aññe vane migā;
Rājaputtaṃ apassantī, tumhaṃmhi saraṇaṃ gatā.
I pay homage to the lions and tigers, and to whatever other beasts are in the forest. Not seeing the prince, I have gone to you for refuge.
Con xin đảnh lễ các loài sư tử và cọp, và những loài dã thú khác trong rừng. Vì không thấy được vương tử, con đã đến quy y nơi các ngài.
316.
316.
316.
Tiṇā † latāni osadhyo, pabbatāni vanāni ca;
Rājaputtaṃ apassantī, tumhaṃmhi saraṇaṃ gatā.
I pay homage to the deities of the grasses, the creepers, the medicinal herbs, the mountains, and the forests. Not seeing the prince, I have gone to you for refuge.
Con xin đảnh lễ các loài cỏ, dây leo, dược thảo, các ngọn núi và các khu rừng. Vì không thấy được vương tử, con đã đến quy y nơi các ngài.
317.
317.
317.
Vande indīvarīsāmaṃ, rattiṃ nakkhattamāliniṃ;
Rājaputtaṃ apassantī, tumhaṃmhi saraṇaṃ gatā.
I pay homage to the night, dark as a blue water lily and adorned with a garland of stars. Not seeing the prince, I have gone to you for refuge.
Con xin đảnh lễ đêm tối, có màu sẫm như hoa sen xanh, được trang hoàng với vòng hoa các vì sao. Vì không thấy được vương tử, con đã đến quy y nơi ngài.
318.
318.
318.
Vande bhāgīrathiṃ gaṅgaṃ, savantīnaṃ paṭiggahaṃ;
Rājaputtaṃ apassantī, tumhaṃmhi saraṇaṃ gatā.
I pay homage to the deity of the Bhāgīrathī Gaṅgā, the receiver of all flowing rivers. Not seeing the prince, I have gone to you for refuge.
Con xin đảnh lễ sông Gaṅgā, dòng Bhāgīrathī, nơi tiếp nhận của các dòng sông. Vì không thấy được vương tử, con đã đến quy y nơi ngài.
319.
319.
319.
Vande ahaṃ pabbatarājaseṭṭhaṃ, himavantaṃ siluccayaṃ;
Rājaputtaṃ apassantī, tumhaṃmhi saraṇaṃ gatā.
I pay homage to the deity of Himavanta, the noble king of mountains, a mass of rock. Not seeing the prince, I have gone to you for refuge.
Con xin đảnh lễ núi Himavanta, khối đá chất chồng, vị vua cao quý nhất của các ngọn núi. Vì không thấy được vương tử, con đã đến quy y nơi ngài.
320.
320.
320.
Atisāyaṃ vatāgacchi, rājaputti yasassini;
Kena nujja samāgacchi †, ko te piyataro mayā.
Indeed you have come very late, O renowned princess. With whom did you meet today? Who is dearer to you than I?
Này công chúa lừng danh, nàng quả thật đã về quá muộn. Hôm nay nàng đã gặp gỡ ai vậy? Ai là người thân thương với nàng hơn ta?
321.
321.
321.
Idaṃ khohaṃ tadāvocaṃ †, gahitā tena sattunā;
Na me idaṃ tathā dukkhaṃ, yaṃ maṃ khādeyya rakkhaso;
Yañca me ayyaputtassa, mano hessati aññathā.
O noble lord, at that time, having been seized by that enemy, I spoke these very words: 'That this Rakkhasa might eat me is not so much a suffering for me; but that the mind of my noble lord might become otherwise—that is a far greater suffering.'
Khi ấy, bị kẻ thù kia bắt giữ, con đã nói lời này: 'Đối với con, việc bị dạ-xoa ăn thịt không phải là khổ đau bằng việc tâm trí của hiền phu đối với con sẽ trở nên khác đi'.
322.
322.
322.
Corīnaṃ bahubuddhīnaṃ, yāsu saccaṃ sudullabhaṃ;
Thīnaṃ bhāvo durājāno, macchassevodake gataṃ.
Among deceitful women of many wiles, truth is very hard to find. The nature of women is hard to know, like the path of a fish in the water.
Đối với những người nữ gian xảo, nhiều mưu trí, nơi họ sự thật rất khó tìm thấy. Bản chất của người nữ khó biết được, cũng như đường đi của cá trong nước.
323.
323.
323.
Tathā maṃ saccaṃ pāletu, pālayissati ce mamaṃ;
Yathāhaṃ nābhijānāmi, aññaṃ piyataraṃ tayā;
Etena saccavajjena, byādhi te vūpasammatu.
Just as I know no other dearer than you, so may truth protect me, and it will indeed protect me. By this utterance of truth, may your sickness be allayed.
Như con không hề biết đến một ai khác thân thương hơn chàng, mong rằng sự thật ấy hãy bảo hộ con (bây giờ và cả trong tương lai). Nhờ lời nói chân thật này, mong rằng bệnh của chàng được tiêu trừ.
324.
324.
324.
Ye kuñjarā sattasatā uḷārā, rakkhanti rattindivamuyyutāvudhā;
Dhanuggahānañca satāni soḷasa, kathaṃvidhe passasi bhadde sattavo.
O good Sambulā, those seven hundred noble elephants, ridden by warriors with weapons drawn, and the sixteen hundred archers guard Bārāṇasī day and night. What kind of enemies do you see?
