Bản dịch
JA 515 — Chuyện nam tử Sambhava (Tiền thân Sambhava)
5. Sambhavajātaka
2850. “Này khanh Sucīrata, chúng ta đã đạt được vương quốc và quyền thống trị. Trẫm muốn đạt đến bản thể vĩ đại để cai quản trái đất này–
2851. –bằng công lý không phải bằng phi công lý; phi công lý không hứng thú đối với trẫm. Này Sucīrata, công lý được thực hành chính là việc cần phải làm của vị vua.
2852. Và nhờ thế, chúng ta không bị chê bai ở đời này; nhờ thế, chúng ta không bị chê bai ở đời sau; này Bà-la-môn, nhờ thế, chúng ta có thể đạt được danh tiếng ở chư Thiên và nhân loại.
2853. Này Bà-la-môn, trẫm đây mong muốn thực hiện phúc lợi và công lý. Này Bà-la-môn, được hỏi, khanh hãy nói về phúc lợi và công lý ấy.”
2854. “Tâu bệ hạ, về việc bệ hạ mong muốn tạo ra phúc lợi và công lý, tâu vị Sát-đế-lỵ, không có ai ngoại trừ Vidhura có khả năng nói về điều ấy.”
2855. “Này Sucīrata, được ủy nhiệm, khanh hãy đi đến khu vực của Vidhura. Khanh hãy đi mang theo tấm lắc vàng ròng. Khanh nên trao quà biếu này vì lời giáo huấn về phúc lợi và công lý.
2856. Vị đại Bà-la-môn Bhāradvāja đã nhanh chóng đi đến khu vực của Vidhura và đã nhìn thấy vị ấy đang thọ thực ở nhà của mình.
2857. “Tôi là sứ giả được ủy nhiệm của đức vua Koravya có danh tiếng. Vị vua dòng dõi Yudhiṭṭhila đã nói như vầy: ‘Khanh hãy hỏi về phúc lợi và công lý.’ Này Vidhura, được hỏi, ông hãy nói về phúc lợi và công lý ấy.”
2858. “Thưa vị Bà-la-môn, nhiều công việc ngăn cản tôi. Tôi không thể ngăn chặn con sông lớn Sindhu được, làm thế nào sẽ có cơ hội cho việc ấy? Dầu được hỏi, tôi không thể nói cho ông về phúc lợi và công lý.
2859. Này vị Bà-la-môn, Bhadrakāra là con trai của tôi, là đứa con trai ruột được tôi nuôi lớn, ông hãy đi đến và hỏi nó về phúc lợi và công lý ấy.”
2860. Vị đại Bà-la-môn Bhāradvāja đã nhanh chóng đi đến khu vực của Bhadrakāra, và đã nhìn thấy vị ấy đang ngồi ở chỗ cư ngụ của mình.
2861. “Ta là sứ giả được ủy nhiệm của đức vua Koravya có danh tiếng. Vị vua dòng dõi Yudhiṭṭhila đã nói như vầy: ‘Khanh hãy hỏi về phúc lợi và công lý.’ Này Bhadrakāra, con hãy giải thích cho ta về phúc lợi và công lý ấy.”
2862. “Sau khi bỏ xuống một gánh thịt, con lại đeo đuổi con kỳ đà. [1] Dầu được hỏi, con không thể nói cho ông về phúc lợi và công lý.
[1] Theo lời giải thích của Chú Giải, Bhadrakāra bỏ bê vợ nhà và đeo đuổi người phụ nữ thuộc quyền bảo hộ của người khác (JaA. v, 61).
2863. Thưa ông Sucīrata, Sañjaya là người em trai của con. Thưa vị Bà-la-môn, ông hãy đi đến và hỏi nó về phúc lợi và công lý ấy.”
2864. Vị đại Bà-la-môn Bhāradvāja đã nhanh chóng đi đến khu vực của Sañjaya, và đã nhìn thấy vị ấy đang ngồi ở chỗ cư ngụ của mình.
2865. “Ta là sứ giả được ủy nhiệm của đức vua Koravya có danh tiếng. Vị vua dòng dõi Yudhiṭṭhila đã nói như vầy: ‘Khanh hãy hỏi về phúc lợi và công lý.’ Này Sañjaya, được hỏi, con hãy nói về phúc lợi và công lý ấy.”
