Bản dịch
JA 517 — Chuyện (Tiền thân Dakarakkhasa)
7. Dakarakkhasajātaka
2935. “Nếu trong lúc tìm kiếm vật hiến tế là con người, quỷ thần sẽ bắt giữ chiếc tàu gồm bảy người của bệ hạ đang lênh đênh ở biển cả, thì bệ hạ sẽ hiến dâng và trao cho thủy thần theo thứ tự như thế nào?”
2936. “Trẫm sẽ hiến dâng mẫu hậu trước tiên, rồi hiến dâng hoàng hậu, đến em trai, kế đó hiến dâng người cộng sự, và thứ năm sẽ hiến dâng vị Bà-la-môn, thứ sáu trẫm sẽ hiến dâng bản thân, và sẽ không bao giờ hiến dâng vị Mahosadha.”
2937. “Mẫu hậu là người nuôi dưỡng, là người sanh ra, và là người có lòng thương xót đến bệ hạ trong thời gian dài lâu. Khi bệ hạ bị Chambhī hãm hại, mẫu hậu là người sáng suốt, quan tâm đến lợi ích, đã tạo ra người khác giống như bệ hạ để thế chỗ, và đã giúp cho bệ hạ thoát khỏi cái chết.
2938. Người phụ nữ như thế ấy đã ban cho mạng sống, đã mang nặng bào thai, đã bồng ẵm bệ hạ, vì tội lỗi gì mà bệ hạ sẽ hiến dâng mẫu hậu cho thủy thần?”
2939. “Mẫu hậu đeo đồ trang điểm và vật trang sức như là còn con gái. Bà cười lớn tiếng và quá lố, nhạo báng các quân gác cổng và các lính ngự lâm.
2940. Kế đó, bà còn dạy bảo các sứ giả của mình đi gặp các vị vua đối nghịch. Vì tội lỗi ấy, trẫm sẽ hiến dâng mẫu hậu cho thủy thần.”
2941. “Hoàng hậu là người nữ cao quý trong toán nữ nhân, có giọng nói vô cùng đáng yêu, không làm bộ quý phái, có giới hạnh, không xa cách, tựa như cái bóng,–
2942. –không giận dữ, có trí tuệ, là người sáng suốt, quan tâm đến lợi ích, vì tội lỗi gì mà bệ hạ sẽ hiến dâng hoàng hậu cho thủy thần?”
2943. “Biết trẫm say đắm với các việc vui đùa cùng những sự thích thú và chịu sự tác động của các trò vô bổ, hoàng hậu cầu xin trẫm phần tài sản thuộc về các người con của trẫm, không thể cho được.
2944. Bị luyến ái, trẫm đây ban cho hoàng hậu nhiều tài sản cao thấp khác nhau. Sau khi từ bỏ vật rất khó từ bỏ, về sau trẫm sầu muộn, buồn bã. Vì tội lỗi ấy, trẫm sẽ hiến dâng hoàng hậu cho thủy thần.”
2945. “Nhờ vào người em trai mà dân chúng được tập hợp lại rồi được đưa về nhà, và nhiều tài sản sau khi chiến thắng được mang lại từ các vương quốc khác.
2946. Chàng dũng sĩ Tikhiṇamanti là tuyệt vời trong số các cung thủ, vì tội lỗi gì mà bệ hạ sẽ hiến dâng em trai cho thủy thần?”
2947. “‘Nhờ vào ta mà dân chúng được tập hợp lại rồi được đưa về nhà, và nhiều tài sản sau khi chiến thắng được mang lại từ các vương quốc khác.
2948. Ta là dũng sĩ Tikhiṇamanti là tuyệt vời trong số các cung thủ. Nhờ vào ta mà vị vua này được sung sướng,’ chàng trai trẻ tự hào như thế.