Này hiền thê, bảy trăm con voi hùng tráng cùng các chiến sĩ vũ trang sẵn sàng, và một ngàn sáu trăm cung thủ canh gác ngày đêm. Nàng nhìn thấy những kẻ thù loại nào?
325.
325.
325.
Alaṅkatāyo padumuttarattacā, virāgitā passati haṃsagaggarā;
Tāsaṃ suṇitvā mitagītavāditaṃ †, na dāni me tāta tathā yathā pure.
O great king, your son looks at the women who are adorned, whose complexions are like red lotus petals, who are especially lovely, and whose voices are as pleasant as a swan's. O father, having heard their gentle singing and music, he no longer behaves towards me now as he did before.
Tâu phụ hoàng, vương tử nhìn ngắm những người phụ nữ được trang điểm, có làn da như hoa sen ưu tú, đầy quyến rũ, giọng nói ngọt ngào như tiếng thiên nga. Sau khi nghe tiếng hát và tiếng nhạc điều độ của họ, bây giờ chàng không còn đối xử với con như trước nữa.
326.
326.
326.
Suvaṇṇasaṃkaccadharā suviggahā, alaṅkatā mānusiyaccharūpamā;
Senopiyā † tāta aninditaṅgiyo, khattiyakaññā paṭilobhayanti † naṃ.
O father, warrior maidens wearing golden sashes, well-proportioned, adorned, human women resembling celestial nymphs, dear to Sena, with limbs beyond reproach, entice him.
Tâu phụ hoàng, các công nương dòng Sát-đế-lỵ, những người mang thắt lưng vàng, thân hình cân đối, trang điểm lộng lẫy, là con người nhưng dung mạo như thiên nữ, được vương tử yêu mến, có thân thể không chê vào đâu được, đang quyến rũ chàng.
327.
327.
327.
Sace ahaṃ tāta tathā yathā pure, patiṃ tamuñchāya punā vane bhare;
Sammānaye maṃ na ca maṃ vimānaye, itopi me tāta tato varaṃ siyā.
O father, if, as before, I could again support that husband in the forest by foraging, and if he would honor me and not disrespect me, then, O father, that forest would be more excellent for me than even this place.
Tâu phụ hoàng, nếu chàng tôn trọng con, không khinh thường con, và đối xử như trước đây, con sẽ lại vào rừng nuôi dưỡng người chồng ấy bằng cách lượm lặt. Tâu phụ hoàng, đối với con, khu rừng ấy còn tốt hơn nơi này.
328.
328.
328.
Yamannapāne vipulasmi ohite, nārī vimaṭṭhābharaṇā alaṅkatā;
Sabbaṅgupetā † patino ca appiyā, abajjha † tassā maraṇaṃ tato varaṃ.
For a woman who lives adorned with polished ornaments in a house where abundant food and drink are prepared, and who is endowed with all graces, yet is unloved by her husband—for her, a violent death is better than that.
Người phụ nữ nào sống trong cảnh đồ ăn thức uống dồi dào, trang sức lộng lẫy, trang điểm kỹ càng, có đầy đủ mọi thứ, nhưng lại không được chồng yêu thương, đối với nàng, một cái chết thảm còn tốt hơn cuộc sống đó.
329.
329.
329.
Api ce daliddā kapaṇā anāḷhiyā, kaṭādutīyā patino ca sā piyā;
Sabbaṅgupetāyapi appiyāya, ayameva seyyā † kapaṇāpi yā piyā †.
And if a woman is poor, wretched, and destitute, having only a mat as her second possession, but she is dear to her husband—this very one, though wretched, is superior. The one who is unloved, even if endowed with all graces, is not.
Lại nữa, nếu người phụ nữ nào nghèo khó, khốn khổ, không nơi nương tựa, chỉ có tấm chiếu làm bạn, nhưng nàng lại được chồng yêu thương; thì chính người phụ nữ này, dù khốn khổ nhưng được yêu thương, là tốt hơn người có đầy đủ mọi thứ nhưng không được yêu thương.
330.
330.
330.
Sudullabhitthī purisassa yā hitā, bhattitthiyā dullabho yo hito ca;
Hitā ca te sīlavatī ca bhariyā, janinda dhammaṃ cara sambulāya.
A woman who is beneficial to a man is very hard to find; a husband who is beneficial to his wife is also hard to find. But your wife is both beneficial and virtuous. O lord of men, practice righteousness towards Sambulā.
Rất khó tìm được người phụ nữ mong cầu lợi ích cho chồng, và cũng khó tìm được người chồng mong cầu lợi ích cho vợ. Vợ của con vừa mong cầu lợi ích cho con lại vừa có giới hạnh. Này đức vua, hãy thực hành đúng pháp đối với Sambulā.
331.
331.
331.
Sace tuvaṃ vipule laddhabhoge, issāvatiṇṇā maraṇaṃ upesi;
Ahañca te bhadde imā rājakaññā †, sabbe † te vacanakarā bhavāmāti.
O gracious one, if you, having obtained abundant wealth, should approach death overcome by jealousy, know that I and these princesses—all of us—shall be obedient to your word.
Này hiền phụ, nếu nàng tìm đến cái chết vì bị lòng ganh tỵ xâm chiếm, dù đã nhận được tài sản to lớn, thì ta và các công nương này, tất cả chúng ta sẽ vâng theo lời nàng.
Sambulājātakaṃ navamaṃ.
The ninth, the Sambulā Jātaka, is concluded.
Chuyện Bổn sanh Sambulā, thứ chín.