Bản dịch
JA 514 — Chuyện tượng vương ở hồ Chaddanta (Tiền thân Chaddanta)
4. Chaddantajātaka
2808. “Này cô nàng có cơ thể tựa như vàng, vì sao nàng sầu muộn? Này cô nàng có sắc đẹp cao quý, vì sao nàng có vẻ xanh xao? Này cô nàng có đôi mắt to, vì sao nàng bị héo hon, tựa như lẵng hoa bị vày vò?”
2809. “Tâu đại vương, thiếp có sự khao khát. Nó đến trong giấc mơ. Sự khao khát như thế ấy của thiếp dường như có vẻ không dễ dàng đạt được.”
2810. “Bất kỳ những dục vọng nào thuộc về nhân loại ở thế gian này, tất cả các điều ấy đều dồi dào đối với trẫm. Trẫm sẽ ban cho nàng điều khao khát ấy.”
2811. “Tâu bệ hạ, hãy cho tập hợp các thợ săn lại, bất kỳ những ai đang ở trong lãnh địa của bệ hạ. Thiếp sẽ nói cho những người ấy điều khao khát của thiếp là như thế nào.”
2813. “Này ái hậu, những người thợ săn này là thuộc về nàng. Họ đã khéo được rèn luyện, tự tin, hiểu biết về rừng và các loài thú, có mạng sống đã được buông bỏ cho mục đích của trẫm.”
2814. “Hỡi các thợ săn trai trẻ đã đến tụ hội ở nơi này, các người hãy chú tâm lắng nghe. Bổn cung đã nhìn thấy con voi sáu ngà màu trắng ở trong giấc mơ. Bổn cung có nhu cầu với những cái ngà của nó; nếu không đạt được thì không sống nổi.”
2815. “Tâu lệnh bà, các người cha, các người ông của chúng tôi còn chưa được thấy, chưa được nghe về con voi có sáu ngà. Xin lệnh bà hãy nói rõ cho chúng tôi về con long tượng mà lệnh bà đã nhìn thấy trong giấc mơ là như thế nào.
2816. Bốn hướng chánh, bốn hướng phụ, hướng trên, hướng dưới, trong mười hướng này, con long tượng mà lệnh bà đã nhìn thấy trong giấc mơ đứng ở hướng nào?”
2817. “Từ nơi này, thẳng lên hướng bắc, sau khi vượt qua bảy ngọn núi khổng lồ; (trong số đó) ngọn núi nổi bậc ấy có tên là Suvaṇṇapassa (Sườn Núi Vàng), được khéo nở rộ hoa, được lai vãng bởi loài nhân điểu.
2818. Sau khi trèo lên tảng núi đá là chỗ ngụ của các nhân điểu, ngươi hãy nhìn xuống khu vực ở chân núi, và ngươi sẽ nhìn thấy một cây đa chúa, với gốc có tám ngàn cành, có hình dáng giống như đám mây.
2819. Con voi sáu ngà trú ẩn tại nơi ấy. Nó có toàn thân màu trắng, khó bị khuất phục bởi những con voi khác. Tám ngàn con voi bảo vệ nó. Chúng có ngà như cán cày, có cú đánh với tốc độ của gió.
2820. Chúng đứng, thở ra một cách ồn ào. Chúng giận dữ, thậm chí đối với làn gió bị xao động. Hơn nữa, sau khi nhìn thấy bóng dáng con người ở nơi ấy, chúng có thể làm thành tro, thậm chí hạt bụi của con người cũng không được.”
2821. “Tâu lệnh bà, có quá nhiều các thứ này ở hoàng gia, các đồ trang sức thuộc về vàng, các ngọc trai, các ngọc ma-ni, và các vật làm bằng ngọc bích. Với ước muốn giết chết con voi sáu ngà, lệnh bà sẽ làm gì với đồ trang sức bằng ngà voi? Hay là lệnh bà sẽ giết hại các thợ săn trai trẻ?”
2822. “Này thợ săn, bổn cung đây bị ganh ghét, khổ đau. Và ta bị héo hon trong khi nhớ về quá khứ. Này thợ săn, ngươi hãy làm việc ấy cho bổn cung. Bổn cung sẽ ban cho ngươi ân huệ là năm ngôi làng.”
2823. “Nó trú ở đâu? Nó đi đến chỗ đứng ở đâu? Lối đi nào của nó khi đi tắm? Con voi chúa ấy tắm như thế nào? Làm thế nào chúng thần có thể biết được đường lối đi lại của con voi?”
2824. “Ngay tại nơi đó, hồ sen (Chaddanta) ấy ở không xa, đáng yêu, có bến tắm xinh đẹp, và có nhiều nước, được nở rộ nhiều hoa, được lai vãng bởi các bầy ong. Chính nơi này, con voi chúa ấy tắm.