2866. “Thưa ông Sucīrata, cái chết luôn luôn nuốt lấy con vào buổi tối và buổi sáng. Dầu được hỏi, con không thể nói cho ông về phúc lợi và công lý.
2867. Thưa ông Sucīrata, Sambhava là người em trai của con. Thưa vị Bà-la-môn, ông hãy đi đến và hỏi nó về phúc lợi và công lý ấy.”
2868. “Con ơi, câu hỏi quả thật là phi thường! Điều này không làm cho chúng ta ưa thích. Ba người gồm có người cha và hai người con trai, họ không hiểu được bằng trí tuệ.
2869. Dầu được hỏi, họ không thể nói về phúc lợi và công lý ấy. Vậy làm thế nào đứa trẻ con có thể biết về phúc lợi và công lý, khi được hỏi?”
2870. “Xin ngài chớ xem thường em, (nghĩ rằng): ‘Trẻ con,’ rồi không hỏi Sambhava. Thưa vị Bà-la-môn, sau khi hỏi Sambhava, em có thể biết về phúc lợi và công lý.
2871. Cũng giống như mặt trăng (tròn), trong ngần, đang di chuyển ở hư không giới, nó vượt trội tất cả các quần thể tinh tú ở thế gian về ánh sáng.
2872. Cũng tương tự như vậy, Sambhava dầu là trẻ con, nhưng đã được phú cho sự gắn bó với trí tuệ. Xin ngài chớ xem thường em (nghĩ rằng): ‘Trẻ con,’ rồi không hỏi Sambhava. Thưa vị Bà-la-môn, sau khi hỏi Sambhava, em có thể biết về phúc lợi và công lý.
2873. Thưa vị Bà-la-môn, cũng giống như tháng Rammaka thuộc mùa nắng là vượt trội các tháng khác; nó rực rỡ với những bông hoa của các loại cây.
2874. Cũng tương tự như vậy, Sambhava dầu là trẻ con, nhưng đã được phú cho sự gắn bó với trí tuệ. Xin ngài chớ xem thường em (nghĩ rằng): ‘Trẻ con,’ rồi không hỏi Sambhava. Thưa vị Bà-la-môn, sau khi hỏi Sambhava, em có thể biết về phúc lợi và công lý.
2875. Thưa vị Bà-la-môn, cũng giống như ngọn núi tuyết Gandhamādana được bao phủ bởi nhiều loại cây khác nhau, là nơi trú ngụ của tập thể chư Thiên. Với các loại thảo dược của cõi Trời, nó chói sáng và tỏa hương đi khắp các phương.
2876. Cũng tương tự như vậy, Sambhava dầu là trẻ con, nhưng đã được phú cho sự gắn bó với trí tuệ. Xin ngài chớ xem thường em (nghĩ rằng): ‘Trẻ con,’ rồi không hỏi Sambhava. Thưa vị Bà-la-môn, sau khi hỏi Sambhava, em có thể biết về phúc lợi và công lý.
2877. Thưa vị Bà-la-môn, cũng giống như trận hỏa hoạn với nhiều ngọn lửa, có sức nóng, trong lúc đốt cháy, nó di chuyển ở khu rừng, không hề thỏa mãn, tạo thành vệt dài đen thui (nơi nào nó đi qua).
2878. Ngọn lửa tế thần (cháy bằng bơ lỏng), có cột khói là biểu hiệu, đốt cháy khu rừng loại tốt nhất. Với nhiều nhiên liệu, nó rực sáng trong đêm tối ở trên đỉnh ngọn núi.
2879. Cũng tương tự như vậy, Sambhava dầu là trẻ con, nhưng đã được phú cho sự gắn bó với trí tuệ. Xin ngài chớ xem thường em (nghĩ rằng): ‘Trẻ con,’ rồi không hỏi Sambhava. Thưa vị Bà-la-môn, sau khi hỏi Sambhava, em có thể biết về phúc lợi và công lý.
2880. Người ta biết được ngựa tốt bởi tốc độ, và con bò đực trong việc kéo nặng. Người ta biết được bò sữa do việc vắt sữa, và bậc sáng suốt trong khi vị ấy nói.
2881. Cũng tương tự như vậy, Sambhava dầu là trẻ con, nhưng đã được phú cho sự gắn bó với trí tuệ. Xin ngài chớ xem thường em (nghĩ rằng): ‘Trẻ con,’ rồi không hỏi Sambhava. Thưa vị Bà-la-môn, sau khi hỏi Sambhava, em có thể biết về phúc lợi và công lý.