2949. Thưa nữ ẩn sĩ, thậm chí vị ấy không đi đến hầu cận trẫm giống như trước đây. Vì tội lỗi ấy, trẫm sẽ hiến dâng em trai cho thủy thần.”
2950. “Cả hai người, bệ hạ và Dhanusekhavā, đã được sanh ra cùng một đêm. Cả hai đã được sanh ra ở nơi này, đều là người xứ Pañcāla, là cộng sự, là đồng niên tốt.
2951. Vị ấy đã đi theo bệ hạ trong các cuộc du hành, có chung sự vui khổ với bệ hạ, siêng năng, gắn bó ngày đêm với bệ hạ trong mọi công việc; vì tội lỗi gì mà bệ hạ sẽ hiến dâng người cộng sự cho thủy thần?”
2952. “Thưa nữ ẩn sĩ, vị này đã cười lớn tiếng cùng với trẫm trong cuộc du hành, thậm chí hôm nay, cũng với cung cách đó cười lớn tiếng và quá lố.
2953. Thưa nữ ẩn sĩ, ngay cả khi trẫm bàn bạc với hoàng hậu ở nơi kín đáo, vị này, không được triệu mời, cũng đi vào không thông báo trước.
2954. Với dịp may đã đạt được, với cơ hội đã được tạo ra, vì tội lỗi ấy, trẫm sẽ hiến dâng người cộng sự vô liêm sỉ, bất kính cho thủy thần.”
2955. “Vị Bà-la-môn là thiện xảo về mọi điềm báo hiệu, biết giải thích về tiếng kêu (của các loài thú), có học thức được truyền thừa, chuyên chú về thiên văn, giải mộng, sự di chuyển đi và đến của các tinh tú,–
2956. –là người thông thạo về trái đất và không gian, rành rẽ về các chòm sao, vì tội lỗi gì mà bệ hạ sẽ hiến dâng vị Bà-la-môn cho thủy thần?”
2957. “Thưa nữ ẩn sĩ, thậm chí trong buổi họp, vị này mở mắt nhìn thẳng vào trẫm. Vì thế, hôm nay trẫm sẽ hiến dâng kẻ nhướng mày, dữ tợn cho thủy thần.”
2958. “Được phò tá bởi các cận thần, bệ hạ cư ngụ trên phần đất có đại dương là vòng rào, có biển cả là vành đai, ở quả địa cầu.
2959. Có đất nước rộng lớn gồm cả bốn phương, bệ hạ là người thắng trận, có sức mạnh vĩ đại, là vị vua độc nhất ở trên trái đất; danh tiếng của bệ hạ lan truyền rộng khắp.
2960. Mười sáu ngàn nữ nhân có các bông tai bằng ngọc trai và ngọc ma-ni, thuộc các xứ sở khác nhau, xinh đẹp tương tự như các nàng tiên nữ.
2961. Tâu vị Sát-đế-lỵ, người ta đã nói cuộc sống được đầy đủ mọi yếu tố, được thành tựu tất cả các dục của những người hạnh phúc là đáng yêu và lâu dài.
2962. Vậy thì vì lý do gì, hay là vì nguyên nhân gì, trong khi bảo vệ bậc nhân sĩ, bệ hạ lại từ bỏ mạng sống là vật khó từ bỏ?”
2963. “Thưa nữ ẩn sĩ, từ khi Mahosadha đi đến dưới trướng của trẫm, trẫm không hay biết việc làm sai trái nào, dầu là nhỏ nhoi, của bậc sáng trí.
2964. Và nếu vào một thời điểm nào đó, cái chết xảy ra cho trẫm trước, vị Mahosadha có thể giúp cho các con và các cháu của trẫm được hạnh phúc.
2965. Vị ấy nhìn thấy rõ tất cả mọi việc tương lai và hiện tại. Trẫm sẽ không bao giờ hiến dâng vị không có hành động lỗi lầm cho thủy thần.”
2966. “Này những người dân xứ Pañcāla, các người hãy lắng nghe lời nói này của đức vua Cūḷanīya. Trong khi bảo vệ bậc nhân sĩ, đức vua từ bỏ mạng sống là vật khó từ bỏ.
2967. Đức vua xứ Pañcāla từ bỏ mạng sống của sáu người là: người mẹ, người vợ, người em trai, người cộng sự, vị Bà-la-môn, và luôn cả bản thân.
2968. Như vậy, trí tuệ khôn khéo, sự suy nghĩ tốt đẹp, có ý nghĩa lớn lao cho sự lợi ích và tấn hóa ở đời này và hạnh phúc ở đời sau.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
517. Dakarakkhasajātakaṃ (7)
517. The Dakarakkhasa Jātaka (7)
517. Chuyện Bổn Sanh Dạ Xoa Nước (7)
224.
224.
224.
Sace vo vuyhamānānaṃ, sattannaṃ udakaṇṇave;
Manussabalimesāno, nāvaṃ gaṇheyya rakkhaso;
Anupubbaṃ kathaṃ datvā, muñcesi dakarakkhasā †.
Great King, if, while you seven are being swept away in the ocean, a rakkhasa seeking human tribute should seize your boat, by giving whom in succession would you be freed from the water-rakkhasa?
Nếu trong khi bảy người các vị đang trôi giạt trên biển, một con dạ xoa tìm vật tế là người, bắt lấy thuyền của các vị, thì các vị sẽ giao nộp theo thứ tự nào để được thoát khỏi con dạ xoa nước?
225.
225.
225.
Mātaraṃ paṭhamaṃ dajjaṃ, bhariyaṃ datvāna bhātaraṃ;
Tato sahāyaṃ datvāna, pañcamaṃ dajjaṃ † brāhmaṇaṃ;
Chaṭṭhāhaṃ dajjamattānaṃ, neva dajjaṃ mahosadhaṃ.
First, I would give my mother. Having given my wife, then my brother. After that, having given my friend, I would give the brahmin as the fifth. Sixth, I would give myself. But I would never give Mahosadha.
Trước hết, tôi sẽ giao mẹ, sau khi giao vợ rồi đến em trai. Kế đó, sau khi giao bạn, thứ năm tôi sẽ giao vị Bà la môn. Thứ sáu, tôi sẽ giao chính mình. Tôi sẽ không bao giờ giao Mahosadha.
226.
226.
226.
Posetā te janettī ca, dīgharattānukampikā;
Chabbhī tayi padussati †, paṇḍitā atthadassinī;
Aññaṃ upanisaṃ katvā, vadhā taṃ parimocayi.
Your mother is your nurturer and has long been compassionate. When the brahmin Chabbhi wished to harm you, she, being wise and discerning of what is beneficial, devised another stratagem and freed you from execution.
Mẹ của ngài, người đã sinh ra và nuôi dưỡng ngài, đã có lòng thương xót ngài trong một thời gian dài. Khi Chabbhī muốn hãm hại ngài, bà là người trí tuệ, thấy rõ nguyên nhân, đã dùng một phương kế khác để giải thoát ngài khỏi cái chết.
227.
227.
227.
Taṃ tādisiṃ † pāṇadadiṃ, orasaṃ gabbhadhāriniṃ †;
Mātaraṃ kena dosena, dajjāsi dakarakkhino †.
Such a mother, a life-giver, who raised you at her breast and carried you in her womb—for what fault would you give her to the water-rakkhasa?
Người mẹ như vậy, người đã cho ngài sự sống, người đã nuôi nấng ngài từ lòng mình, người đã mang ngài trong bụng, vì lỗi lầm gì mà ngài lại giao bà cho dạ xoa nước?
228.
228.
228.
Daharā viyalaṅkāraṃ, dhāreti apiḷandhanaṃ;
Dovārike anīkaṭṭhe, ativelaṃ pajagghati †.