2825. Khi đã tắm xong cái đầu, con voi đội lên vòng hoa sen xanh, toàn thân có màu trắng, với các phần thân thể và làn da tựa như hoa sen trắng. Trong lúc vui thích, con voi đi về nơi trú ngụ của mình, dẫn đầu là voi chánh hậu Sabbabhaddā.
2826. Ngay tại nơi ấy, sau khi đã nắm vững lời dặn, gã thợ săn ấy đã cầm lấy túi tên và cây cung. Gã ấy đã vượt qua bảy ngọn núi lớn khổng lồ, (trong số đó) ngọn núi nổi bậc có tên là Suvaṇṇapassa (Sườn Núi Vàng).
2827. Sau khi trèo lên tảng núi đá là chỗ ngụ của các nhân điểu, gã đã nhìn xuống khu vực ở chân núi, và đã nhìn thấy tại nơi ấy một cây đa chúa, với gốc có tám ngàn cành, có hình dáng giống như đám mây.
2828. Gã đã nhìn thấy tại nơi ấy con voi sáu ngà có toàn thân màu trắng, khó bị khuất phục bởi những con voi khác. Tám ngàn con voi bảo vệ nó. Chúng có ngà như cán cày, có cú đánh với tốc độ của gió.
2829. Gã đã nhìn thấy tại nơi ấy hồ sen (Chaddanta) ở không xa, đáng yêu, có bến tắm xinh đẹp, và có nhiều nước, được nở rộ nhiều hoa, được lai vãng bởi các bầy ong. Chính nơi này, con voi chúa ấy tắm.
2830. Sau khi nhìn thấy đường lối đi lại và chỗ đứng của con voi, gã thợ săn, với bộ dạng không thánh thiện, bị gắn bó theo mãnh lực tâm (của hoàng hậu), đã thực hiện một cạm bẫy ở lối đi của con voi khi nó đi tắm.
2831. Sau khi đào một cái hố và che đậy bằng các tấm ván, gã thợ săn đã ẩn mình và cây cung (ở trong cái hố), rồi đã xuyên thủng con voi ở bên hông bằng mũi tên lớn; gã là kẻ đã tạo nghiệp ác hạnh.
2832. Và con voi bị xuyên thủng đã kêu tiếng rống ghê rợn. Toàn bộ tất cả các con voi đã rống đáp lại với hình thức ghê rợn. Chúng đã chạy theo tám hướng ở xung quanh, làm cho lá cỏ và cây cối bị nát vụn.
2833. (Nghĩ rằng): ‘Ta sẽ giết chết kẻ này,’ trong lúc chạm vào (gã thợ săn), con voi đã nhìn thấy tấm vải màu ca-sa, biểu hiệu của các ẩn sĩ. Sự nhận biết đã sanh khởi đến con voi bị xúc chạm bởi khổ đau rằng: ‘Biểu hiệu của các bậc A-la-hán, theo các bậc sáng suốt, là không được xâm phạm.’
2834. Kẻ nào có uế trược chưa lìa, sẽ khoác lên tấm vải ca-sa, (mà) bỏ bê việc rèn luyện và sự chân thật, kẻ ấy không xứng với y ca-sa.
2835. Còn vị nào có uế trược đã được tẩy trừ, khéo định tĩnh trong các giới, gắn bó với việc rèn luyện và chân thật, người ấy quả nhiên xứng với y ca-sa.
2836. Bị mũi tên lớn đâm vào, con voi, với tâm không sân hận, đã nói với gã thợ săn rằng: “Này bạn, bạn đang ước nguyện điều gì? Cái chết của ta là vì nguyên nhân gì? Kế hoạch này là của ai?”
2837. “Thưa ngài, chánh hậu của đức vua xứ Kāsi, nàng Subhaddā ấy được tôn vinh ở gia đình hoàng tộc. Bà ấy đã nhìn thấy ngài và đã giải thích cho tôi, rồi đã nói với tôi rằng: ‘Có nhu cầu với những cái ngà.’”
2838. “Các cặp ngà cao quý này của các cha ông của ta là rất nhiều. Bà hoàng hậu ấy biết, nhưng vì sân hận, ngu dốt, có ý định giết hại, nên đã gây ra việc thù hằn.
2839. Này thợ săn, ngươi hãy đứng lên, rồi cầm lấy cái cưa, và hãy cắt những cái ngà này trước khi ta chết. Ngươi có thể nói với hoàng hậu về sự sân hận ấy rằng: ‘Con voi đã chết. Còn đây là những cái ngà của nó.’”
2840. Gã thợ săn ấy đã đứng lên, rồi cầm lấy cái cưa, và cắt những cái ngà xinh xắn, đẹp đẽ, không gì sánh bằng ở trái đất của con voi tối thượng, sau đó, cầm lấy chúng rồi vội vã rời khỏi nơi ấy.
2841. Bị hốt hoảng bởi nỗi sợ hãi, bị khổ đau bởi cái chết của con voi chúa, các con voi ấy đã chạy tản mác tám phương. Sau khi không nhìn thấy con người thù địch của loài voi, chúng quay trở lại nơi con voi chúa ấy.
2842. Các con voi ấy than van, khóc lóc tại nơi ấy. Sau khi rắc bụi tro xuống ở trên đầu của mình, tất cả các con voi ấy đã đi về chỗ trú ngụ của mình, dẫn đầu là voi chánh hậu Sabbabhaddā.
2843. Sau khi cầm lấy những cái ngà xinh xắn, đẹp đẽ, không gì sánh bằng ở trái đất của con voi tối thượng; chúng chiếu sáng ở xung quanh với những tia sáng màu hoàng kim. Gã thợ săn ấy đã đi đến thành Kāsi. Gã ấy đã dâng các cái ngà đến vị hoàng hậu (tâu rằng): ‘Con voi đã chết. Còn đây là những cái ngà của nó.’
2844. Sau khi nhìn thấy những cái ngà của con voi tối thượng, của người chồng yêu quý trong kiếp sống trước. Ngay tại nơi ấy, trái tim của nàng ấy đã vỡ tan. Chính vì điều ấy, người đàn bà ngu si ấy đã từ trần.
2845. Và bậc đã đạt đến quả vị Toàn Giác, có đại thần lực, đã nở nụ cười ở giữa hội chúng. Các vị tỳ khưu có tâm khéo được giải thoát đã thắc mắc rằng: “Chư Phật biểu lộ (nụ cười) không phải không có nguyên nhân.”
2846. “Người thiếu nữ trẻ tuổi khoác tấm vải màu ca-sa đang sống không nhà mà các ngươi nhìn thấy, vào lúc bấy giờ, nàng ấy đã là công chúa (sau trở thành chánh hậu), còn Ta khi ấy đã là con voi chúa.
2847. Gã thợ săn, sau khi cầm lấy những cái ngà xinh xắn, đẹp đẽ, không gì sánh bằng ở trái đất của con voi tối thượng, rồi đã đi đến thành Kāsi, lúc bấy giờ, Devadatta đã là gã ấy.”
2848. Là bậc đã xa lìa sự lo lắng, bậc đã xa lìa sự sầu muộn, bậc không còn mũi tên, đức Phật, sau khi tự mình biết rõ, đã nói về hạnh kiểm cao thượng và thấp hèn này trong thời quá khứ đã được trải qua thời gian dài lâu, nhưng còn chưa phai nhạt.
2849. Này các tỳ khưu, vào lúc ấy, Ta đã ở nơi ấy (hồ nước Chaddanta). Khi ấy, Ta đã là con voi chúa. Các ngươi hãy ghi nhớ chuyện Bổn Sanh như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
514. Chaddantajātakaṃ (4)
514. The Chaddanta Jātaka (4)
514. Chuyện Bổn sanh Chaddanta (4)
97.
97.
97.
Kiṃ nu socasinuccaṅgi, paṇḍūsi varavaṇṇini;
Milāyasi visālakkhi, mālāva parimadditā.
Why do you grieve, O you of golden sheen? You are pale, O you of excellent complexion. You are withering, O wide-eyed one, like a garland crushed by hand.
Hỡi nàng có thân hình thon thả, tại sao nàng sầu muộn? Hỡi nàng có dung sắc tuyệt vời, nàng trông xanh xao. Hỡi nàng có đôi mắt to đẹp, nàng đang héo úa như một vòng hoa bị vò nát.
98.
98.
98.
Dohaḷo me mahārāja, supinantenupajjhagā †;
Na so sulabharūpova, yādiso mama dohaḷo.
O great king, a craving has arisen in me from a dream. That craving of mine is not of a nature to be easily obtained.
Tâu Đại vương, thiếp có một cơn thèm muốn đã khởi lên trong giấc mơ. Cơn thèm muốn của thiếp quả không phải là thứ dễ tìm.
99.
99.
99.
Ye keci mānusā kāmā, idha lokasmi nandane;
Sabbe te pacurā mayhaṃ, ahaṃ te dammi dohaḷaṃ.
O delightful one, whatever human pleasures exist in this world, all of them are abundant for me. I shall give you the object of your craving.
Hỡi nàng đáng yêu, ở thế gian này có bất cứ dục lạc nào của con người, tất cả những thứ đó ta đều có rất nhiều. Ta sẽ ban cho nàng vật mà nàng thèm muốn.
100.
100.
100.
Luddā deva samāyantu, ye keci vijite tava;
Etesaṃ ahamakkhissaṃ, yādiso mama dohaḷo.
O Lord, let all the hunters who are in your dominion assemble. To them I shall declare what kind of craving I have.
Tâu bệ hạ, xin cho tất cả những người thợ săn trong vương quốc của ngài hãy tập hợp lại. Thiếp sẽ nói cho họ biết cơn thèm muốn của thiếp là như thế nào.
101.
101.
101.
Ime te luddakā devi, katahatthā visāradā;
Vanaññū ca migaññū ca, mamatthe † cattajīvitā.