2882. Vị đại Bà-la-môn Bhāradvāja đã nhanh chóng đi đến khu vực của Sambhava, và đã nhìn thấy vị ấy đang đùa giỡn ở bên ngoài thành phố.
2883. “Tôi là sứ giả được ủy nhiệm của đức vua Koravya có danh tiếng. Vị vua dòng dõi Yudhiṭṭhila đã nói như vầy: ‘Khanh hãy hỏi về phúc lợi và công lý.’ Này Sambhava, được hỏi, em hãy nói về phúc lợi và công lý ấy.”
2884. “Chắc chắn rồi, vị thiện xảo sẽ nói như thế nào thì con cũng sẽ nói với ông như thế ấy. Và đức vua, đương nhiên hiểu được điều ấy, tuy nhiên đức vua sẽ làm hay không làm (không phải là lỗi của con).
2885. Thưa ông Sucīrata, khi được đức vua hỏi: ‘Có người tuyên bố chuyện hôm nay hãy để ngày mai,’ (thì nên nói rằng): ‘Khi lợi ích sanh khởi, đức vua Yudhiṭṭhila không nên thực hành và sống như vậy.’
2886. Thưa ông Sucīrata, khi được đức vua hỏi: ‘Có người tuyên bố chỉ có bản ngã,’ (thì nên nói rằng): ‘Không nên đi vào con đường sai trái, giống như kẻ ngu si không có tâm tư.’
2887. Không nên vượt qua bản thân, không nên thọ trì phi pháp, không nên dẫn đến nơi không phải bến đỗ (dẫn đến 62 tà kiến), không nên gắn bó ở điều không có lợi ích.
2888. Và vị Sát- đế- lỵ nào biết thực hiện các công việc này, vị vua ấy luôn luôn lớn mạnh, tựa như mặt trăng vào thượng tuần.
2889. Và người có trí tuệ được yêu quý trong số các thân quyến, và sáng chói ở giữa bạn bè; do sự hoại rã của thân, vị ấy sẽ tái sanh vào cõi Trời.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
515. Sambhavajātakaṃ (5)
515. The Sambhava Jātaka (5)
515. Chuyện Tiền Thân Sambhava (5)
138.
138.
138.
Rajjañca paṭipannāsma, ādhipaccaṃ sucīrata;
Mahattaṃ pattumicchāmi, vijetuṃ pathaviṃ imaṃ.
O Sucīrata, we have attained kingship and sovereignty. I desire to attain greatness, to conquer this earth.
‘Này Sucīrata, chúng ta đã đạt được vương quyền và quyền thống trị. Ta mong muốn đạt đến sự vĩ đại, mong muốn chinh phục trái đất này.’
139.
139.
139.
Dhammena no adhammena, adhammo me na ruccati;
Kiccova dhammo carito, rañño hoti sucīrata.
By righteousness, not by unrighteousness; unrighteousness is not pleasing to me. O Sucīrata, practiced righteousness is indeed the duty of a king.
‘(Ta muốn chinh phục) bằng chánh pháp, không phải bằng phi pháp; phi pháp không làm ta hài lòng. Này Sucīrata, hành trì chánh pháp chính là phận sự của một vị vua.’
140.
140.
140.
Idha cevāninditā yena, pecca yena aninditā;
Yasaṃ devamanussesu, yena pappomu † brāhmaṇa.
O Brahmin, tell us that by which we may be blameless here and blameless after death, by which we may attain fame among gods and humans.
‘Này Bà-la-môn, nhờ phương pháp nào mà chúng ta không bị chê trách ngay trong đời này, và không bị chê trách trong đời sau; nhờ phương pháp nào mà chúng ta đạt được danh tiếng giữa chư thiên và loài người, xin hãy nói cho chúng tôi biết.’
141.
141.
141.
Yohaṃ atthañca dhammañca, kattumicchāmi brāhmaṇa;
Taṃ tvaṃ atthañca dhammañca, brāhmaṇakkhāhi pucchito.
O Brahmin, I wish to practice what is for welfare and what is the Dhamma. O Brahmin, being asked, please declare that welfare and Dhamma to me.
‘Này Bà-la-môn, ta là người mong muốn thực hành lợi ích và chánh pháp. Này Bà-la-môn, khi được hỏi, ngươi hãy nói cho ta biết về lợi ích đó và chánh pháp đó.’
142.
142.
142.