Like a young woman, she wears fitting ornaments. Having summoned the doorkeepers and the guards, she laughs and jests excessively with them.
Bà ấy trang điểm như thiếu nữ, mang đồ trang sức; bà ấy cười đùa quá trớn với những người gác cổng và cận vệ.
229.
229.
229.
Athopi paṭirājūnaṃ, sayaṃ dūtāni sāsati;
Mātaraṃ tena dosena, dajjāhaṃ dakarakkhino.
Furthermore, she herself instructs the messengers of rival kings. For that fault, I would give my mother to the water-rakkhasa.
Hơn nữa, bà ấy tự mình chỉ dạy các sứ giả của vua thù địch; vì lỗi lầm đó, tôi sẽ trao mẹ tôi cho dạ xoa giữ nước.
230.
230.
230.
Itthigumbassa pavarā, accantaṃ piyabhāṇinī †;
Anuggatā † sīlavatī, chāyāva anapāyinī.
She is the foremost among women, speaks exceedingly affectionately, is virtuous, and follows you always like a never-departing shadow.
Nàng là người cao quý nhất trong các phụ nữ, nói lời vô cùng khả ái; nàng có giới hạnh, luôn theo hầu, như bóng không rời.
231.
231.
231.
Akkodhanā puññavatī †, paṇḍitā atthadassinī;
Ubbariṃ † kena dosena, dajjāsi dakarakkhino.
She is not given to anger, is meritorious, wise, and discerning of what is beneficial. For what fault would you give that queen to the water-rakkhasa?
Nàng không sân giận, có phước đức, có trí tuệ, thấy được lợi ích; vì lỗi lầm gì mà ngài lại trao vị hoàng hậu ấy cho dạ xoa giữ nước?
232.
232.
232.
Khiḍḍāratisamāpannaṃ, anatthavasamāgataṃ;
Sā maṃ sakāna puttānaṃ, ayācaṃ yācate dhanaṃ.
When I am given to sport and pleasure, having come under the sway of what is unbeneficial, she begs me for wealth for her own sons—wealth that should not be asked for.
Khi ta đang mải mê vui chơi giải trí, rơi vào tình trạng mất tự chủ, nàng ấy đòi hỏi ta tài sản không nên đòi hỏi cho con cái của nàng.
233.
233.
233.
Sohaṃ dadāmi sāratto †, bahuṃ uccāvacaṃ dhanaṃ;
Suduccajaṃ cajitvāna, pacchā socāmi dummano;
Ubbariṃ tena dosena, dajjāhaṃ dakarakkhino.
Being infatuated, I give much wealth of various kinds. Having given up what is very hard to give up, I later grieve, dejected. For that fault, I would give that queen to the water-rakkhasa.
Do say đắm, ta ban cho nhiều tài sản lớn nhỏ; sau khi từ bỏ thứ rất khó từ bỏ, sau đó ta buồn rầu sầu muộn; vì lỗi lầm đó, ta sẽ trao hoàng hậu ấy cho dạ xoa giữ nước.
234.
234.
234.
Yenocitā janapadā †, ānītā ca paṭiggahaṃ;
Ābhataṃ pararajjebhi, abhiṭṭhāya bahuṃ dhanaṃ.
By whom the provinces were made to prosper, and you were brought back home; by whom much wealth was brought from other kingdoms through conquest.
Nhờ người ấy mà các xứ được phát triển, và ngài được đưa về nhà; người ấy đã chinh phục các vương quốc khác và mang về nhiều tài sản.
235.
235.
235.
Dhanuggahānaṃ pavaraṃ, sūraṃ tikhiṇamantinaṃ;
Bhātaraṃ kena dosena, dajjāsi dakarakkhino.
Foremost among archers, a hero, of sharp counsel—for what fault would you give your brother to the water-rakkhasa?
Người em trai, bậc nhất trong các cung thủ, dũng cảm, có mưu trí sắc bén; vì lỗi lầm gì mà ngài lại trao cho dạ xoa giữ nước?
236.
236.
236.
Yenocitā † janapadā, ānītā ca paṭiggahaṃ;
Ābhataṃ pararajjebhi, abhiṭṭhāya bahuṃ dhanaṃ.
By whom the provinces were made prosperous, and I was brought back home; by whom much wealth was brought from other kingdoms through conquest.
Nhờ người ấy mà các xứ được phát triển, và ta được đưa về nhà; người ấy đã chinh phục các vương quốc khác và mang về nhiều tài sản.
237.
237.
237.
Dhanuggahānaṃ pavaro, sūro tikhiṇamanti ca †;
Mayāyaṃ † sukhito rājā, atimaññati dārako.
He is the foremost of archers, a hero of sharp intellect. But that boy despises me, thinking, ‘This king was made prosperous by me.’
Nó là cung thủ cừ khôi, dũng cảm và mưu trí sắc bén; đứa trẻ đó khinh thường ta, (nghĩ rằng): 'Nhờ ta mà vị vua này được an lạc'.
238.
238.
238.
Upaṭṭhānampi me ayye, na so eti yathā pure;
Bhātaraṃ tena dosena, dajjāhaṃ dakarakkhino.
Lady, he does not come to attend upon me as he did before. For that fault, I would give my brother to the water-rakkhasa.
Thưa bà, nó cũng không đến hầu hạ ta như trước đây; vì lỗi lầm đó, tôi sẽ trao em trai tôi cho dạ xoa giữ nước.
239.
239.
239.
Ekarattena ubhayo, tvañceva dhanusekha ca †;
Ubho jātettha pañcālā, sahāyā susamāvayā.
Both you and Dhanusekha were born on the same night. Both were born here in Pañcāla, companions of the very same age.
Cả hai, chính ngài và Dhanusekha, được sinh ra trong cùng một đêm; cả hai đều sinh ra ở đây, là người Pañcāla, là bạn bè, cùng tuổi tác.
240.
240.
240.
Cariyā taṃ anubandhittho †, ekadukkhasukho tava;
Ussukko te divārattiṃ, sabbakiccesu byāvaṭo;
Sahāyaṃ kena dosena, dajjāsi dakarakkhino.
He followed you on your travels, sharing your happiness and sorrow. Day and night, he was zealous and engaged in all your affairs. For what fault would you give such a friend to the water-rakkhasa?
Nó đã đi theo ngài trong chuyến du hành, cùng chia sẻ khổ vui với ngài; ngày đêm nhiệt tình, bận rộn trong mọi công việc của ngài; vì lỗi lầm gì mà ngài lại trao người bạn ấy cho dạ xoa giữ nước?
241.
241.
241.
Cariyā maṃ ayaṃ † ayye, pajagghittho † mayā saha;
Ajjāpi tena vaṇṇena, ativelaṃ pajagghati.
Lady, just as this man jested with me when we were on our travels together, even today he jests with me excessively in that same manner.
Thưa bà, người này đã đi theo ta trong chuyến du hành, đã cười đùa cùng với ta; ngay cả bây giờ, cũng với cách thức đó, nó cười đùa quá trớn.
242.
242.
242.
Ubbariyāpihaṃ ayye, mantayāmi rahogato;
Anāmanto † pavisati, pubbe appaṭivedito.
Lady, even when I am consulting with the queen in a secluded place, he enters uninvited and unannounced beforehand.
Thưa bà, ngay cả khi ta bàn bạc với hoàng hậu ở nơi kín đáo, nó đi vào mà không hỏi ý kiến, không thông báo trước.
243.
243.
243.
Laddhadvāro † katokāso, ahirikaṃ anādaraṃ;
Sahāyaṃ tena dosena, dajjāhaṃ dakarakkhino.
He enters as if he has been granted entry and given leave. For this fault—for being shameless and disrespectful—I would give that friend to the water-rakkhasa.
Được phép vào cửa, được tạo cơ hội, (nhưng nó là người) không biết hổ thẹn, không biết tôn trọng; vì lỗi lầm đó, ta sẽ trao người bạn ấy cho dạ xoa giữ nước.
244.
244.
244.
Kusalo sabbanimittānaṃ, rutaññū † āgatāgamo;
Uppāte supine yutto, niyyāne ca pavesane.
He is skilled in all omens, knows the meaning of sounds, and is learned in the traditions. He is devoted to portents and dreams, and knows the auspicious times for departures and arrivals.
Vị ấy tinh thông mọi điềm báo, hiểu biết tiếng muông thú, thông thạo kinh sách truyền thống; chuyên về các điềm lạ, giấc mộng, và (biết) lúc ra đi cùng lúc trở về.
245.
245.
245.
Paṭṭho † bhūmantalikkhasmiṃ, nakkhattapadakovido;
Brāhmaṇaṃ kena dosena, dajjāsi dakarakkhino.
He is competent in matters of the earth and sky and is an expert in the paths of the constellations. For what fault would you give the brahmin to the water-rakkhasa?
Vị ấy có khả năng hiểu biết về đất và trời, tinh thông về vị trí các tinh tú; vì lỗi lầm gì mà ngài lại trao vị Bà-la-môn ấy cho dạ xoa giữ nước?
246.
246.
246.
Parisāyampi me ayye, ummīlitvā udikkhati;
Tasmā accabhamuṃ luddaṃ, dajjāhaṃ dakarakkhino.
Lady, even in my assembly, he opens his eyes wide and stares at me. Therefore, I would give that fierce and transgressive brahmin to the water-rakkhasa.
Thưa bà, ngay cả giữa hội chúng, ông ta cũng mở mắt nhìn chằm chằm vào ta; vì thế, ta sẽ trao gã Bà-la-môn tàn bạo, kẻ hay cau mày đó, cho dạ xoa giữ nước.
247.
247.
247.
Sasamuddapariyāyaṃ, mahiṃ sāgarakuṇḍalaṃ;
Vasundharaṃ āvasasi, amaccaparivārito.
You dwell, surrounded by ministers, on this earth that holds wealth, which has the ocean as its boundary and the sea as its earring.
Ngài trị vì trái đất, nơi chứa đựng của cải, với đại dương làm ranh giới, với biển cả làm hoa tai, được các vị quan vây quanh.
248.
248.
248.
Cāturanto mahāraṭṭho, vijitāvī mahabbalo;
Pathabyā ekarājāsi, yaso te vipulaṃ gato.
You are a ruler of the four quarters, with a great kingdom, victorious and of great strength. You are the sole king of the earth; your fame has spread far and wide.
Ngài là người chinh phục bốn phương, có vương quốc rộng lớn, là người chiến thắng, có sức mạnh to lớn; ngài là vị vua duy nhất trên trái đất, danh tiếng của ngài đã vang xa.
249.
249.
249.
Soḷasitthisahassāni, āmuttamaṇikuṇḍalā;
Nānājanapadā nārī, devakaññūpamā subhā.
You have sixteen thousand women, wearing jeweled earrings, ladies from various provinces, beautiful and like divine maidens.
Mười sáu ngàn phụ nữ của ngài, đeo hoa tai bằng ngọc quý, là những người phụ nữ từ nhiều xứ khác nhau, xinh đẹp như thiên nữ.
250.
250.
250.
Evaṃ sabbaṅgasampannaṃ, sabbakāmasamiddhinaṃ;
Sukhitānaṃ piyaṃ dīghaṃ, jīvitaṃ āhu khattiya.
O Khattiya, the wise say that for those who are happy, thus endowed with all attributes and fulfilled in all desires, life is dear and long.
Thưa bậc Sát-đế-lỵ, họ nói rằng: đối với những người được an lạc, có đầy đủ mọi phương diện, thành tựu mọi dục lạc như vậy, thì cuộc sống lâu dài là điều đáng quý.
251.
251.
251.
Atha tvaṃ kena vaṇṇena, kena vā pana hetunā;
Paṇḍitaṃ anurakkhanto, pāṇaṃ cajasi duccajaṃ.
And yet, for what reason, for what cause, do you, while protecting the wise one, give up your life, which is so hard to give up?
Vậy thì vì lý do gì, vì nguyên nhân nào, mà ngài, trong khi bảo vệ bậc hiền trí, lại từ bỏ mạng sống khó từ bỏ của mình?
252.
252.
252.
Yatopi āgato ayye, mama hatthaṃ mahosadho;
Nābhijānāmi dhīrassa, anumattampi dukkaṭaṃ.
Lady, ever since Mahosadha came into my hands, I do not recall even an atom’s worth of wrongdoing on the part of that wise man.
Thưa bà, kể từ khi Mahosadha đến với ta, ta không hề biết đến dù chỉ một hành vi sai trái nhỏ nhặt nào của bậc hiền trí ấy.
253.
253.
253.
Sace ca kismici kāle, maraṇaṃ me pure siyā;
So me putte † paputte ca, sukhāpeyya mahosadho.
And if at some time my death should occur before his, Mahosadha would establish my sons and grandsons in happiness.
Và nếu vào một lúc nào đó, cái chết của ta xảy ra trước, thì Mahosadha sẽ làm cho con và cháu của ta được an lạc.
254.
254.
254.
Anāgataṃ paccuppannaṃ, sabbamatthampi passati †;
Anāparādhakammantaṃ, na dajjaṃ dakarakkhino.
He sees the benefit to come in the future and the benefit in the present, indeed all benefit. I will not give him, who is blameless in his actions, to the water-rakkhasa.
Người ấy thấy được tất cả mọi lợi ích trong tương lai và hiện tại; ta sẽ không trao người có hành động không lỗi lầm ấy cho dạ xoa giữ nước.
255.
255.
255.
Idaṃ suṇātha pañcālā, cūḷaneyyassa † bhāsitaṃ;
Paṇḍitaṃ anurakkhanto, pāṇaṃ cajati duccajaṃ.
O people of Pañcāla, listen to this, the utterance of Cūḷaneyya: Protecting the wise one, he gives up his own life, which is so hard to give up.
Hỡi những người Pañcāla, hãy nghe lời này của vua Cūḷani: trong khi bảo vệ bậc hiền trí, ngài từ bỏ mạng sống khó từ bỏ.
256.
256.
256.
Mātu bhariyāya bhātucca, sakhino brāhmaṇassa ca;
Attano cāpi pañcālo, channaṃ cajati jīvitaṃ.
The Pañcāla gives up the lives of six: of his mother, his wife, and his brother, of his friend and the brahmin, and also of himself.
Vị vua Pañcāla từ bỏ mạng sống của sáu người: của mẹ, của vợ, của em trai, của bạn, của Bà-la-môn, và cả của chính mình.
257.
257.
257.
Evaṃ mahatthikā † paññā, nipuṇā sādhucintinī;
Diṭṭhadhammahitatthāya, samparāyasukhāya cāti.
Thus, wisdom is of great benefit, subtle, and well-conceived; it is for welfare in this very life, and for happiness in the life to come.
Như vậy, trí tuệ mang lại lợi ích lớn lao, tinh tế, suy xét điều thiện lành, là vì lợi ích trong hiện tại và vì hạnh phúc trong tương lai.
Dakarakkhasajātakaṃ sattamaṃ.
The Dakarakkhasa Jātaka, the Seventh.
Bổn sanh Dakarakkhasa, (phẩm) thứ bảy.