These, O queen, are the hunters, skilled and confident, who know the forest and know the game, and who have abandoned their lives for my sake.
Hỡi hoàng hậu, đây là những người thợ săn, tay nghề điêu luyện, dũng cảm, biết rõ về rừng, biết rõ về thú, và sẵn sàng hy sinh mạng sống vì ta.
102.
102.
102.
Luddaputtā nisāmetha, yāvantettha samāgatā;
Chabbisāṇaṃ gajaṃ setaṃ, addasaṃ supine ahaṃ;
Tassa dantehi me attho, alābhe natthi jīvitaṃ.
Listen, O sons of hunters, all of you who have gathered here. In a dream, I saw a white elephant with six-rayed tusks. I have need of its tusks; if they are not obtained, there is no life for me.
Hỡi các con trai của thợ săn, bao nhiêu người các ngươi đã tập hợp ở đây, hãy nghe lời ta. Ta đã thấy trong giấc mơ một con voi trắng có ngà sáu màu. Ta cần ngà của nó, nếu không có được, ta sẽ không sống nổi.
103.
103.
103.
Na no pitūnaṃ na pitāmahānaṃ, diṭṭho suto kuñjaro chabbisāṇo;
Yamaddasā supine rājaputtī, akkhāhi no yādiso hatthināgo.
A six-tusked elephant has been neither seen nor heard of by our fathers or our grandfathers. O princess, describe to us what kind of elephant lord you saw in the dream.
Cha và ông của chúng tôi chưa từng thấy, chưa từng nghe về con voi có ngà sáu màu. Tâu công chúa, con voi chúa mà người đã thấy trong mơ, nó như thế nào, xin hãy cho chúng tôi biết.
104.
104.
104.
Disā catasso vidisā catasso, uddhaṃ adho dasa disā imāyo;
Katamaṃ disaṃ tiṭṭhati nāgarājā, yamaddasā supine chabbisāṇaṃ.
There are the four cardinal directions, the four intermediate directions, the direction above, and the direction below—these are the ten directions. In which of these directions does the elephant king dwell, the one with six-rayed tusks whom you saw in a dream?
Có bốn phương chính, bốn phương phụ, phương trên, phương dưới, tổng cộng là mười phương. Tâu hoàng hậu, con voi chúa có ngà sáu màu mà người đã thấy trong mơ, nó ở phương nào?
105.
105.
105.
Ito ujuṃ uttariyaṃ disāyaṃ, atikkamma so sattagirī brahante;
Suvaṇṇapasso nāma girī uḷāro, supupphito † kimpurisānuciṇṇo.
Go straight from here to the northern direction. Having passed beyond the seven great mountain ranges, there is a magnificent mountain named Suvaṇṇapassa, abounding in blossoms and frequented by Kinnaras.
Từ đây, hãy đi thẳng về phương bắc. Vượt qua bảy dãy núi lớn, có một ngọn núi cao lớn tên là Suvaṇṇapassa, hoa nở rộ, là nơi các vị khẩn-na-la thường lui tới.
106.
106.
106.
Āruyha selaṃ bhavanaṃ kinnarānaṃ, olokaya pabbatapādamūlaṃ;
Atha dakkhasī meghasamānavaṇṇaṃ, nigrodharājaṃ atha sahassapādaṃ †.
Having climbed the rocky peak, the abode of the Kinnaras, look down at the foot of the mountain. Then you will see the king of banyan trees, with a color like a dark cloud and with eight thousand canopies.
Hãy leo lên đỉnh núi đá, nơi ở của các vị khẩn-na-la, và nhìn xuống chân núi. Khi đó, ngươi sẽ thấy một cây đa chúa, màu sắc như mây, có ngàn rễ.
107.
107.
107.
Tatthacchatī kuñjaro chabbisāṇo, sabbaseto duppasaho parebhi;
Rakkhanti naṃ aṭṭhasahassanāgā, īsādantā vātajavappahārino.
There dwells the elephant with six-rayed tusks, all white, difficult to be overcome by others. Eight thousand elephants guard him, their tusks like chariot-poles, striking with the speed of the wind.
Ở đó có một con voi chúa, ngà sáu màu, toàn thân màu trắng, khó bị kẻ khác khuất phục. Nó được tám ngàn con voi bảo vệ, những con voi này có ngà như càng xe, tấn công nhanh như gió.
108.
108.
108.
Tiṭṭhanti te tumūlaṃ † passasantā, kuppanti vātassapi eritassa;
Manussabhūtaṃ pana tattha disvā, bhasmaṃ kareyyuṃ nāssa rajopi tassa.
They stand, breathing out fiercely, and become enraged even at the stirring of the wind. But upon seeing a human being there, they would reduce him to ashes, such that not even his dust would remain.
Chúng đứng đó, thở ra hơi thở mạnh mẽ. Chúng nổi giận ngay cả với tiếng gió thổi. Huống chi khi thấy một con người ở đó, chúng sẽ biến người đó thành tro bụi, không còn lại dù chỉ một hạt bụi.
109.
109.
109.
Bahū hime rājakulamhi santi, piḷandhanā jātarūpassa devī;
Muttāmaṇīveḷuriyāmayā ca, kiṃ kāhasi dantapiḷandhanena;
Māretukāmā kuñjaraṃ chabbisāṇaṃ, udāhu ghātessasi luddaputte.
O queen, there are many golden ornaments in the royal household, and many made of pearls, gems, and beryl. What will you do with an ivory ornament? Do you wish to have the six-rayed elephant killed, or, using the ornament as a pretext, will you have the sons of the hunters killed?
Tâu hoàng hậu, trong hoàng cung có rất nhiều đồ trang sức bằng vàng, và cả những thứ làm bằng ngọc trai, hồng ngọc, lưu ly. Người sẽ làm gì với đồ trang sức bằng ngà voi? Phải chăng người muốn giết con voi có ngà sáu màu, hay là lấy cớ đó để giết những người thợ săn này?
110.
110.
110.
Sā issitā dukkhitā casmi ludda, uddhañca sussāmi anussarantī;
Karohi me luddaka etamatthaṃ, dassāmi te gāmavarāni pañca.
O hunter, I am envious and afflicted with suffering. Constantly remembering that past enmity, I am agitated by jealousy and wither away. O hunter, accomplish this purpose for me; I will give you five excellent villages.
Hỡi người thợ săn, ta đây vừa đố kỵ vừa khổ tâm. Ta héo hon và bồn chồn khi không ngừng nhớ đến mối thù (với nó). Hỡi người thợ săn, hãy làm cho ta việc này, ta sẽ ban cho ngươi năm ngôi làng tốt nhất.
111.
111.
111.
Katthacchatī katthamupeti ṭhānaṃ, vīthissa kā nhāna † gatassa hoti;
Kathañhi so nhāyati † nāgarājā, kathaṃ vijānemu gatiṃ gajassa.
Where does he dwell? Where does he go to stand? What is his path when he goes to bathe? How indeed does that elephant king bathe? How may we know the elephant's path?
Voi chúa ở nơi nào, nó đến nơi nào để ở? Khi nó đi tắm, con đường của nó là gì? Voi chúa đó tắm như thế nào? Làm sao chúng tôi biết được đường đi của voi chúa?
112.
112.
112.
Tattheva sā pokkharaṇī adūre †, rammā sutitthā ca mahodikā † ca;
Sampupphitā bhamaragaṇānuciṇṇā †, ettha hi so nhāyati nāgarājā.
Right there, not far away, is that lotus pond, which is delightful, has pleasant fords, and has abundant water. It is covered in blossoms and frequented by swarms of bees. It is there that the elephant king bathes.
Ngay gần đó có một hồ sen, rất đẹp, có bến tắm tốt, và nhiều nước. Hoa nở rộ khắp nơi, là nơi các đàn ong thường lui tới. Voi chúa đó tắm ở hồ này.
113.
113.
113.
Sīsaṃ nahātuppala † mālabhārī, sabbaseto puṇḍarīkattacaṅgī;
Āmodamāno gacchati sanniketaṃ, purakkhatvā mahesiṃ sabbabhaddaṃ.
Having bathed from the head down, adorned with a garland of water lilies, all white, with skin like a white lotus, the elephant king rejoices. Placing his chief queen, Sabbabhaddā, at the forefront, he proceeds to his dwelling.
Sau khi tắm gội, mình trang điểm hoa sen, toàn thân trắng muốt như hoa sen trắng, voi chúa vui vẻ trở về nơi ở, để cho hoàng hậu Sabbabhaddā đi trước.
114.
114.
114.
Tattheva so uggahetvāna vākyaṃ, ādāya tūṇiñca dhanuñca luddo;
Vituriyati † sattagirī brahante, suvaṇṇapassaṃ nāma giriṃ uḷāraṃ.
Then that hunter, having grasped her words, took his quiver and bow. Reaching the mountain forest, he explored the seven great mountain ranges. While exploring, he saw the magnificent mountain named Suvaṇṇapassa.
Ngay tại đó, người thợ săn kia nghe theo lời dặn, mang theo bao tên và cây cung; y dò tìm bảy dãy núi lớn, và thấy ngọn núi hùng vĩ tên là Suvaṇṇapassa.
115.
115.
115.
Āruyha selaṃ bhavanaṃ kinnarānaṃ, olokayī pabbatapādamūlaṃ;
Tatthaddasā meghasamānavaṇṇaṃ, nigrodharājaṃ aṭṭhasahassapādaṃ.
Having climbed the rocky peak, the abode of the Kinnaras, he looked down at the foot of the mountain. There he saw the king of banyan trees, with a color like a dark cloud and with eight thousand canopies.
Leo lên đỉnh núi đá, nơi ở của các vị kinnara, y nhìn xuống chân núi; tại đó, y thấy một vua cây đa, màu sắc tựa mây đen, có tám ngàn rễ.
116.
116.
116.
Tatthaddasā kuñjaraṃ chabbisāṇaṃ, sabbasetaṃ duppasahaṃ parebhi;
Rakkhanti naṃ aṭṭhasahassanāgā, īsādantā vātajavappahārino.
There he saw the elephant king standing, with six-rayed tusks, all white, and invincible to others. Eight thousand elephants, with tusks like chariot-poles and striking with the speed of the wind, were guarding him.
Tại đó, y thấy một vua voi có cặp ngà sáu màu, toàn thân trắng toát, khó bị kẻ khác khuất phục; tám ngàn voi có ngà như càng xe, tấn công nhanh như gió, đang canh giữ vua voi ấy.
117.
117.
117.
Tatthaddasā pokkharaṇiṃ adūre, rammaṃ sutitthañca mahodikañca;
Sampupphitaṃ bhamaragaṇānuciṇṇaṃ, yattha hi so nhāyati nāgarājā.
There, not far away, he saw the lotus pond where the elephant king bathed—a pond that was delightful, with pleasant fords and abundant water, covered in blossoms and frequented by swarms of bees.
Tại đó, không xa, y thấy một hồ sen khả ái, có bến nước tốt và đầy nước, rộn rã đàn ong, là nơi vua voi thường đến tắm.
118.
118.
118.
Disvāna nāgassa gatiṃ ṭhitiñca, vīthissa yā nhānagatassa hoti;
Opātamāgacchi anariyarūpo, payojito cittavasānugāya.
Having observed all of the elephant king's movements—his path, his standing place, and the route he took to bathe—the ignoble hunter, instigated by that queen who followed the whims of her mind, prepared a pitfall.
Sau khi thấy được lối đi và chỗ ở của vua voi, và con đường mà voi thường đi tắm; người thợ săn có bản chất thấp hèn, bị sai khiến bởi người đàn bà chiều theo ý muốn của tâm, đã đào một cái hố bẫy.
119.
119.
119.
Khaṇitvāna kāsuṃ phalakehi chādayi, attānamodhāya dhanuñca luddo;
Passāgataṃ puthusallena nāgaṃ, samappayī dukkaṭakammakārī.
The hunter, a doer of evil deeds, having dug a pit, placed his bow and arrow inside. He covered it with planks, concealed himself within, and shot the approaching elephant king with a large, poisoned arrow.
Sau khi đào hố, người thợ săn, kẻ quen làm điều ác, đã che lại bằng ván, đặt cây cung và mũi tên vào bên trong; y ẩn mình vào đó rồi bắn con voi bằng một mũi tên lớn khi nó đến gần.
120.
120.
120.
Viddho ca nāgo koñcamanādi ghoraṃ, sabbe ca † nāgā ninnaduṃ † ghorarūpaṃ;
Tiṇañca kaṭṭhañca raṇaṃ † karontā, dhāviṃsu te aṭṭhadisā samantato.
Having been shot, the elephant king cried out a terrible, crane-like cry three times. All the other elephants made a frightful, resounding roar. Reducing grass and wood to powder, they ran about in all eight directions.
Bị trúng tên, vua voi rống lên ba tiếng dữ dội, và tất cả các con voi khác cũng tạo ra tiếng vang kinh hoàng; chúng vừa giày xéo cỏ cây cho tan nát, vừa chạy tán loạn khắp tám hướng.
121.
121.
121.
Vadhissametanti † parāmasanto, kāsāvamaddakkhi dhajaṃ isīnaṃ;
Dukkhena phuṭṭhassudapādi saññā, arahaddhajo sabbhi avajjharūpo.
As he was considering, 'I will kill him,' he saw the saffron robe, the banner of the seers. Though afflicted by pain, this perception arose in him: 'The banner of the Arahants is inviolable to the good; indeed, it is worthy of reverence.'
Trong khi suy tính: ‘Ta sẽ giết hắn’, voi chúa chợt thấy tấm y cà-sa, lá cờ của các bậc ẩn sĩ; dù đang bị đau đớn hành hạ, một tưởng khởi lên trong voi: ‘Lá cờ của bậc A-la-hán, đối với bậc hiền trí, là vật không thể sát hại’.
122.
122.
122.
Anikkasāvo kāsāvaṃ, yo vatthaṃ paridahissati †;
Apeto damasaccena, na so kāsāvamarahati.
He who would wear the saffron robe while yet impure, devoid of self-restraint and truthfulness, is not worthy of the saffron robe.
Người nào chưa gột sạch cấu uế, khoác lên mình tấm y cà-sa, mà lại xa lìa sự tự chủ và chân thật, người ấy không xứng đáng với tấm y cà-sa.
123.
123.
123.
Yo ca vantakasāvassa, sīlesu susamāhito;
Upeto damasaccena, sa ve kāsāvamarahati.