Nāññatra vidhurā rāja, etadakkhātumarahati;
Yaṃ tvaṃ atthañca dhammañca, kattumicchasi khattiya.
O king, none other than Vidhura is able to explain this—that which you, O khattiya, wish to practice for welfare and according to the Dhamma.
Tâu Đại vương, tâu bậc Sát-đế-lỵ, điều lợi ích và chánh pháp mà ngài muốn thực hiện, ngoài Vidhura ra, không ai khác có thể giải thích được.
143.
143.
143.
Ehi kho pahito gaccha, vidhurassa upantikaṃ;
Nikkhañcimaṃ † suvaṇṇassa, haraṃ gaccha sucīrata;
Abhihāraṃ imaṃ dajjā, atthadhammānusiṭṭhiyā.
Come, Sucīrata. Go as my envoy to the presence of Vidhura. Taking this gold ornament, go. You should give this gift for instruction in welfare and the Dhamma.
Này Sucīrata, hãy đến đây, ngươi được phái đi, hãy đến chỗ của Vidhura. Hãy đi và mang theo nén vàng này. Hãy trao tặng món quà này để được chỉ dạy về lợi ích và chánh pháp.
144.
144.
144.
Svādhippāgā bhāradvājo, vidhurassa upantikaṃ;
Tamaddasa mahābrahmā, asamānaṃ sake ghare.
That Bhāradvāja went to the presence of Vidhura. The great Brahmin saw him in his own house, eating his morning meal.
Vị Bà-la-môn dòng Bhāradvāja ấy đã đi đến chỗ của Vidhura. Vị đại Bà-la-môn đã thấy ngài ấy đang dùng bữa sáng trong nhà của mình.
145.
145.
145.
Raññohaṃ pahito dūto, korabyassa yasassino;
‘‘Atthaṃ dhammañca pucchesi’’, iccabravi yudhiṭṭhilo;
Taṃ tvaṃ atthañca dhammañca, vidhurakkhāhi pucchito.
I am a messenger sent by the glorious King of the Korabyas. Yudhiṭṭhila said, ‘Ask about welfare and the Dhamma.’ Therefore, O Vidhura, being asked, please declare that welfare and Dhamma to me.
Tôi là sứ giả được phái đi bởi đức vua Korabya lừng danh. Vua Yudhiṭṭhila đã nói: ‘Hãy hỏi về lợi ích và chánh pháp’. Hỡi Vidhura, khi được hỏi, xin ngài hãy giải thích về lợi ích và chánh pháp đó.
146.
146.
146.
Gaṅgaṃ me pidahissanti, na taṃ sakkomi brāhmaṇa;
Apidhetuṃ mahāsindhuṃ, taṃ kathaṃ so bhavissati.
O Brahmin, I am to dam the Ganges, but I cannot dam that great ocean. How then can this be accomplished?
Hỡi Bà-la-môn, tôi đang cố ngăn dòng sông Hằng, nhưng tôi không thể làm được. Tôi không thể ngăn được dòng sông lớn ấy, vậy làm sao có thể có cơ hội đó?
147.
147.
147.
Na te sakkomi akkhātuṃ, atthaṃ dhammañca pucchito;
Bhadrakāro ca me putto, oraso mama atrajo;
Taṃ tvaṃ atthañca dhammañca, gantvā pucchassu brāhmaṇa.
Being asked, I am not able to explain welfare and the Dhamma to you. But Bhadrakāra is my son, born from my breast, my own offspring. Go, O Brahmin, and ask him about welfare and the Dhamma.
Khi được hỏi, tôi không thể giải thích cho ngài về lợi ích và chánh pháp. Bhadrakāra là con trai của tôi, con ruột của chính tôi. Hỡi Bà-la-môn, ngài hãy đi và hỏi nó về lợi ích và chánh pháp.
148.
148.
148.
Svādhippāgā bhāradvājo, bhadrakārassupantikaṃ †;
Tamaddasa mahābrahmā, nisinnaṃ samhi vesmani.
That Bhāradvāja went to the presence of Bhadrakāra. The great Brahmin saw him seated in his own dwelling.
Vị Bà-la-môn dòng Bhāradvāja ấy đã đi đến chỗ của Bhadrakāra. Vị đại Bà-la-môn đã thấy cậu ấy đang ngồi trong nhà của mình.
149.
149.
149.
