Bản dịch
JA 516 — Chuyện khỉ chúa (Tiền thân Mahàkapi)
6. Mahākapijātaka
2890. Đức vua của xứ Kāsi ngụ ở thành Bārāṇasī là bậc làm hưng thịnh đất nước. Được tháp tùng bởi các thân hữu và các viên quan đại thần, đức vua đã đi đến vườn hoa Migājira.
2891. Tại nơi ấy, đức vua đã nhìn thấy một vị Bà-la-môn bị bệnh cùi, (làn da) có lốm đốm màu trắng, có vết thương bị lở loét tựa như bông hoa koviḷāra , (có thân thể) gầy ốm, nổi đầy gân.
2892. Sau khi nhìn thấy người đàn ông bị lâm cảnh khó khăn, đã đạt đến trạng thái bi thương tột độ, đức vua bị sửng sốt, đã nói rằng: “Ngươi là loại nào trong số các Dạ-xoa?
2893. Các tay chân của ngươi màu trắng, và đầu còn trắng hơn thế nữa. Thân thể của ngươi có làn da lốm đốm. Ngươi sống với nhiều bệnh ngoài da.
2894. (Xương sống) lưng của ngươi lồi lên lõm xuống giống như một chuỗi gồm các trục quay. Tay chân của ngươi tựa như các khúc dây leo màu đen. Trẫm chưa thấy người nào khác giống như thế này.
2895. Ngươi có bàn chân bị rách tươm, run rẩy, gầy ốm, nổi đầy gân, đói khát, có dáng vẻ cằn cỗi. Ngươi từ đâu đến? Ngươi đi về đâu?
2896. Ngươi có bộ dạng xấu xí, không được bình thường, xấu tướng, có hình dáng ghê rợn. Thậm chí mẹ của ngươi, là người sanh ra ngươi, cũng không muốn nhìn thấy ngươi.
2897. Ngươi đã tạo nghiệp gì trước đây? Có phải ngươi đã giết người vô tội, và sau khi gây ra tội ác ấy, ngươi đã đi đến sự khổ đau này?”
2898. “Chắc chắn rồi, vị thiện xảo nói như thế nào thì thần cũng sẽ nói với bệ hạ như thế ấy. Bởi vì, các bậc sáng suốt ở thế gian này khen ngợi người có lời nói chân thật.
2899. Trong khi một mình lang thang cho việc tìm kiếm các con trâu, thần bị lạc lối và đã đi vào quá sâu trong khu rừng, không người lai vãng, nơi hoang vu, vắng vẻ, được vô số con voi lai vãng.
2900. Thần đã bị lạc mất phương hướng ở trong khu rừng rậm, nơi các loài thú dữ thường lui tới. Thần đã lang thang ở nơi ấy bảy ngày, phải chịu đựng đói khát.
2901. Tại nơi ấy, bị đói vô cùng, thần đã nhìn thấy cây tinduka mọc chênh vênh, mang nặng những trái ngon ngọt đang treo lủng lẳng ở bên vực thẳm.
2902. Thần đã ăn những trái bị rụng xuống bởi gió, chúng đã làm cho thần hứng thú rất nhiều. Chưa được thỏa mãn, (thần đã nghĩ rằng): ‘Sau khi trèo lên cây, ta sẽ được ăn ở trên đó.’
2903. Thần đã ăn được một trái, và (với tay ra) mong được trái thứ hai. Do đó, cành cây ấy đã gãy lìa, tựa như bị chặt đứt bởi cái rìu.
2904. Thần đây cùng với các cành cây, chân phía trên đầu phía dưới, đã rơi xuống khe núi hiểm trở, không đứng lên được, không nơi bám víu.
2905. Và bởi vì độ sâu của nước nên thần đã không làm gì được. Thần đã nằm ở nơi ấy mười đêm, không chút vui thích, không gì nương tựa.
2906. Rồi có con khỉ đã đi đến nơi này, là loài khỉ có đuôi dài như đuôi bò, sống ở hang động. Nó di chuyển từ cành này sang các cành khác và ăn trái cây.
2907. Nhìn thấy thần gầy ốm, vàng vọt, con khỉ đã có lòng thương xót đến thần (nói rằng): ‘Này ông, ông đây là ai mà phải bị hành hạ một cách khổ sở như vầy? Ông là người hay là phi nhân? Ông hãy cho tôi biết về bản thân.’
2908. Sau khi cúi mình chắp tay với nó, thần đã nói lời nói này: ‘Ta là người, ta bị lâm cảnh khốn cùng. Lối đi ra khỏi nơi này không có cho ta. Ta nói điều ấy cho ngươi. Mong rằng điều tốt lành hãy có cho ngươi. Và ngươi hãy là nơi nương nhờ cho ta.’
2909. Trong khi di chuyển ở ngọn núi, con khỉ đã chọn lấy một tảng đã lớn. Sau khi thực hiện việc tính toán với tảng đá, con khỉ lực lưỡng đã nói điều này:
2910. ‘Ông hãy đến, hãy leo lên lưng tôi và hãy ôm cổ tôi bằng hai cánh tay, tôi sẽ mang ông lên khỏi khe núi hiểm trở một cách mau chóng.’
2911. Nghe được lời nói ấy của con khỉ chúa có sự vinh quang ấy, thần đã leo lên lưng của con khỉ sáng suốt và đã ôm cổ nó bằng hai cánh tay.
2912. Con khỉ có năng lực và có sức mạnh ấy, trong lúc bị mệt nhọc bởi sự khó khăn, đã nhanh chóng đưa thần lên khỏi khe núi hiểm trở.
2913. Sau khi mang thần lên, bị kiệt sức, con khỉ lực lưỡng đã nói điều này: ‘Nào, ông hãy bảo vệ tôi cẩn thận, tôi sẽ ngủ trong chốc lát.
2914. Các con sư tử, các con cọp, các con báo, và các con gấu, chó sói, và chó rừng, chúng có thể hãm hại tôi khi tôi đã ngủ say. Ông hãy trông chừng và ngăn chặn chúng.’
2915. Sau khi đã tạo sự hộ trì bởi thần như vậy, con khỉ ấy đã ngủ trong chốc lát. Khi ấy, thần đã có ý nghĩ xấu xa, không đúng đắn rằng:
2916. ‘Đây là thức ăn của loài người, giống như các con thú khác ở trong rừng. Bị đói lả, có lẽ ta nên giết chết và ăn thịt con khỉ này.
2917. Và khi đã ăn no, ta sẽ ra đi mang theo thịt làm thức ăn dự phòng. Ta sẽ đi ra khỏi khu rừng hoang. Sẽ có thực phẩm đi đường cho ta.’
2918. Sau đó, thần đã cầm lấy tảng đá và đã đánh vào đầu (con khỉ). Trong khi mệt nhọc vì (thiếu) thức ăn, cú đánh của thần đã là yếu ớt.
2919. Và con khỉ ấy đã mau chóng đứng lên, đầm đìa máu me. Với hai con mắt đẫm lệ, nó ngước nhìn thần, than khóc rằng:
2920. ‘Thưa tôn ông, ông chớ làm vậy với tôi. Ông đây đã làm cái việc như thế này! Và thật vậy, ông đây lại có thể ngăn chặn người khác về tuổi thọ!
2921. Ôi, thật vậy sao, hỡi gã đàn ông! Hỡi kẻ làm công việc khó làm đến chừng này! Ông đã được tôi mang lên từ vực thẳm hiểm trở, chênh vênh như thế ấy!
2922. Kẻ đã được đem về từ nơi được ví như thế giới bên kia đã tưởng rằng tôi là có thể phản bội. Việc ác ấy được suy nghĩ bởi kẻ ác có pháp ác ấy.
2923. Này kẻ sống theo phi pháp, mong rằng ngươi chớ có gánh chịu cảm thọ cay đắng, chớ có giống như kẻ gánh chịu ác nghiệp ấy, tương tự như trái ở cây tre đã hại chết cây tre ấy.
2924. Không còn sự tin tưởng của ta ở nơi ngươi nữa, này kẻ có ác pháp không được chế ngự. Ngươi hãy đến, hãy đi ở phía sau lưng của ta, sao cho ngươi còn được nhìn thấy ở khoảng cách không xa.
2925. Ngươi đã được thoát khỏi tầm tay của các dã thú, ngươi đã đạt đến dấu vết của loài người. Này kẻ sống theo phi pháp, đây là con đường, ngươi hãy đi theo lối đó một cách thoải mái.’
2926. Nói xong điều này, con khỉ đã rửa sạch cái đầu đẫm máu. Sau khi lau sạch những giọt nước mắt, nó đã từ nơi ấy leo lên ngọn núi.
2927. Thần đây bị con khỉ ghét bỏ, bị hành hạ bởi cơn sốt, với thân thể bị đốt nóng, thần đã đi đến gần (hồ nước) để uống nước.
2928. Hồ nước, giống như bị thiêu đốt bởi ngọn lửa, trở thành bị lấm lem bởi máu. Tất cả, đối với thần, đã trở nên như là mủ và máu.
2929. Có bao nhiêu giọt nước đã rơi xuống thân thể của thần, thì có bấy nhiêu mụt nhọt đã sanh lên, có kích thước bằng một nửa trái cây beḷuva .
2930. Bị vỡ ra, các mụt nhọt rỉ ra máu mủ từ thân thể hôi thối của thần. Thần đi đến con đường nào, ở các thôn làng và ở các thị thành–
2931. –bị tràn ngập bởi mùi hôi thối, những người đàn bà và đàn ông, tay cầm gậy gộc, ngăn chận thần lại (nói rằng): ‘Chớ đến gần phía chúng tôi.’
2932. Nỗi khổ đau như thế này của thần đến nay đã bảy năm. Thần chịu đựng nghiệp của mình, là việc đã làm sai trái của bản thân trước đây.
2933. Tôi nói điều ấy cho quý vị. Mong rằng điều tốt lành hãy có cho quý vị, hết thảy những người đã tụ hội ở đây. Các vị chớ có phản bội các bạn bè, bởi vì việc phản bội bạn bè là xấu xa.
2934. Người nào phản bội các bạn bè ở đời này sẽ trở thành kẻ bị cùi, bị ghẻ lở, d0 sự hoại rã của thân, kẻ phản bội bạn bè ấy sẽ tái sanh ở địa ngục.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
516. Mahākapijātakaṃ (6)
516. The Great Monkey Jātaka (6)
516. Chuyện Bổn Sanh Đại Hầu Vương (6)
178.
178.
178.
Bārāṇasyaṃ † ahū rājā, kāsīnaṃ raṭṭhavaḍḍhano;
Mittāmaccaparibyūḷho, agamāsi migājinaṃ †.
In Bārāṇasī there was a king, an increaser of the Kāsi realm. Surrounded by friends and ministers, he went to the Migājina park.
Tại thành Bārāṇasī, có một vị vua làm cho xứ Kāsī phồn thịnh. Được bạn bè và quần thần vây quanh, ngài đã đi đến vườn Migājina.
179.
179.
179.
Tattha brāhmaṇamaddakkhi, setaṃ citraṃ kilāsinaṃ;
Viddhastaṃ koviḷāraṃva, kisaṃ dhamanisanthataṃ.
There he saw a brahmin who was white, mottled, and afflicted with leprosy; with sores like a shattered coral tree flower, emaciated, and with veins standing out all over his body.
Tại đó, ngài thấy một người Bà-la-môn bị bệnh phong trắng, phong đốm, phong lở loét, thịt da chảy ra như hoa koviḷāra, thân hình gầy gò, nổi đầy gân xanh.
180.
180.
180.
Paramakāruññataṃ pattaṃ, disvā kicchagataṃ naraṃ;
Avaca byamhito rājā, ‘‘yakkhānaṃ katamo nusi.
Seeing the man who had reached a most pitiable state and had come to suffering, the king, alarmed, said: ‘Which of the yakkhas are you?’
Khi thấy người đàn ông đã rơi vào tình trạng khổ sở, đáng thương tột cùng, đức vua kinh sợ và nói: 'Ngươi là loài dạ-xoa nào vậy?'
181.
181.
181.
‘‘Hatthapādā ca te setā, tato setataraṃ † siro;
Gattaṃ kammāsavaṇṇaṃ te, kilāsabahulo casi.
‘Your hands and feet are white, and whiter still is your head. Your body is mottled in color, and you are covered with many leprous sores.
Tay chân của ngươi thì trắng, đầu còn trắng hơn nữa. Thân của ngươi có màu lốm đốm, và ngươi bị nhiều bệnh phong lở loét.
182.
182.
182.
‘‘Vaṭṭanāvaḷi † saṅkāsā, piṭṭhi te ninnatunnatā;
Kāḷapabbāva † te aṅgā, nāññaṃ passāmi edisaṃ.
‘Your spine is uneven with hollows and bumps, like a string of beads. Your limbs are like creepers with blackened joints. I see no other like you.
Lưng của ngươi lồi lõm, giống như một chuỗi hạt. Các chi phần của ngươi như những đốt cây màu đen, ta chưa từng thấy ai khác như thế này.
183.
183.
183.
‘‘Ugghaṭṭapādo tasito, kiso dhamanisanthato;
Chāto ātattarūposi †, kutosi kattha gacchasi.
‘With dust-covered feet, you are frightened, emaciated, and covered with veins. You are hungry and have a dried-up appearance. Where have you come from? Where are you going?’
Chân ngươi trầy xước, ngươi run rẩy, gầy gò, nổi đầy gân xanh. Ngươi đói khát, thân hình khô héo, ngươi từ đâu đến và đi đâu vậy?
184.
184.
184.
‘‘Duddasī appakārosi, dubbaṇṇo bhīmadassano;
Janetti yāpi te mātā, na taṃ iccheyya passituṃ.
‘You are unpleasant to see, of poor form, ill-colored, and frightful in appearance; even the mother who bore you would not wish to see you.
Ngươi khó nhìn, hình dạng xấu xí, sắc diện tồi tệ, trông đáng sợ. Ngay cả mẹ ruột của ngươi cũng không muốn nhìn thấy ngươi.
185.
185.
185.
‘‘Kiṃ kammamakaraṃ † pubbe, kaṃ avajjhaṃ aghātayi;
Kibbisaṃ yaṃ karitvāna, idaṃ dukkhaṃ upāgami’’.
‘What deed did you do in the past? Whom who should not be killed did you slay? Having done what evil deed have you come to this suffering?’
Trước đây ngươi đã làm nghiệp gì? Ngươi đã giết hại ai không đáng bị giết? Do đã làm điều ác độc nào mà ngươi đã gặp phải nỗi khổ này?
186.
186.
186.
Taggha te ahamakkhissaṃ, yathāpi kusalo tathā;
Saccavādiñhi lokasmiṃ, pasaṃsantīdha paṇḍitā.
‘Indeed, great king, I will tell you, just as a skilled person would speak. For in this world, the wise praise one who speaks the truth.
Tâu Đại vương, chắc chắn hạ thần sẽ nói cho ngài, như người thiện xảo nói vậy. Vì rằng ở trên đời, các bậc hiền trí tán thán những người nói lời chân thật.
187.
187.
187.
Eko caraṃ gogaveso, mūḷho accasariṃ vane;
Araññe irīṇe † vivane, nānākuñjarasevite.
‘Wandering alone in search of cattle, I became confused and went astray in the forest—a wilderness, barren and secluded, frequented by various elephants.
Tâu Đại vương, hạ thần một mình đi tìm bò, bị lạc đường và đã đi vào rừng sâu, trong chốn hoang dã, khô cằn, vắng vẻ, là nơi các loài voi thường lui tới.
188.
188.
188.
Vāḷamigānucarite, vippanaṭṭhosmi kānane;
Acariṃ tattha sattāhaṃ, khuppipāsa † samappito.
‘In that forest frequented by beasts of prey, I was lost. I wandered there for seven days, afflicted by hunger and thirst.
Trong khu rừng nơi các loài thú dữ qua lại, hạ thần đã bị lạc. Tại đó, hạ thần đã đi lang thang trong bảy ngày, bị đói khát hành hạ.
189.
189.
189.
Tattha tindukamaddakkhiṃ, visamaṭṭhaṃ bubhukkhito;
Papātamabhilambantaṃ, sampannaphaladhārinaṃ.
‘There, being hungry, I saw a tinduka tree standing on uneven ground, hanging over a precipice and bearing abundant, sweet fruit.
Bị đói cồn cào, tại đó hạ thần đã thấy một cây thị mọc ở nơi hiểm trở, chìa ra bên bờ vực thẳm, mang đầy trái chín.