But he who has purged himself of impurities, is well-established in virtue, and is endowed with self-restraint and truthfulness, he indeed is worthy of the saffron robe.
Còn người nào đã trừ sạch cấu uế, an trú vững chắc trong giới luật, thành tựu sự tự chủ và chân thật, chính người ấy mới xứng đáng với tấm y cà-sa.
124.
124.
124.
Samappito puthusallena nāgo, aduṭṭhacitto luddakamajjhabhāsi;
Kimatthayaṃ kissa vā samma hetu, mamaṃ vadhī kassa vāyaṃ payogo.
The elephant king, struck by the large arrow, with a mind free from malice, spoke to the hunter: 'Friend, for what purpose, or for what reason, did you strike me? Or at whose instigation was this done?'
Bị trúng mũi tên lớn, vua voi với tâm không sân hận, nói với người thợ săn: ‘Này bạn, vì mục đích gì, hay vì lý do gì mà ngươi giết ta? Hành động này là do ai sai khiến?’
125.
125.
125.
Kāsissa rañño mahesī bhadante, sā pūjitā rājakule subhaddā;
Taṃ addasā sā ca mamaṃ asaṃsi, dantehi atthoti ca maṃ † avoca.
Venerable sir, the chief queen of the King of Kāsī is Subhaddā; she is honored in the royal family. She saw you and informed me, and she said to me, 'I have need of the tusks.'
‘Thưa ngài, hoàng hậu của vua xứ Kāsi, tên là Subhaddā, bà ấy được tôn kính trong hoàng tộc. Bà ấy đã thấy ngài trong mộng và đã nói với tôi, bảo rằng: ‘Ta cần cặp ngà của voi ấy’.’
126.
126.
126.
Bahū hi me dantayugā uḷārā, ye me pitūnañca † pitāmahānaṃ;
Jānāti sā kodhanā rājaputtī, vadhatthikā veramakāsi bālā.
Many are the excellent pairs of tusks of my fathers and grandfathers. That princess, prone to anger, knows of them. Desiring to kill, the foolish one has conceived this enmity.
‘Ta có nhiều cặp ngà quý giá của cha và ông ta. Nàng công chúa hay sân hận đó biết rõ điều này. Kẻ ngu si ấy, vì muốn giết ta, đã gây ra mối oan trái này.’
127.
127.
127.
Uṭṭhehi tvaṃ ludda kharaṃ gahetvā, dante ime chinda purā marāmi;
Vajjāsi taṃ kodhanaṃ rājaputtiṃ, ‘‘nāgo hato handa imassa dantā’’.
Arise, O hunter, and taking a saw, cut off these tusks before I die. You should say to that princess who is prone to anger: ‘The elephant king is slain! Behold, these are his tusks!’
‘Này người thợ săn, ngươi hãy đứng dậy, lấy cưa và cắt cặp ngà này trước khi ta chết. Ngươi hãy nói với nàng công chúa hay sân hận đó rằng: ‘Vua voi đã bị giết, đây là ngà của nó’.’
128.
128.
128.
Uṭṭhāya so luddo kharaṃ gahetvā, chetvāna dantāni gajuttamassa;
Vaggū subhe appaṭime pathabyā, ādāya pakkāmi tato hi khippaṃ.
Having arisen, that hunter, taking a saw, and having cut the tusks of the most excellent elephant—lovely, splendid, and incomparable on earth—took them and quickly departed from there.
Người thợ săn đó đứng dậy, lấy cưa, và sau khi cắt cặp ngà của vua voi—cặp ngà đẹp đẽ, tốt lành, vô song trên cõi đất—y đã lấy chúng và nhanh chóng rời khỏi nơi đó.
129.
129.
129.
Bhayaṭṭitā † nāgavadhena aṭṭā, ye te nāgā aṭṭha disā vidhāvuṃ;
Adisvāna † posaṃ gajapaccamittaṃ, paccāgamuṃ yena so nāgarājā.
Afflicted by fear and distressed by the slaying of the elephant, those elephants who had fled in the eight directions, not seeing the man who was the elephant's enemy, returned to the place where the elephant king was.
Những con voi đã chạy tán loạn tám hướng, bị nỗi sợ hãi xâm chiếm và đau khổ vì vua voi bị giết, khi không thấy kẻ thù của voi là con người, chúng đã quay trở lại nơi vua voi đang ở.
130.
130.
130.
Te tattha kanditvā roditvāna † nāgā, sīse sake paṃsukaṃ okiritvā;
Agamaṃsu te sabbe sakaṃ niketaṃ, purakkhatvā mahesiṃ sabbabhaddaṃ.
There those elephants, having lamented and wept, and having scattered dust upon their own heads, all went to their own abode, placing the chief queen, Sabbabhaddā, at their head.
Tại nơi đó, những con voi ấy kêu than và khóc lóc, rắc bụi đất lên đầu mình. Tất cả chúng đưa voi hậu Sabbabhaddā đi trước, rồi trở về chỗ ở của mình.