Raññohaṃ pahito dūto, korabyassa yasassino;
‘‘Atthaṃ dhammañca pucchesi’’, iccabravi yudhiṭṭhilo;
Taṃ tvaṃ atthañca dhammañca, bhadrakāra pabrūhi † me.
I am a messenger sent by the glorious King of the Korabyas. Yudhiṭṭhila said, ‘Ask about welfare and the Dhamma.’ Therefore, O Bhadrakāra, please explain that welfare and Dhamma to me.
Tôi là sứ giả được phái đi bởi đức vua Korabya lừng danh. Vua Yudhiṭṭhila đã nói: ‘Hãy hỏi về lợi ích và chánh pháp’. Hỡi Bhadrakāra, xin cậu hãy nói cho tôi về lợi ích và chánh pháp đó.
150.
150.
150.
Maṃsakājaṃ † avahāya, godhaṃ anupatāmahaṃ;
Na te sakkomi akkhātuṃ, atthaṃ dhammañca pucchito.
Having abandoned the carrying-pole with meat, I am pursuing an iguana. Being asked, I am not able to explain welfare and the Dhamma to you.
Tôi đã bỏ gánh thịt để đuổi theo con kỳ đà. Khi được hỏi, tôi không thể giải thích cho ngài về lợi ích và chánh pháp.
151.
151.
151.
Sañcayo † nāma me bhātā, kaniṭṭho me sucīrata;
Taṃ tvaṃ atthañca dhammañca, gantvā pucchassu brāhmaṇa.
O Sucīrata, my younger brother is named Sañcaya. Go and ask him, O Brahmin, about welfare and the Dhamma.
Hỡi Sucīrata, em trai của tôi tên là Sañcaya, là em út của tôi. Hỡi Bà-la-môn, ngài hãy đi và hỏi nó về lợi ích và chánh pháp.
152.
152.
152.
Svādhippāgā bhāradvājo, sañcayassa upantikaṃ;
Tamaddasa mahābrahmā, nisinnaṃ samhi vesmani †.
That Bhāradvāja went to the presence of Sañcaya. The great Brahmin saw him seated in the midst of his own assembly.
Vị Bà-la-môn dòng Bhāradvāja ấy đã đi đến chỗ của Sañcaya. Vị đại Bà-la-môn đã thấy cậu ấy đang ngồi trong nhà của mình.
153.
153.
153.
Raññohaṃ pahito dūto, korabyassa yasassino;
‘‘Atthaṃ dhammañca pucchesi’’, iccabravi yudhiṭṭhilo;
Taṃ tvaṃ atthañca dhammañca, sañcayakkhāhi pucchito.
I am a messenger sent by the glorious King of the Korabyas. Yudhiṭṭhila said, ‘Ask about welfare and the Dhamma.’ Therefore, O Sañcaya, being asked, please explain that welfare and Dhamma.
Tôi là sứ giả được phái đi bởi đức vua Korabya lừng danh. Vua Yudhiṭṭhila đã nói: ‘Hãy hỏi về lợi ích và chánh pháp’. Hỡi Sañcaya, khi được hỏi, xin cậu hãy giải thích về lợi ích và chánh pháp đó.
154.
154.
154.
Sadā maṃ gilate † maccu, sāyaṃ pāto sucīrata;
Na te sakkomi akkhātuṃ, atthaṃ dhammañca pucchito.
O Sucīrata, death always swallows me, evening and morning. Being asked, I am not able to explain welfare and the Dhamma to you.
Hỡi Sucīrata, thần chết luôn nuốt chửng tôi, cả chiều lẫn sáng. Khi được hỏi, tôi không thể giải thích cho ngài về lợi ích và chánh pháp.
155.
155.
155.
Sambhavo nāma me bhātā, kaniṭṭho me sucīrata;
Taṃ tvaṃ atthañca dhammañca, gantvā pucchassu brāhmaṇa.
O Sucīrata, my younger brother is named Sambhava. Go and ask him, O Brahmin, about welfare and the Dhamma.
Hỡi Sucīrata, em trai của tôi tên là Sambhava, là em út của tôi. Hỡi Bà-la-môn, ngài hãy đi và hỏi nó về lợi ích và chánh pháp.
156.
156.
156.
Abbhuto vata bho dhammo, nāyaṃ asmāka ruccati;
Tayo janā pitāputtā, tesu paññāya no vidū.
O sirs, this matter is indeed strange! This young one is not pleasing to us. Three people, a father and his sons, and among them, none know by means of wisdom.