190.
190.
190.
Vātassitāni bhakkhesiṃ, tāni rucciṃsu me bhusaṃ;
Atitto rukkhamārūhiṃ †, tattha hessāmi āsito.
‘I ate the fruits that had fallen in the wind, and they pleased me greatly. Unsatisfied, I climbed the tree, thinking, “There I will eat my fill.”
Hạ thần đã ăn những trái rụng vì gió, và những trái ấy làm hạ thần rất thích thú. Vẫn chưa no, hạ thần đã trèo lên cây với ý nghĩ sẽ ăn cho no ở trên đó.
191.
191.
191.
Ekaṃ me bhakkhitaṃ āsi, dutiyaṃ abhipatthitaṃ;
Tato sā bhañjatha sākhā, chinnā pharasunā viya.
‘One fruit had been eaten by me, and a second was longed for. Then that branch broke, as if cut by an axe.
Hạ thần đã ăn được một trái, và đang mong muốn trái thứ hai. Khi đó, cành cây ấy đã gãy, như thể bị chặt bằng rìu.
192.
192.
192.
Sohaṃ sahāva sākhāhi, uddhaṃpādo avaṃsiro;
Appatiṭṭhe anālambe, giriduggasmi pāpataṃ.
‘So I, together with the branches, fell with feet upwards and head downwards, with no footing and nothing to hold on to, into a mountain precipice.
Hạ thần ấy, cùng với các cành cây, chân chổng lên trời, đầu chúc xuống đất, đã rơi xuống nơi vách núi hiểm trở, không có chỗ đứng, không có chỗ bám víu.
193.
193.
193.
Yasmā ca vāri gambhīraṃ, tasmā na samapajjisaṃ †;
Tattha sesiṃ nirānando, anūnā † dasa rattiyo.
‘And because the water was deep, I did not reach level ground. There I lay joyless for no less than ten nights.
Và vì nước sâu, nên hạ thần không thể đến được chỗ bằng phẳng. Tại đó, hạ thần đã nằm lại trong tình trạng không có niềm vui, không dưới mười đêm.
194.
194.
194.
Athettha kapi māgañchi †, gonaṅgulo darīcaro;
Sākhāhi sākhaṃ vicaranto, khādamāno dumapphalaṃ.
‘Then a monkey came there, one who frequented the ravines, with a tail like an ox's. Moving from branch to branch, it came eating the fruit of the trees.
Sau đó, một con khỉ đã đến nơi này, nó có đuôi giống đuôi bò, sống trong hang núi, di chuyển từ cành này sang cành khác và ăn trái cây.
195.
195.
195.
So maṃ disvā kisaṃ paṇḍuṃ, kāruññamakaraṃ mayi;
Ambho ko nāma so ettha, evaṃ dukkhena aṭṭito.
‘Seeing me emaciated and pale, he felt compassion for me, asking: “Friend, who are you, thus afflicted with suffering here?
Con khỉ ấy khi thấy hạ thần gầy gò, xanh xao, đã khởi lòng thương xót và hỏi: 'Này ông, ông là ai mà ở đây bị đau khổ hành hạ như vậy?'
196.
196.
196.
Manusso amanusso vā, attānaṃ me pavedaya;
Tassañjaliṃ paṇāmetvā, idaṃ vacanamabraviṃ.
‘“Are you a human or a non-human? Reveal yourself to me.” To him, I paid homage with joined hands and spoke these words:
'Là người hay không phải người? Hãy cho tôi biết về ông.' Hạ thần chắp tay lại với con khỉ ấy và đã nói lời này.
197.
197.
197.
Manussohaṃ byasampatto †, sā me natthi ito gati;
Taṃ vo vadāmi bhaddaṃ vo, tvañca me saraṇaṃ bhava.
‘“I am a man who has met with disaster; from here I have no way to go. This I say to you—may you be well—be my refuge.”’
Tôi là người, đang gặp phải tai họa. Tôi không có lối thoát nào khác từ đây. Vì vậy, tôi nói với ngài, mong điều tốt lành đến với ngài, xin ngài hãy là nơi nương tựa cho tôi.
198.
198.
198.
Garuṃ † silaṃ gahetvāna, vicarī † pabbate kapi;
Silāya yoggaṃ katvāna, nisabho etadabravi.