131.
131.
131.
Ādāya dantāni gajuttamassa, vaggū subhe appaṭime pathabyā;
Suvaṇṇarājīhi samantamodare, so luddako kāsipuraṃ upāgami;
Upanesi so rājakaññāya dante, nāgo hato handa imassa dantā.
Taking the tusks of the most excellent elephant—lovely, splendid, incomparable on earth, and radiant all around with golden streaks—that hunter approached the city of Kāsi. He presented the tusks to the royal princess, saying: ‘The elephant king is slain! Behold, these are his tusks!’
Mang theo cặp ngà của vua voi—cặp ngà đẹp đẽ, tốt lành, vô song trên cõi đất, tỏa sáng xung quanh với những tia vàng—người thợ săn đó đã đi đến thành Kāsi. Y dâng cặp ngà cho công chúa và nói: ‘Vua voi đã bị giết, đây là ngà của nó’.
132.
132.
132.
Disvāna dantāni gajuttamassa, bhattuppiyassa purimāya jātiyā;
Tattheva tassā hadayaṃ aphāli, teneva sā kālamakāsi bālā.
Upon seeing the tusks of the most excellent elephant, her beloved husband in a former birth, her heart broke then and there. For that very reason, that foolish woman died.
Khi nhìn thấy cặp ngà của vua voi, người chồng thân yêu của mình trong tiền kiếp, ngay tại đó, trái tim của bà ta đã tan vỡ. Chính vì lý do đó, kẻ ngu si ấy đã qua đời.
133.
133.
133.
Sambodhipatto sa † mahānubhāvo, sitaṃ akāsi parisāya majjhe;
Pucchiṃsu bhikkhū suvimuttacittā, nākāraṇe pātukaronti buddhā.
He of great power, having attained perfect enlightenment, smiled in the midst of the assembly. The bhikkhus, their minds well-liberated, asked, for Buddhas do not smile without a reason.
Bậc đã chứng ngộ Chánh Đẳng Giác, bậc có đại oai lực, đã mỉm cười giữa hội chúng. Các Tỳ-khưu có tâm giải thoát hoàn toàn đã bạch hỏi, vì chư Phật không mỉm cười mà không có nguyên nhân.
134.
134.
134.
Yamaddasātha dahariṃ kumāriṃ, kāsāyavatthaṃ anagāriyaṃ carantiṃ;
Sā kho tadā rājakaññā ahosi, ahaṃ tadā nāgarājā ahosiṃ.
That young maiden whom you saw, wearing the dyed robe and faring in the homeless life—she, indeed, was the royal princess at that time, and I, at that time, was the elephant king.
‘Cô gái trẻ mà các ông đã thấy, đang ở tuổi thanh xuân, mặc y cà-sa, sống đời không nhà, chính cô ấy vào lúc đó là nàng công chúa. Còn Ta, vào lúc đó, chính là vua voi.’
135.
135.
135.
Ādāya dantāni gajuttamassa, vaggū subhe appaṭime pathabyā;
Yo luddako kāsipuraṃ upāgami, so kho tadā devadatto ahosi.
The hunter who, taking the tusks of the most excellent elephant—lovely, splendid, and incomparable on earth—approached the city of Kāsi, he, indeed, was Devadatta at that time.
‘Người thợ săn đã lấy cặp ngà đẹp đẽ, tốt lành, vô song trên cõi đất của vua voi và đi đến thành Kāsi, chính người đó vào lúc đó là Devadatta ngày nay.’
136.
136.
136.
Anāvasūraṃ cirarattasaṃsitaṃ, uccāvacaṃ † caritamidaṃ purāṇaṃ;
Vītaddaro vītasoko visallo, sayaṃ abhiññāya abhāsi buddho.
This ancient conduct, high and low, practiced for a long time and clearly recalled, the Buddha—free from distress, free from sorrow, and without darts—spoke of, having realized it for himself through direct knowledge.
Đức Phật, bậc không còn phiền não, không còn sầu muộn, không còn mũi tên phiền não, sau khi tự mình thắng tri, đã thuyết giảng về hạnh xưa cao thấp này, vốn đã quen thuộc trong đêm dài luân hồi, (một cách rõ ràng) như thể nhớ lại việc làm buổi sáng trước khi mặt trời lặn.
137.
137.
137.
Ahaṃ vo tena kālena, ahosiṃ tattha bhikkhavo;
Nāgarājā tadā homi †, evaṃ dhāretha jātakanti.
O bhikkhus, at that time I was there. I was the elephant king then. Thus should you remember the Jātaka.
‘Này các Tỳ-khưu, vào thời đó, tại nơi đó, chính là Ta. Lúc đó, Ta là vua voi. Các ông hãy ghi nhớ câu chuyện tiền thân này như vậy.’
Chaddantajātakaṃ catutthaṃ.
The Chaddanta Jātaka, the Fourth.
Chuyện Tiền Thân Chaddanta, Phẩm Thứ Tư.