Hỡi các vị, thật là một vấn đề kỳ diệu! Điều này không làm chúng tôi hài lòng. Ba người, cha và các con, trong số họ không ai biết được vấn đề này bằng trí tuệ.
157.
157.
157.
Na taṃ sakkotha akkhātuṃ, atthaṃ dhammañca pucchitā;
Kathaṃ nu daharo jaññā, atthaṃ dhammañca pucchito.
You are not able to explain it, though asked about welfare and the Dhamma. How then could a youth know of welfare and the Dhamma, when he is asked?
Các vị đã không thể giải thích về lợi ích và chánh pháp khi được hỏi. Vậy làm sao một đứa trẻ có thể biết về lợi ích và chánh pháp khi được hỏi?
158.
158.
158.
Mā naṃ daharoti uññāsi †, apucchitvāna sambhavaṃ;
Pucchitvā sambhavaṃ jaññā, atthaṃ dhammañca brāhmaṇa.
Do not despise him, thinking, ‘He is young,’ without first asking Sambhava. O Brahmin, having asked Sambhava, you will know of welfare and the Dhamma.
Hỡi Bà-la-môn, chớ xem thường Sambhava là trẻ con mà chưa hỏi. Sau khi hỏi Sambhava, ngài sẽ biết về lợi ích và chánh pháp.
159.
159.
159.
Yathāpi cando vimalo, gacchaṃ ākāsadhātuyā;
Sabbe tārāgaṇe loke, ābhāya atirocati.
Just as the stainless moon, moving through the expanse of the sky, outshines all the hosts of stars in the world with its radiance,
Ví như mặt trăng không tỳ vết, đi trong không gian, chiếu sáng rực rỡ hơn tất cả các vì sao trên thế gian bằng ánh sáng của mình.
160.
160.
160.
Evampi daharūpeto, paññāyogena sambhavo;
Mā naṃ daharoti uññāsi, apucchitvāna sambhavaṃ;
Pucchitvā sambhavaṃ jaññā, atthaṃ dhammañca brāhmaṇa.
Even so does Sambhava, though young in form, outshine others through his endowment of wisdom. Do not despise him, thinking, ‘He is young,’ without first asking Sambhava. O Brahmin, having asked Sambhava, you will know of welfare and the Dhamma.
Cũng vậy, Sambhava, dù còn trẻ, vẫn tỏa sáng hơn nhờ vào trí tuệ. Hỡi Bà-la-môn, chớ xem thường Sambhava là trẻ con mà chưa hỏi. Sau khi hỏi Sambhava, ngài sẽ biết về lợi ích và chánh pháp.
161.
161.
161.
Yathāpi rammako māso, gimhānaṃ hoti brāhmaṇa;
Atevaññehi māsehi, dumapupphehi sobhati.
O Brahmin, just as there is a delightful month in the summer season, which shines far more than the other months with the blossoms of the trees,
Hỡi Bà-la-môn, ví như trong các tháng mùa hè, có một tháng đáng vui thích, nó trở nên rực rỡ với hoa của cây cối, vượt trội hơn hẳn các tháng khác.
162.
162.
162.
Evampi daharūpeto, paññāyogena sambhavo;
Mā naṃ daharoti uññāsi, apucchitvāna sambhavaṃ;
Pucchitvā sambhavaṃ jaññā, atthaṃ dhammañca brāhmaṇa.
Even so does Sambhava, though young in form, shine through his endowment of wisdom. Do not despise him, thinking, ‘He is young,’ without first asking Sambhava. O Brahmin, having asked Sambhava, you will know of welfare and the Dhamma.
Cũng vậy, Sambhava, dù còn trẻ, vẫn tỏa sáng nhờ vào trí tuệ. Hỡi Bà-la-môn, chớ xem thường Sambhava là trẻ con mà chưa hỏi. Sau khi hỏi Sambhava, ngài sẽ biết về lợi ích và chánh pháp.
163.
163.
163.
Yathāpi himavā brahme, pabbato gandhamādano;
Nānārukkhehi sañchanno, mahābhūtagaṇālayo;
Osadhehi ca dibbehi, disā bhāti pavāti ca.
O Brahmin, just as the Himavā, the Gandhamādana mountain, covered with various trees, an abode for hosts of great beings, shines and wafts its fragrance in all directions with its divine medicinal herbs,
Hỡi Bà-la-môn, ví như núi Himavā và núi Gandhamādana, được bao phủ bởi nhiều loại cây, là nơi ở của nhiều vị trời, và được bao phủ bởi các dược thảo của chư thiên, tỏa sáng và tỏa hương khắp các phương.
164.
164.
164.
Evampi daharūpeto, paññāyogena sambhavo;
Mā naṃ daharoti uññāsi, apucchitvāna sambhavaṃ;
Pucchitvā sambhavaṃ jaññā, atthaṃ dhammañca brāhmaṇa.
Even so does Sambhava, though young in form, shine and waft the fragrance of his virtue through his endowment of wisdom. Do not despise him, thinking, ‘He is young,’ without first asking Sambhava. O Brahmin, having asked Sambhava, you will know of welfare and the Dhamma.
Cũng vậy, Sambhava, dù còn trẻ, vẫn vừa tỏa sáng vừa tỏa hương danh tiếng nhờ vào trí tuệ. Hỡi Bà-la-môn, chớ xem thường Sambhava là trẻ con mà chưa hỏi. Sau khi hỏi Sambhava, ngài sẽ biết về lợi ích và chánh pháp.
165.
165.
165.
Yathāpi pāvako brahme, accimālī yasassimā;
Jalamāno vane gacche †, analo kaṇhavattanī.
O Brahmin, just as a fire, garlanded with flames and glorious, blazes as it moves through the forest—an insatiable fire that leaves a blackened path,
Hỡi Bà-la-môn, ví như ngọn lửa có vòng hoa là ngọn lửa, có sức mạnh, đang cháy trong khu rừng lớn, là ngọn lửa không biết đủ, tạo ra con đường đen.
166.
166.
166.
Ghatāsano dhūmaketu, uttamāhevanandaho;
Nisīthe † pabbataggasmiṃ, pahūtedho † virocati.
A devourer of offerings, with smoke as its banner, burning the excellent forest; at midnight, on a mountain peak, it shines brightly with abundant fuel.
Nó thiêu đốt bơ lỏng, có khói làm cờ hiệu, thiêu đốt khu rừng tốt nhất. Ngọn lửa có sức nóng lớn ấy tỏa sáng vào lúc nửa đêm trên đỉnh núi.
167.
167.
167.
Evampi daharūpeto, paññāyogena sambhavo;
Mā naṃ daharoti uññāsi, apucchitvāna sambhavaṃ;
Pucchitvā sambhavaṃ jaññā, atthaṃ dhammañca brāhmaṇa.
Even so does Sambhava, though young in form, shine brightly through his endowment of wisdom. O Brahmin, do not despise him as young, without inquiring of Sambhava. Having inquired of Sambhava, you would know the benefit and the cause.
Cũng vậy, Sambhava, dù còn trẻ, vẫn tỏa sáng nhờ vào trí tuệ. Hỡi Bà-la-môn, chớ xem thường Sambhava là trẻ con mà chưa hỏi. Sau khi hỏi Sambhava, ngài sẽ biết về lợi ích và chánh pháp.
168.
168.
168.
Javena bhadraṃ jānanti, balibaddañca † vāhiye;
Dohena dhenuṃ jānanti, bhāsamānañca paṇḍitaṃ.
By speed, they know a fine steed, and a strong bull in the carrying of a burden; by milking, they know a milk-cow, and a wise person when he is speaking.
Người ta biết ngựa tốt qua tốc độ, biết bò đực tốt khi kéo xe; biết bò cái qua việc vắt sữa, và biết người trí khi người ấy nói.
169.
169.
169.
Evampi daharūpeto, paññāyogena sambhavo;
Mā naṃ daharoti uññāsi, apucchitvāna sambhavaṃ;
Pucchitvā sambhavaṃ jaññā, atthaṃ dhammañca brāhmaṇa.
Even so is Sambhava, though young in form, known through his endowment of wisdom. O Brahmin, do not despise him as young, without inquiring of Sambhava. Having inquired of Sambhava, you would know the benefit and the cause.
Cũng vậy, Sambhava, dù còn trẻ, vẫn biết được nhờ vào trí tuệ. Hỡi Bà-la-môn, ngài chớ xem thường Sambhava là trẻ con mà chưa hỏi. Sau khi hỏi Sambhava, ngài sẽ biết về lợi ích và chánh pháp.
170.
170.
170.
Svādhippāgā bhāradvājo, sambhavassa upantikaṃ;
Tamaddasa mahābrahmā, kīḷamānaṃ bahīpure.
That Bhāradvāja went to the presence of Sambhava. The great Brahmin saw him playing outside the house.
Vị Bà-la-môn dòng Bhāradvāja ấy đã đi đến chỗ của Sambhava. Vị đại Bà-la-môn đã thấy cậu bé ấy đang chơi đùa bên ngoài nhà.
171.
171.
171.
Raññohaṃ pahito dūto, korabyassa yasassino;
‘‘Atthaṃ dhammañca pucchesi’’, iccabravi yudhiṭṭhilo;
Taṃ tvaṃ atthañca dhammañca, sambhavakkhāhi pucchito.
I am a messenger sent by the glorious King Korabya. ‘You are to ask about the benefit and the cause,’ thus spoke Yudhiṭṭhila. O Sambhava, being asked by me, please explain that benefit and that cause.
Tôi là sứ giả được phái đi bởi đức vua Korabya lừng danh. Vua Yudhiṭṭhila đã nói: ‘Hãy hỏi về lợi ích và chánh pháp’. Hỡi Sambhava, khi được hỏi, xin cậu hãy giải thích về lợi ích và chánh pháp đó.
172.
172.
172.
Taggha te ahamakkhissaṃ, yathāpi kusalo tathā;
Rājā ca kho taṃ jānāti, yadi kāhati vā na vā.
Indeed, I will explain it to you, just as a skilled one would declare. As for the king, if he understands it, it is for him to act or not to act. Whether he acts or does not act, that is his own concern; for me, there is no fault.
Chắc chắn tôi sẽ nói cho ông, giống như người thiện xảo vậy. Còn đức vua, ngài biết điều đó, liệu ngài sẽ làm hay không làm.
173.
173.
173.
‘‘Ajja suve’’ti saṃseyya, raññā puṭṭho sucīrata;
Mā katvā avasī rājā, atthe jāte yudhiṭṭhilo.
O Sucirata, when asked by the king, one might say, ‘Today or tomorrow.’ When a matter of benefit has arisen, let not the king, Yudhiṭṭhila, having heeded such words, live in heedlessness.
Này Sucīrata, khi được vua hỏi, có thể ông sẽ nói: 'Hôm nay, ngày mai'. Khi lợi ích sanh khởi, xin đức vua, dòng dõi Yudhiṭṭhila, đừng sống trong sự xao lãng.
174.
174.
174.
Ajjhattaññeva saṃseyya, raññā puṭṭho sucīrata;
Kummaggaṃ na niveseyya, yathā mūḷho acetaso †.
O Sucirata, when asked by the king, one should speak only of what is internal. He should not enter upon a wrong path, like one who is deluded and without intelligence.
Này Sucīrata, khi được vua hỏi, ông nên nói về chính nội tâm. Xin đức vua đừng đi vào con đường sai lầm, giống như kẻ si mê, không có tâm trí.
175.
175.
175.
Attānaṃ nātivatteyya, adhammaṃ na samācare;
Atitthe nappatāreyya, anatthe na yuto siyā.
He should not transgress against himself; he should not practice unrighteousness. He should not try to cross at a non-ford; he should not be engaged in what is without benefit.
Không nên vượt qua chính mình, không nên thực hành điều phi pháp. Không nên rơi vào bến nước không an toàn, không nên dấn thân vào điều vô ích.
176.
176.
176.
Yo ca etāni ṭhānāni, kattuṃ jānāti khattiyo;
Sadā so vaḍḍhate rājā, sukkapakkheva candimā.
And whatever noble who knows how to act on these principles, that king always prospers, like the moon in the waxing fortnight.
Vị vua nào biết thực hành những điều này, vị vua ấy luôn luôn tăng trưởng, như mặt trăng trong kỳ thượng tuần.
177.
177.
177.
Ñātīnañca piyo hoti, mittesu ca virocati;
Kāyassa bhedā sappañño, saggaṃ so upapajjatīti.
He is dear to his relatives and shines among his friends. After the breaking up of the body, that wise one is reborn in a heavenly world.
Vị ấy trở thành người thân yêu của quyến thuộc, và tỏa sáng giữa bạn bè. Sau khi thân hoại, người có trí tuệ ấy sanh lên cõi trời.
Sambhavajātakaṃ pañcamaṃ.
The Sambhava Jātaka, the fifth.
Chuyện Bổn Sanh Sambhava, thứ năm.