The monkey wandered on the mountain, and taking up a heavy stone, tried to make use of it. Then the noble one spoke thus:
Con khỉ lấy một tảng đá nặng, đi lại trên núi. Sau khi đã thử sức với tảng đá, con khỉ đầu đàn ấy đã nói điều này.
199.
199.
199.
Ehi me piṭṭhimāruyha, gīvaṃ gaṇhāhi bāhubhi;
Ahaṃ taṃ uddharissāmi, giriduggata vegasā.
'Come, mount upon my back and grasp my neck with your arms. I will lift you out from this mountain precipice with speed.'
Này ông, hãy lại đây, leo lên lưng tôi, dùng hai tay ôm lấy cổ tôi. Tôi sẽ dùng sức mạnh đưa ông ra khỏi vách núi hiểm trở này.
200.
200.
200.
Tassa taṃ vacanaṃ sutvā, vānarindassa sirīmato;
Piṭṭhimāruyha dhīrassa, gīvaṃ bāhāhi aggahiṃ.
Hearing those words of the glorious and wise king of monkeys, I mounted his back and grasped his neck with my arms.
Nghe lời nói ấy của vua khỉ, vị vua khỉ đầy uy đức và trí tuệ, tôi đã leo lên lưng ngài, và dùng hai tay ôm lấy cổ.
201.
201.
201.
So maṃ tato samuṭṭhāsi, tejassī † balavā kapi;
Vihaññamāno kicchena, giriduggata vegasā.
That powerful, strong monkey lifted me from that mountain precipice with speed, though he was struggling with great difficulty.
Tâu đại vương, con khỉ ấy, đầy oai lực và sức mạnh, dù đang mệt mỏi và khó nhọc, đã nhanh chóng đưa tôi ra khỏi vực núi hiểm trở ấy.
202.
202.
202.
Uddharitvāna maṃ santo, nisabho etadabravi;
Iṅgha maṃ samma rakkhassu, passupissaṃ muhuttakaṃ.
Having lifted me out, the good and noble one spoke thus: 'Come now, friend, protect me; I will sleep for a moment.'
Sau khi cứu tôi, bậc hiền trí, bậc tối thắng ấy đã nói lời này: 'Này bạn, hãy trông chừng tôi, tôi sẽ chợp mắt một lát.'
203.
203.
203.
Sīhā byagghā ca dīpī ca, acchakokataracchayo;
Te maṃ pamattaṃ hiṃseyyuṃ, te tvaṃ disvā nivāraya †.
'There are lions, tigers, and leopards, bears, wolves, and hyenas. They might harm me if I am heedless. Seeing them, you must ward them off.'
Có sư tử, cọp, báo, gấu, chó sói, và linh cẩu. Chúng có thể hại tôi trong lúc tôi không để ý. Khi thấy chúng, ngươi hãy ngăn chúng lại.
204.
204.
204.
Evaṃ me parittātūna †, passupi so muhuttakaṃ;
Tadāhaṃ pāpikaṃ diṭṭhiṃ, paṭilacchiṃ ayoniso.
Thus, having appointed me as his protector, he slept for a moment. Then I, through unwise attention, conceived an evil view.
Sau khi giao phó việc bảo vệ cho tôi như vậy, vị ấy đã ngủ một lát. Bấy giờ, do suy nghĩ không như lý, tôi đã khởi lên tà kiến.
205.
205.
205.
Bhakkho ayaṃ manussānaṃ, yathā caññe vane migā;
Yaṃ nūnimaṃ vadhitvāna, chāto khādeyya vānaraṃ.
'This one is food for humans, just like other beasts in the forest. What if, being hungry, I were to kill this monkey and eat him?'
Con vật này là thức ăn của loài người, cũng như các loài thú khác trong rừng. Hay là ta đang đói, ta hãy giết con khỉ này mà ăn.
206.
206.
206.
Asito † ca gamissāmi, maṃsamādāya sambalaṃ;
Kantāraṃ nittharissāmi, pātheyyaṃ me bhavissati.
'Having eaten my fill, I will go, taking his flesh for provisions. I will cross the wilderness; it will be my journey's supply.'
Sau khi ăn no, ta sẽ đi, mang theo thịt làm lương thực. Ta sẽ vượt qua vùng hoang địa, đó sẽ là lương thực dọc đường của ta.
207.
207.
207.
Tato silaṃ gahetvāna, matthakaṃ sannitāḷayiṃ;
Mama gatta † kilantassa, pahāro dubbalo ahu.
Then, taking a stone, I struck his head. But because my body was weary, the blow was feeble.
Sau đó, tôi lấy một tảng đá, đập vào đầu nó. Vì thân tôi mệt mỏi, nên cú đập đã yếu ớt.
208.
208.
208.
So ca vegenudappatto, kapi ruhira † makkhito;
Assupuṇṇehi nettehi, rodanto maṃ udikkhati.
And that monkey, smeared with blood, quickly jumped up. With eyes full of tears, weeping, he looked at me.
Và con khỉ ấy, mình đầy máu me, đã nhanh chóng bật dậy. Với đôi mắt đẫm lệ, nó vừa khóc vừa nhìn tôi.
209.
209.
209.
Māyyomaṃ kari bhaddante, tvañca nāmedisaṃ kari;
Tvañca kho nāma dīghāvu †, aññe † vāretumarahasi.
'Noble sir, may you be well! Do not do this to me. And yet you have done such a thing! O long-lived one, you of all people ought to be warding off others from me.'
Thưa ngài, xin ngài đừng làm thế với tôi! Cầu cho ngài được an lành. Chính ngài lại làm một việc như vậy! Hỡi người sống lâu, chính ngài mới là người đáng lẽ phải ngăn cản những kẻ khác.
210.
210.
210.
Aho vata re purisa, tāva dukkarakāraka;
Edisā visamā duggā, papātā uddhato † mayā.
'Alas, O man, you doer of such a wicked deed! It was from such an uneven, difficult precipice that you were lifted out by me.'
Ôi, hỡi gã kia, kẻ làm điều khó làm thay! Ngươi đã được ta cứu thoát khỏi một vực thẳm hiểm trở, khó đi, và cheo leo như vậy.
211.
211.
211.
Ānīto paralokāva, dubbheyyaṃ maṃ amaññatha;
Taṃ tena pāpadhammena, pāpaṃ pāpena cintitaṃ.
'Though brought by me as if from another world, you thought to betray me. With such an evil nature, this evil was conceived by an evil person.'
Ngươi được ta đưa về như thể từ thế giới bên kia, vậy mà ngươi lại nghĩ đến việc hãm hại ta. Với tâm địa xấu xa, ngươi đã suy nghĩ điều ác độc.
212.
212.
212.
Mā heva tvaṃ adhammaṭṭha, vedanaṃ kaṭukaṃ phusi;
Mā heva pāpakammaṃ taṃ, phalaṃ veḷuṃva taṃ vadhi.
'O unrighteous one, may you not experience painful feeling! May that evil deed not destroy you, just as its fruit destroys the bamboo itself.'
Hỡi kẻ sống trong phi pháp, mong rằng ngươi sẽ không phải chịu cảm thọ đau đớn. Mong rằng ác nghiệp ấy sẽ không hủy diệt chính ngươi, như quả tre hủy diệt cây tre.
213.
213.
213.
Tayime natthi vissāso, pāpadhamma asaññata †;
Ehi me piṭṭhito gaccha, dissamānova santike.
'I have no trust in you, O evil-natured, unrestrained one! Come, walk behind me, remaining in my sight.'
Ta không còn tin tưởng nơi ngươi, hỡi kẻ có bản chất xấu xa, không tự chế! Hãy đến đây, đi sau lưng ta, ở gần và trong tầm mắt của ta.
214.
214.
214.
Muttosi hatthā vāḷānaṃ, pattosi mānusiṃ padaṃ;
Esa maggo adhammaṭṭha, tena gaccha yathāsukhaṃ.
'You are freed from the grasp of beasts; you have reached a human habitation. This is your path, O unrighteous one; go by it as you please.'
Ngươi đã thoát khỏi tay của các loài thú dữ, đã đến được nơi ở của loài người. Hỡi kẻ sống trong phi pháp, đây là con đường của ngươi, hãy đi theo lối đó tùy ý.
215.
215.
215.
Idaṃ vatvā giricaro, rahade † pakkhalya matthakaṃ;
Assūni sampamajjitvā, tato pabbatamāruhi.
Having said this, the mountain-dweller washed his head in a pool, wiped away his tears, and then ascended the mountain.
Nói lời này xong, con vật sống trên núi ấy đã rửa đầu trong hồ, lau nước mắt, rồi từ đó leo lên núi.
216.
216.
216.
Sohaṃ tenābhisattosmi, pariḷāhena aṭṭito;
Ḍayhamānena gattena, vāriṃ pātuṃ upāgamiṃ.
I was cursed by him, and afflicted with a burning torment. With my body ablaze, I approached to drink water.
Tôi đã bị nó nguyền rủa, bị dày vò bởi sự nóng bức, thân thể như bị thiêu đốt, tôi đã đến để uống nước.
217.
217.
217.
Agginā viya santatto, rahado ruhiramakkhito;
Pubbalohitasaṅkāso, sabbo me samapajjatha.
To me, the entire pool, as if scorched by fire, became like pus and blood.
Toàn bộ hồ nước, đối với tôi là kẻ mình đầy máu, đã trở nên giống như mủ và máu, nóng như bị lửa đốt.
218.
218.
218.
Yāvanto udabindūni, kāyasmiṃ nipatiṃsu me;
Tāvanto gaṇḍa † jāyetha, addhabeluvasādisā.
As many drops of water fell upon my body, so many boils arose, the size of half a beluva fruit.
Bao nhiêu giọt nước rơi trên thân tôi, bấy nhiêu mụn nhọt to bằng nửa quả Bael đã nổi lên.
219.
219.
219.
Pabhinnā pagghariṃsu me, kuṇapā pubbalohitā;
Yena yeneva gacchāmi, gāmesu nigamesu ca.
They burst and flowed with stinking pus and blood. Wherever I went, in villages and in towns,
Chúng vỡ ra, chảy mủ và máu hôi thối. Bất cứ nơi nào tôi đi đến, trong các làng mạc và thị trấn,
220.
220.
220.
Daṇḍahatthā nivārenti, itthiyo purisā ca maṃ;
Okkitā † pūtigandhena, māssu orena āgamā †.
women and men with sticks in hand ward me off. Overcome by the foul stench, they say, 'Do not come near!'
...đàn bà và đàn ông, tay cầm gậy, ngăn cản tôi, vì tôi bị bao phủ bởi mùi hôi thối, họ nói: 'Đừng đến gần đây.'
221.
221.
221.
Etādisaṃ idaṃ dukkhaṃ, satta vassāni dāni me;
Anubhomi sakaṃ kammaṃ, pubbe dukkaṭamattano.
For seven years now I have experienced such suffering as this, undergoing the result of my own kamma, my own evil deed done in the past.
Đã bảy năm nay, tôi phải chịu đựng nỗi khổ này, là nghiệp của chính tôi, do hành vi xấu ác mà tôi đã làm trong quá khứ.
222.
222.
222.
Taṃ vo vadāmi bhaddante †, yāvantettha samāgatā;
Māssu mittāna † dubbhittho, mittadubbho hi pāpako.
Therefore I say to you, may you be well, all of you who are assembled here: do not betray your friends, for a betrayer of friends is evil.
Vì vậy, tôi nói với các vị, cầu cho các vị được an lành, tất cả những ai đã tụ họp nơi đây: Chớ nên phản bội bạn bè, vì kẻ phản bội bạn bè là kẻ xấu xa.
223.
223.
223.
Kuṭṭhī kilāsī bhavati, yo mittānidha dubbhati †;
Kāyassa bhedā mittaddu †, nirayaṃ sopapajjatīti †.
Whoever in this world betrays a friend becomes a leper, afflicted with skin disease. After the breakup of the body, the betrayer of friends is reborn in hell.
Người nào ở đời này phản bội bạn bè, sẽ bị bệnh cùi, bệnh ngoài da. Sau khi thân hoại, kẻ phản bội bạn bè sẽ tái sanh vào địa ngục.
Mahākapijātakaṃ chaṭṭhaṃ.
The Sixth, the Mahākapi Jātaka.
Chuyện Bổn Sanh Vua Khỉ Lớn, thứ sáu.