Bản dịch
JA 513 — Chuyện vương tử chiến thắng (Tiền thân Jayaddisa)
3. Jayaddisajātaka
2776. “Quả thật đã lâu lắm mới có một bữa ăn thịnh soạn sanh lên cho ta hôm nay, vào bữa ăn lần thứ bảy. Ngươi từ đâu đến? Hoặc ngươi là ai? Nào, hãy nói ra điều ấy. Hãy khai báo dòng dõi như ngươi đã được biết.”
2777. “Trẫm là vua xứ Pañcāla tên Jayaddisa đang đi săn thú, nếu ngươi đã được nghe tin. Trẫm lang thang ở các đầm lầy và các khu rừng. Hôm nay, ngươi hãy ăn thịt con hươu này và hãy thả trẫm ra.”
2778. “Trong khi bị hãm hại, ngài đánh đổi mạng sống bằng chính vật sở hữu của mình. Con hươu này sẽ là thức ăn của ta là điều ngài nói. Ta sẽ ăn ngài là vật nên ăn (trước), còn con hươu kém ngon hơn ta sẽ ăn sau. Giờ không phải là lúc nói nhảm.”
2779. “Không có việc trốn tránh đối với sự đánh đổi của trẫm. Trẫm ra đi rồi sau đó trở lại vào sáng sớm ngày mai. Là người bảo vệ sự chân thật, sau khi bàn giao cho vị Bà-la-môn điều đã được thỏa thuận ấy, trẫm sẽ quay trở lại.”
2780. “Này đức vua, việc gì khiến ngài lo lắng, khi ngài đã đến bên cạnh cái chết? Hãy nói việc ấy với ta, thậm chí ta có thể cho phép ngài quay lại vào sáng sớm ngày mai.”
2781. “Sự mong mỏi tài sản của vị Bà-la-môn đã được thực hiện bởi trẫm, và điều đã được thỏa thuận ấy còn bị vướng lại, chưa được tháo gỡ. Là người bảo vệ sự chân thật, trẫm sẽ bàn giao cho vị Bà-la-môn điều đã được thỏa thuận ấy, rồi sẽ quay trở lại.”
2782. “Về sự mong mỏi tài sản của vị Bà-la-môn đã được thực hiện bởi ngài, và điều đã được thỏa thuận ấy còn bị vướng lại, chưa được tháo gỡ. Là người bảo vệ sự chân thật, ngài hãy bàn giao cho vị Bà-la-môn điều đã được thỏa thuận ấy, rồi hãy quay trở lại.”
2783. Và vị vua ấy đã được thoát khỏi vòng tay của kẻ ăn thịt người. Vị có sự đeo đuổi ước muốn, sau khi di đến cung điện của mình, đã bàn giao cho vị Bà-la-môn điều đã được thỏa thuận ấy, rồi đã nói với hoàng tử Alīnasatta rằng:
2784. “Nội trong ngày hôm nay, con hãy làm lễ đăng quang vương quyền và luật pháp ở trong các xứ sở và luôn cả ở nơi các người dân. Và con chớ có các hành động bất công trong xứ sở, trẫm sẽ đi đến nơi ở của kẻ ăn thịt người.”
2785. “Tâu phụ vương, con đã không làm cho phụ vương hài lòng trong khi làm công việc gì dưới quyền của phụ vương? Để rồi hôm nay phụ vương sẽ đưa con lên làm vua, con mong được nghe về điều ấy. Con không mong muốn ngay cả vương quyền, nhưng thiếu vắng phụ vương.”
2786. “Này con thương, vào lúc này trẫm không nhớ đến lỗi lầm gì do hành động hay do chính lời nói của con. Là người bảo vệ sự chân thật, sau khi thực hiện điều cam kết với kẻ ăn thịt người, trẫm sẽ quay trở lại.”
2787. “Con sẽ đi, phụ vương hãy ở lại tại nơi này. Không có sự phóng thích đối với người còn sống từ nơi kