Bản dịch
JA 518 — Chuyện long vương Pandara (Tiền thân Pandara)
8. Paṇḍaranāgarājajātaka
2969. “Kẻ có lời nói lung tung, không kín đáo, không cẩn mật, không xem xét toàn diện, nguy hiểm đi theo kẻ không tự mình thấu hiểu ấy, giống như linh điểu đeo đuổi rồng chúa Paṇḍaraka vậy.
2970. Người nào, trong lúc đùa giỡn, vì si mê mà bày tỏ chú thuật bí mật cần được giấu kín, nguy hiểm tức thời đi theo kẻ có chú thuật đã bị tiết lộ ấy, giống như linh điểu đeo đuổi rồng chúa Paṇḍaraka vậy.
2971. Người bạn sơ giao không xứng đáng để biết ý nghĩa quan trọng cần được giấu kín, và người bạn tốt không khôn ngoan, hoặc kẻ đối nghịch khôn ngoan (cũng vậy).
2972. Tôi đã đạt đến sự tin tưởng rằng: Gã lõa thể này đã được công nhận là vị Sa-môn, có bản thân đã được tu tập. Tôi đã giải thích cho gã ấy, trong khi bộc lộ ý nghĩa cần được giấu kín. Với sự việc đã được trải qua, tôi khóc than một cách thảm thiết.
2973. Này linh điểu cao cả, bởi vì trước đây tôi đã không thể tự kiềm chế mình về lời nói cần được giấu kín đối với gã ấy. Và chính từ phía gã ấy, nguy hiểm đã đến với tôi. Với sự việc đã được trải qua, tôi khóc than một cách thảm thiết.
2974. Thật vậy, người nào nghĩ là thân tình, rồi bày tỏ ý nghĩa cần được giấu kín cho kẻ có gia tộc thấp kém, bởi vì sân hận, bởi vì sợ hãi, hay là bị đắm say ái luyến, kẻ ngu ấy chắc chắn sẽ bị tiêu tùng.
2975. Lời nói thầm kín đã bị lan tỏa giữa những người xấu. Kẻ nào thốt lên lời nói ấy ở các cuộc hội họp, người ta đã nói kẻ ấy là: ‘Loài rắn độc, kẻ thối miệng,’ nên tránh xa kẻ như thế ấy, thật xa, thật xa!
2976. Hãy để cho chúng tôi ra đi sau khi đã bỏ xuống thức ăn, nước uống, vải Kāsi , gỗ trầm hương, các phụ nữ hợp ý, tràng hoa, vật thoa, và tất cả các dục. Này linh điểu, chúng tôi đi đến nương tựa mạng sống vào ngài.”
2977. “Này rồng chúa, ai trong số ba người ở đây xứng đáng sự chê trách, khi ở thế gian này có ba sinh mạng: vị Sa-môn, linh điểu, hay là chính ngài? Này Paṇḍaraka, vì lý do gì ngài đã bị bắt giữ?”
2978. “Đối với tôi, ‘Sa-môn,’ là vị có bản thân đã được công nhận, có bản thân đã được tu tập về tâm ý, và là đáng yêu quý đối với tôi. Tôi đã giải thích cho vị ấy, trong khi bộc lộ ý nghĩa cần được giấu kín. Với sự việc đã được trải qua, tôi khóc than một cách thảm thiết.”
2979. “Ở trên trái đất, không có chúng sanh nào không chết. Việc có được trí tuệ là không thể bị chê bai. Với sự chân thật, với công lý, với trí thông minh, với sự rèn luyện, con người thành tựu điều khó đạt được ở nơi này.
2980. Mẹ và cha là tốt nhất trong số các thân quyến, không thể có người thứ ba nào là người có lòng thương xót, trong khi hoài nghi sự hư hoại của chú thuật, cũng không nên bày tỏ điều tuyệt đối cần được giấu kín đến họ.
2981. Mẹ, cha, chị em gái, và anh em trai, các người cộng sự hay là những người cùng phe nhóm, trong khi hoài nghi sự hư hoại của chú thuật, cũng không nên bày tỏ điều tuyệt đối cần được giấu kín đến họ.
2982. Nếu người vợ trẻ trung nói chuyện với chồng,, có lời nói đáng yêu, có sanh con trai, có sắc đẹp, có danh tiếng, được tập thể thân quyến ưu ái, trong khi hoài nghi sự hư hoại của chú thuật, cũng không nên bày tỏ điều tuyệt đối cần được giấu kín đến nàng.
2983. Không nên bộc lộ ý nghĩa cần được giấu kín; nên bảo vệ nó như là của chôn giấu. Bởi vì, người có sự nhận thức làm rõ ràng ý nghĩa cần được giấu kín là không tốt đẹp.
2984. Vị sáng suốt không nên bày tỏ điều bí mật cho phụ nữ, cho kẻ đối nghịch, là hạng có thể bị mua chuộc bởi tài vật và hạng người giả vờ kết thân.
2985. Người nào cho biết ý nghĩa cần được giấu kín đến kẻ không khôn ngoan do nỗi sợ hãi về chú thuật hay về sự đổ vỡ quan hệ đối với kẻ ấy, thì phải chịu đựng thân phận làm nô lệ (cho kẻ biết được ấy).
2986. Càng có nhiều kẻ biết được ý nghĩa cần được giấu kín của một người (do) đã được thổ lộ, thì càng có nhiều kích động đối với người ấy; vì thế, không nên thố lộ điều bí mật.
2987. Vào ban ngày, nên tách ly rồi mới nói điều bí mật, vào ban đêm không nên thốt ra lời vượt quá thời gian (hạn định). Bởi vì những kẻ nghe lén lắng nghe điều thố lộ; vì thế, điều thố lộ mau chóng đi đến việc rò rỉ.
2988. Cũng giống như thành phố Bhaddasālā rộng lớn, làm bằng sắt, không có cửa ra vào, được trang bị với các hào nước được đào ở xung quanh, cũng tương tự như vậy, các chú thuật cần được giấu kín ấy của tôi là ở nơi này.
2989. Này (rắn chúa) loài có hai lưỡi, những người nào có chú thuật cần được giấu kín, không có lời nói lung tung, kiên quyết trong các mục đích của mình, các kẻ thù nghịch lánh ra những người ấy, tựa như các hạng chúng sanh lánh xa những con rắn độc.”
2990. “Sau khi từ bỏ gia đình, vị xuất gia, lõa thể, trần truồng, đầu cạo, đi lại đó đây vì nguyên nhân vật thực. Quả thật, tôi đã bộc lộ ý nghĩa cần được giấu kín cho vị ấy. Chúng tôi đã bị lìa khỏi mục đích và công lý.
2991. Này linh điểu chúa, vị Sa-môn là người có hành động thế nào, có giới cấm gì, đang thi hành phận sự gì? Trong khi thực hành hạnh xuất gia sau khi đã từ bỏ các vật thuộc sở hữu, vị Sa-môn làm thế nào đi đến vị thế cõi trời?”
2992. “Với sự hổ thẹn (tội lỗi), với sự chịu đựng, với sự thuần hóa, với sự nhẫn nại, không giận dữ, đã dứt bỏ việc nói đâm thọc, trong khi thực hành hạnh xuất gia sau khi đã từ bỏ các vật thuộc sở hữu, vị Sa-môn làm như vậy đi đến vị thế cõi trời.”
2993. “Ví như người mẹ, trong khi nhìn đứa con trai thơ dại được sanh ra từ cơ thể của mình, khiến toàn thân rung động, cũng tương tự như vậy, này chúa của loài chim, ngài hãy thể hiện với tôi giống như người mẹ đang thương xót đứa con trai.”
2994. “Nào, này (rắn chúa) loài có hai lưỡi, hôm nay hãy để ngài thoát khỏi sự giết hại. Bởi vì có ba loại con: học trò, con nuôi, và con ruột, không có loại (thứ tư) nào khác. Ngài hãy vui mừng! Một người con khác nữa đã có thêm cho tôi.”
2995. Sau khi nói lời nói y như thế, con linh điểu đã phóng thích (con rắn). Con chim đã đặt con rắn chúa xuống ở mặt đất (nói rằng): “Hôm nay, ngài đã được tự do, đã qua khỏi tất cả hiểm nguy. Ngài hãy ở trên đất liền và ở trong nước. Ngài được tôi bảo vệ.”
2996. “Giống như người thầy thuốc thiện xảo cho các bệnh nhân, tựa như hồ nước mát lạnh cho những người bị khát nước, giống như chỗ trú ngụ cho những người bị hành hạ bởi tuyết lạnh, cũng tương tự như vậy, tôi có sự nương tựa ở ngài.”
2997. “Này loài thai sanh, sau khi đã thực hiện sự liên kết với kẻ thù là loài noãn sanh, ngài nhe răng nanh và nằm sát xuống, vậy sự nguy hiểm của ngài từ đâu đến?”
2998. “Nên nghi ngại kẻ thù, cũng không nên tin tưởng người bạn, từ chỗ không nguy hiểm, sự nguy hiểm được sanh lên, thậm chí còn cắt đứt các gốc rễ (của sự sống).
2999. Làm thế nào có thể tin tưởng vào ngài, mà với ngài có sự cãi cọ đã được tạo ra? Người nào tồn tại với sự thường xuyên sẵn sàng, người ấy không bị quyến luyến với các kẻ thù (của mình).
3000. Nên làm cho kẻ khác tin tưởng mình, và không nên tin tưởng kẻ ấy. Không nên bị kẻ khác nghi ngờ và kẻ khác nên bị mình nghi ngờ. Người hiểu biết nên nỗ lực như thế ấy để kẻ khác không có thể biết được bản chất của mình.”
3001. Họ có vẻ đẹp Thiên thần, có dáng vóc thanh nhã. Cả hai tương đương nhau về sự ngay thẳng và các tích lũy về phước thiện. Họ kết hợp bản thể với nhau, tựa như hai con voi kéo cỗ xe ngựa. Họ đã đi đến gặp vị lõa thể Kādambiya.
3002. Thật vậy, sau đó, rồng chúa Paṇḍaraka đích thân đi đến gặp vị lõa thể và đã nói điều này: “Hôm nay, tôi đã được tự do, đã qua khỏi tất cả hiểm nguy. Chúng tôi, quả thật, đã không yêu thích gì tâm ý của ông.”
3003. “Bởi vì linh điểu chúa đã được ta yêu mến hơn so với rồng chúa Paṇḍaraka; điều ấy là sự thật, không có hoài nghi. Và bị đắm say ái luyến, ta đây đã làm hành động xấu xa ấy, trong khi biết rõ, không phải do si mê.”
3004. “Không có việc yêu mến tôi hay không yêu mến tôi đối với vị đang xem xét đời này và đời sau. Bởi vì, so với điểm đặc trưng của các vị đã khéo tự chế ngự, ông sống ở thế gian này, không tự chế ngự.
3005. Ông giả vờ là Thánh nhân, và không phải là Thánh nhân. Không tự chế ngự, ông làm như là đã được tự chế ngự. Ông là người có bẩm tánh đen tối, có bản chất không thánh thiện. Ông đã làm nhiều hành động ác độc, xấu xa.
3006. Này kẻ phản bội, ông là kẻ phản bội người không bị hư hỏng, và là kẻ nói đâm thọc. Do lời nói chân thật này, mong rằng cái đầu của ông hãy vỡ tan thành bảy mảnh.”
3007. Chính vì thế, không nên phản bội các bạn bè. Không có người nào là ác độc hơn so với kẻ phản bội bạn bè. Con người đã rưới rắc (nọc độc) bị rơi vào trong trái đất. Chính vì lời nói của rồng chúa, mà kẻ (mạo nhận) thu thúc bị chết.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
518. Paṇḍaranāgarājajātakaṃ (8)
518. The Paṇḍara Nāga King Jātaka (8)
518. Bổn sanh Long vương Paṇḍaraka (thứ 8).
258.
258.
258.
Vikiṇṇavācaṃ aniguyha † mantaṃ, asaññataṃ aparicakkhitāraṃ †;
Bhayaṃ tamanveti sayaṃ abodhaṃ, nāgaṃ yathā paṇḍarakaṃ supaṇṇo †.
Fear from his own doing follows that ignorant one—of scattered speech, unguarded counsel, unrestrained, and undiscerning—just as the Supaṇṇa pursues the nāga Paṇḍaraka.
Sự sợ hãi từ chính hành động của mình bám theo kẻ ngu si, kẻ có lời nói bừa bãi, có mưu sự không che giấu, không được thu thúc, không biết cách bảo vệ, cũng như chim Supaṇṇa đã bắt theo Long vương Paṇḍaraka.
259.
259.
259.
Yo guyhamantaṃ parirakkhaneyyaṃ, mohā naro saṃsati hāsamāno †;
Taṃ bhinnamantaṃ bhayamanveti khippaṃ, nāgaṃ yathā paṇḍarakaṃ supaṇṇo.
Whatever man, through delusion, joyfully reveals a secret counsel that should be guarded, fear swiftly follows him whose counsel is broken, just as the Supaṇṇa pursues the nāga Paṇḍaraka.
Người nào do si mê, vui vẻ nói ra mưu sự bí mật cần được bảo vệ, sự sợ hãi nhanh chóng bám theo người có mưu sự bị bại lộ ấy, cũng như chim Supaṇṇa đã bắt theo Long vương Paṇḍaraka.
260.
260.
260.
Nānumitto garuṃ atthaṃ, guyhaṃ veditumarahati;
Sumitto ca asambuddhaṃ, sambuddhaṃ vā anattha vā.
One who is a false friend is not worthy to know a weighty, secret matter. Nor should a true friend tell it to one who is unwise, or to one who is wise but acts for one's harm.
Kẻ không phải là bạn thì không đáng được biết việc quan trọng, bí mật. Cả bạn tốt mà không có trí tuệ, hoặc người có trí tuệ nhưng làm điều bất lợi (cũng không đáng được biết).
261.
261.
261.
Vissāsamāpajjimahaṃ acelaṃ †, samaṇo ayaṃ sammato bhāvitatto;
Tassāhamakkhiṃ vivariṃ † guyhamatthaṃ, atītamattho kapaṇaṃ † rudāmi.
Thinking, ‘This is a recluse, esteemed, one with a developed self,’ I placed my trust in the naked ascetic. To him I told and revealed the secret matter. Now, with my advantage lost, I weep wretchedly.
Ta đã tin tưởng vào vị lõa thể, (nghĩ rằng): 'Vị này là sa-môn, được kính trọng, đã tu tập tự thân'. Ta đã nói, đã tiết lộ cho vị ấy việc bí mật. Nay việc đã lỡ, ta khốn khổ khóc than.
262.
262.
262.
Tassāhaṃ paramaṃ † brahme guyhaṃ, vācañhi maṃ nāsakkhiṃ † saṃyametuṃ;
Tappakkhato hi bhayamāgataṃ mamaṃ, atītamattho kapaṇaṃ rudāmi.
O noble one, I was unable to restrain my speech regarding that supreme secret. Indeed, from him fear has come to me. Now, with my advantage lost, I weep wretchedly.
Hỡi đấng Phạm thiên, ta đã không thể tự chế ngự được mình (mà nói ra) lời nói tối mật với vị ấy. Vì từ phía vị ấy, sự sợ hãi đã đến với ta. Nay việc đã lỡ, ta khốn khổ khóc than.
263.
263.
263.
Yo ve naro suhadaṃ maññamāno, guyhamatthaṃ saṃsati dukkulīne;
Dosā bhayā athavā rāgarattā †, pallatthito † bālo asaṃsayaṃ so.
Indeed, whatever man, thinking someone a friend, reveals a secret matter to one of low birth—whether due to hatred, fear, or being inflamed by passion—that fool is undoubtedly overthrown.
Người nào tưởng (ai đó) là bạn tốt mà nói ra việc bí mật cho kẻ hạ tiện, do sân hận, do sợ hãi, hoặc do tham ái, kẻ ngu đó, không nghi ngờ gì, đã tự hủy hoại mình.
264.
264.
264.
Tirokkhavāco asataṃ paviṭṭho, yo saṅgatīsu mudīreti vākyaṃ;
Āsīviso dummukhotyāhu taṃ naraṃ, ārā ārā † saṃyame tādisamhā.
One with crooked speech who has entered among the wicked, who utters secret words in assemblies—they call that person a venomous snake, one with a foul mouth. From such a one, one should keep far, far away.
Người nào có lời nói không che đậy, đi vào giữa những kẻ xấu, nói ra lời (bí mật) giữa các hội chúng, họ gọi người đó là 'kẻ miệng hôi như rắn độc'. Hãy tránh xa, thật xa người như vậy.
265.
265.
265.
Annaṃ pānaṃ kāsika † candanañca, manāpitthiyo mālamucchādanañca;
Ohāya gacchāmase sabbakāme, supaṇṇa pāṇūpagatāva tyamhā.
Food, drink, sandalwood from Kāsī, pleasing women, and garlands and unguents—having abandoned all these sensual pleasures, we shall go. O Supaṇṇa, we have come to you for the refuge of our lives.
Đồ ăn, thức uống, gỗ chiên-đàn xứ Kāsi, những người phụ nữ khả ái, vòng hoa và vật thoa xức, chúng tôi từ bỏ tất cả các dục lạc này mà đi. Hỡi Supaṇṇa, chúng tôi xin quy phục ngài bằng cả mạng sống.
266.
266.
266.
Ko nīdha tiṇṇaṃ garahaṃ upeti, asmiṃdha loke pāṇabhū nāgarāja;
Samaṇo supaṇṇo atha vā tvameva, kiṃ kāraṇā paṇḍarakaggahīto.
O Nāga king, which one of us three beings incurs blame here in this world? Is it the recluse? Or the Supaṇṇa? Or is it you yourself? For what reason, O Paṇḍaraka, were you seized?
Hỡi Long vương, trong ba chúng sanh ở đây, ai phải chịu sự khiển trách trong thế gian này? Vị sa-môn, chim Supaṇṇa, hay là chính ngài? Hỡi Paṇḍaraka, vì lý do gì ngài bị bắt?
267.
267.
267.
Samaṇoti me sammatatto ahosi, piyo ca me manasā bhāvitatto;
Tassāhamakkhiṃ vivariṃ guyhamatthaṃ, atītamattho kapaṇaṃ rudāmi.
To me, he was an esteemed recluse; he was dear to me and, in my mind, one with a developed self. To him I told and revealed the secret matter. Now, with my advantage lost, I weep wretchedly.
Đối với tôi, vị ấy được xem là một sa-môn, là người thân yêu của tôi, và trong tâm tôi (nghĩ rằng) vị ấy đã tu tập tự thân. Ta đã nói, đã tiết lộ cho vị ấy việc bí mật. Nay việc đã lỡ, ta khốn khổ khóc than.
268.
268.
268.
Na catthi satto amaro pathabyā, paññāvidhā natthi na ninditabbā;
There is no being on earth who is immortal, and there is no kind of wisdom that is not blameworthy.
Không có chúng sanh nào bất tử trên mặt đất, không có loại trí tuệ nào mà không đáng bị khiển trách.
Saccena dhammena dhitiyā † damena, alabbhamabyāharatī naro idha.
Here, through truth, righteousness, fortitude, and self-control, a person does not speak of that which is unobtainable.
Ở đây, con người có thể đạt được điều khó đạt được, bằng sự thật, bằng chánh pháp, bằng sự kiên định, và bằng sự tự chế.
269.
269.
269.
Mātāpitā paramā bandhavānaṃ, nāssa tatiyo anukampakatthi;
Tesampi guyhaṃ paramaṃ na saṃse, mantassa bhedaṃ parisaṅkamāno.
Mother and father are the supreme relatives; for their child, there is no third who is so compassionate. Yet, fearing the breaking of counsel, one should not tell even them a supreme secret.
Cha và mẹ là bà con cao quý nhất, không có người thứ ba nào thương xót (như họ). (Người trí) do lo sợ mưu sự bị bại lộ, cũng không nên nói cho họ biết điều bí mật tối cao.
270.
270.
270.
Mātāpitā bhaginī bhātaro ca, sahāyā vā yassa honti sapakkhā;
Tesampi guyhaṃ paramaṃ na saṃse, mantassa bhedaṃ parisaṅkamāno.
Whosoever has a mother, father, sister, and brothers, or friends who are on one's own side—fearing the breaking of counsel, one should not tell even them a supreme secret.
Người nào có cha mẹ, chị em gái, anh em trai, hoặc bạn bè, hoặc người cùng phe phái, (người trí) do lo sợ mưu sự bị bại lộ, cũng không nên nói cho họ biết điều bí mật tối cao.
271.
271.
271.
Bhariyā ce purisaṃ vajjā, komārī piyabhāṇinī;
Puttarūpayasūpetā, ñātisaṅghapurakkhatā, tassāpi guyhaṃ paramaṃ na saṃse;
Mantassa bhedaṃ parisaṅkamāno.
Even if one's wife is faithful, a maiden-wife, pleasant-spoken, endowed with sons, beauty, and fame, and honored by her host of relatives—fearing the breaking of counsel, one should not tell even her a supreme secret.
Nếu người vợ tránh xa người đàn ông khác, được cưới từ thuở còn son trẻ, nói lời khả ái, có con cái, sắc đẹp, danh vọng, được quyến thuộc vây quanh, (người trí) do lo sợ mưu sự bị bại lộ, cũng không nên nói cho người vợ ấy biết điều bí mật tối cao.
272.
272.
272.
Na guyhamatthaṃ † vivareyya, rakkheyya naṃ yathā nidhiṃ;
Na hi pātukato sādhu, guyho attho pajānatā.
One should not reveal a secret matter; one should guard it like a treasure. Indeed, a secret matter made manifest is not good; this is understood by the discerning.
Không nên tiết lộ việc bí mật, nên giữ gìn nó như kho báu. Vì người trí không tán thán việc bí mật bị làm cho hiển lộ.
273.
273.
273.
Thiyā guyhaṃ na saṃseyya, amittassa ca paṇḍito;
Yo cāmisena saṃhīro, hadayattheno ca yo naro.
A wise person should not tell a secret to a woman or to an enemy, nor to one who can be enticed by material gain, nor to the man who is a thief of one's heart.
Người trí không nên nói điều bí mật cho phụ nữ, cho kẻ thù, cho người có thể bị mua chuộc bằng vật chất, và cho người có tâm không chân thật.
274.
274.
274.
Guyhamatthaṃ asambuddhaṃ, sambodhayati yo naro;
Mantabhedabhayā tassa, dāsabhūto titikkhati.
Whatever man makes known a secret matter that was not understood, fearing the breaking of counsel, he must endure the one who now knows it, having become like his slave.
Người nào làm cho kẻ khác biết việc bí mật chưa được biết, do sợ mưu sự bị bại lộ, người ấy phải chịu đựng kẻ kia như một tên nô lệ.
275.
275.
275.
Yāvanto purisassatthaṃ, guyhaṃ jānanti mantinaṃ;
Tāvanto tassa ubbegā, tasmā guyhaṃ na vissaje.
However many counselors know a person's secret matter, that is how many anxieties he has. Therefore, one should not divulge a secret.
Bao nhiêu người tham mưu biết được việc bí mật của một người, bấy nhiêu là sự lo lắng cho người ấy. Vì vậy, không nên tiết lộ điều bí mật.
276.
276.
276.
Vivicca bhāseyya divā rahassaṃ, rattiṃ giraṃ nātivelaṃ pamuñce;
Upassutikā hi suṇanti mantaṃ, tasmā manto khippamupeti bhedaṃ.
One should speak of a secret in seclusion by day; at night, one should not utter speech too loudly. For eavesdroppers hear the counsel; therefore, the counsel is quickly broken.
Ban ngày, nên nói chuyện bí mật ở nơi vắng vẻ. Ban đêm, không nên nói lớn tiếng quá mức. Vì những kẻ nghe lén có thể nghe được mưu sự, do đó, mưu sự nhanh chóng bị bại lộ.
277.
277.
277.
Yathāpi assa † nagaraṃ mahantaṃ, advārakaṃ † āyasaṃ bhaddasālaṃ;
Samantakhātāparikhāupetaṃ, evampi me te idha guyhamantā.
Just as there might be a great city, gateless, made of iron, with a strong rampart, and endowed with moats dug all around—even so, to me, are those here who keep their counsel secret.
Ví như có một thành phố lớn bằng sắt, không có cổng, có những sảnh đường tốt đẹp, được bao quanh bởi hào sâu đào khắp bốn phía, đối với tôi, những người giữ kín mưu sự ở đây cũng giống như vậy.
278.
278.
278.
Ye guyhamantā avikiṇṇavācā, daḷhā sadatthesu narā dujivha †;
Ārā amittā byavajanti tehi, āsīvisā vā riva sattusaṅghā †.
O two-tongued one, those men who keep their counsel secret, whose speech is not scattered, and who are firm in their own welfare—enemies keep far away from them, as a host of foes would from venomous snakes.
Hỡi loài lưỡi đôi, những người nào giữ kín mưu sự, có lời nói không bừa bãi, vững chắc trong lợi ích của mình, kẻ thù tránh xa họ, như đám đông kẻ thù (tránh xa) loài rắn độc.
279.
279.
279.
Hitvā gharaṃ pabbajito acelo, naggo muṇḍo carati ghāsahetu;
Tamhi † nu kho vivariṃ guyhamatthaṃ, atthā ca dhammā ca apaggatamhā †.
Having left home, he has gone forth; without clothes, naked, and shaven-headed, he wanders for the sake of food. To that very one I revealed the secret matter. We are now lost to both our welfare and the Dhamma.
(Vị ấy) từ bỏ gia đình, đã xuất gia, không mặc y phục, lõa thể, đầu trọc, đi lại vì mục đích tìm miếng ăn. Ta lại đi tiết lộ việc bí mật cho người như vậy! Chúng ta đã xa lìa cả lợi ích lẫn chánh pháp.
280.
280.
280.
Kathaṃkaro hoti supaṇṇarāja, kiṃsīlo kena vatena vattaṃ;
Samaṇo caraṃ hitvā mamāyitāni, kathaṃkaro saggamupeti ṭhānaṃ.
O king of Supaṇṇas, possessing what virtue and undertaking what practice, how does one who wanders, having abandoned possessiveness, act to become a recluse? Acting in what way does one reach the heavenly abode?
Hỡi vua Supaṇṇa, làm thế nào để trở thành một sa-môn, có giới hạnh gì, thực hành hạnh nguyện nào, sống và từ bỏ những gì thuộc về 'của ta'? Làm thế nào để đạt đến cảnh giới chư thiên?
281.
281.
281.
Hiriyā titikkhāya damenupeto †, akkodhano pesuṇiyaṃ pahāya;
Samaṇo caraṃ hitvā mamāyitāni, evaṃkaro saggamupeti ṭhānaṃ.
Endowed with moral shame, endurance, and self-control, free from anger, and having abandoned slanderous speech, one who wanders having forsaken possessiveness is a recluse. Acting thus, one reaches the heavenly abode.
Được trang bị với tàm quý, sự kham nhẫn, và sự tự chế, không sân hận, từ bỏ lời nói đâm thọc, sống và từ bỏ những gì thuộc về 'của ta', (như vậy là) một sa-môn. Người làm như vậy sẽ đạt đến cảnh giới chư thiên.
282.
282.
282.
Mātāva puttaṃ taruṇaṃ tanujjaṃ †, samphassatā † sabbagattaṃ phareti;
Evampi me tvaṃ pāturahu dijinda, mātāva puttaṃ anukampamāno.
Just as a mother, through touch, pervades the entire body of her young, tender son, so too, O king of birds, appear before me, showing compassion like a mother for her son.
Như người mẹ (ôm) đứa con trai non trẻ do mình sinh ra, sự xúc chạm làm tràn ngập khắp toàn thân, hỡi vua của loài chim, xin ngài cũng hãy hiện diện với tôi như vậy, xin hãy thương xót tôi như mẹ thương con.
283.
283.
283.
Handajja tvaṃ muñca † vadhā dujivha, tayo hi puttā na hi añño atthi;
Antevāsī dinnako atrajo ca, rajjassu † puttaññataro me ahosi.
Come now, O double-tongued one, be you released from death today! For there are only three kinds of sons, and no other exists: the pupil, the adopted one, and the one born of oneself. You have become one of my sons; rejoice!
Này, hỡi loài lưỡi đôi, hôm nay ngươi được thoát khỏi cái chết. Vì chỉ có ba loại con trai, không có loại nào khác: con trai học trò, con trai được cho, và con trai do mình sinh ra. Hãy vui mừng lên, ngươi đã trở thành một trong những người con của ta.
284.
284.
284.
Icceva vākyaṃ visajjī supaṇṇo, bhumyaṃ patiṭṭhāya dijo dujivhaṃ;
Muttajja tvaṃ sabbabhayātivatto, thalūdake hohi mayābhigutto.
Having spoken these words, the Supaṇṇa released the double-tongued one. The bird, having established him on the ground, said to the double-tongued one: 'Today you are freed, having overcome all fear. Be protected by me on land and in water.'
Nói xong những lời như vậy, chim Supaṇṇa, loài chim ấy, sau khi đặt loài lưỡi đôi đứng trên mặt đất, đã thả nó ra (và nói): 'Hôm nay ngươi được tự do, đã vượt qua mọi sợ hãi. Ngươi sẽ được ta bảo vệ trên cạn cũng như dưới nước.'
285.
285.
285.
Ātaṅkinaṃ yathā kusalo bhisakko, pipāsitānaṃ rahadova sīto;
Vesmaṃ yathā himasītaṭṭitānaṃ †, evampi te saraṇamahaṃ bhavāmi.
As a skilled physician is a refuge for the sick, as a cool lake is for the thirsty, and as a house is for those afflicted by frost and cold, even so shall I be a refuge for you.
Như vị lương y tài giỏi là nơi nương tựa cho người bệnh, như hồ nước mát cho người khát, như ngôi nhà cho người bị lạnh giá bởi sương tuyết, cũng như vậy, ta là nơi nương tựa của ngươi.
286.
286.
286.
Sandhiṃ katvā amittena, aṇḍajena jalābuja;
Vivariya dāṭhaṃ sesi, kuto taṃ bhayamāgataṃ.
O womb-born one, having made a pact with your enemy, the egg-born one, you sleep with fangs bared. From where has this fear come to you?
Hỡi loài thai sanh, sau khi đã hòa giải với kẻ thù là loài noãn sanh, ngươi lại nằm ngủ mà nhe nanh. Sự sợ hãi ấy đến với ngươi từ đâu?
287.
287.
287.
Saṅketheva amittasmiṃ, mittasmimpi na vissase;
Abhayā bhayamuppannaṃ, api mūlāni kantati.
One should not place trust in an enemy with whom a pact has been made, nor even in a friend. Fear that arises from a source of safety cuts even the roots.
Chớ nên tin tưởng vào kẻ thù đã hòa giải, cũng chớ nên tin tưởng vào bạn bè. Sự sợ hãi phát sanh từ nơi tưởng là an ổn, nó cắt đứt tận gốc rễ.
288.
288.
288.
Kathaṃ nu vissase tyamhi, yenāsi kalaho kato;
Niccayattena ṭhātabbaṃ, so disabbhi † na rajjati.
How can one trust someone with whom one has quarreled? One must remain constantly diligent. Such a person does not become intimate with enemies.
Làm sao có thể tin tưởng vào kẻ mà mình đã từng gây hấn? Phải luôn luôn nỗ lực cảnh giác, người như vậy không thân thiết với kẻ thù.
289.
289.
289.
Vissāsaye na ca taṃ † vissayeyya, asaṅkito saṅkito ca † bhaveyya;
Tathā tathā viññū parakkameyya, yathā yathā bhāvaṃ paro na jaññā.
One should inspire trust, but not trust in return. One should appear unsuspicious, yet remain suspicious. The wise person should strive in such a way that another cannot discern their true nature.
Có thể làm cho người khác tin mình, nhưng mình chớ nên tin người ấy. Dù không bị nghi ngờ, nhưng mình vẫn phải luôn nghi ngờ. Bậc trí nên nỗ lực theo nhiều cách, để người khác không biết được ý định của mình.
290.
290.
290.
Te devavaṇṇā † sukhumālarūpā, ubho samā sujayā † puññakhandhā †;
Upāgamuṃ karampiyaṃ † acelaṃ, missībhūtā assavāhāva nāgā.
They of divine complexion and delicate form, both equal, resplendent, like heaps of merit—those two noble ones approached the naked ascetic Karampiya, united like a pair of chariot steeds.
Cả hai vị cao quý ấy, có sắc diện như chư thiên, hình dáng tinh tế, trong sạch, như khối phước đức, và tương đồng nhau, đã thân thiết với nhau như đôi ngựa kéo xe, cùng đi đến chỗ đạo sĩ lõa thể Karampiya.
291.
291.
291.
Tato have paṇḍarako acelaṃ, sayamevupāgamma idaṃ avoca;
Muttajjahaṃ sabbabhayātivatto, na hi † nūna tuyhaṃ manaso piyamhā.
Then indeed Paṇḍaraka, approaching the naked ascetic by himself, said this: 'Today I am freed, having overcome all fear. Surely we are not dear to your mind.'
Khi ấy, rồng chúa Paṇḍaraka một mình đi đến chỗ đạo sĩ lõa thể và nói lời này: 'Hôm nay, ta đã được giải thoát, đã vượt qua mọi sợ hãi. Chắc chắn chúng ta không còn được ngươi yêu mến trong tâm nữa.'
292.
292.
292.
Piyo hi me āsi supaṇṇarājā, asaṃsayaṃ paṇḍarakena saccaṃ;
So rāgarattova akāsimetaṃ, pāpakammaṃ † sampajāno na mohā.
Truly, the Supaṇṇa king was dearer to me than Paṇḍaraka, without a doubt. Being inflamed with passion for him, I knowingly committed this evil deed, not out of delusion.
Thật vậy, vua kim sí điểu đối với ta đáng yêu hơn Paṇḍaraka, điều đó không nghi ngờ. Do tham ái, ta đã làm điều ác này một cách có ý thức, chứ không phải do si mê.
293.
293.
293.
Na me piyaṃ appiyaṃ vāpi hoti, sampassato lokamimaṃ parañca;
Susaññatānañhi viyañjanena, asaññato lokamimaṃ carāsi.
For me, who clearly sees this world and the next, there is nothing dear or undear. But you, though unrestrained, wander about deceiving this world with the outward appearance of one who is well-restrained.
Đối với ta, người thấy rõ đời này và đời sau, không có điều gì là đáng yêu hay không đáng yêu. Còn ngươi, một kẻ không tự chế, lại đi trong thế gian này với vẻ ngoài của người có tự chế.
294.
294.
294.
Ariyāvakāsosi anariyovāsi †, asaññato saññatasannikāso;
Kaṇhābhijātikosi anariyarūpo, pāpaṃ bahuṃ duccaritaṃ acāri.
Though ignoble, you put on the appearance of a noble one; though unrestrained, you resemble one who is restrained. You are of a dark nature, of an ignoble character; you have practiced much evil and misconduct.
Ngươi là kẻ không cao thượng nhưng lại có vẻ ngoài của bậc cao thượng, là kẻ không tự chế nhưng lại giống như người có tự chế. Ngươi có bản chất đen tối, có hình tướng không cao thượng, và đã làm nhiều điều ác, nhiều hành vi xấu xa.
295.
295.
295.
Aduṭṭhassa tuvaṃ dubbhi, dubbhī † ca pisuṇo casi;
Etena saccavajjena, muddhā te phalatu sattadhā.
You betrayed one who was without malice; you are a betrayer and a slanderer. By this utterance of truth, may your head split into seven pieces!
Ngươi đã hãm hại người không có ác ý, ngươi là kẻ phản bạn và vu khống. Bởi lời chân thật này, mong rằng đầu của ngươi vỡ ra làm bảy mảnh.
296.
296.
296.
Tasmā hi mittānaṃ na dubbhitabbaṃ, mittadubbhā † pāpiyo natthi añño;
Āsittasatto nihato pathabyā, indassa vākyena hi saṃvaro hatoti.
Therefore, one should not betray friends, for there is no one more evil than a betrayer of friends. Like a creature sprinkled with poison, he was struck down into the earth. Indeed, by the words of the lord of Nāgas, Saṃvara was slain.
Vì vậy, không nên hãm hại bạn bè; không có điều gì khác xấu xa hơn việc phản bạn. Kẻ có nọc độc đã bị chôn vùi trong lòng đất; thật vậy, Saṃvara đã bị giết bởi lời nói của vị chúa.
Paṇḍaranāgarājajātakaṃ † aṭṭhamaṃ.
The Jātaka of the Nāga King Paṇḍara, the Eighth.
Chuyện Bổn sanh Paṇḍaranāgarāja, thứ tám.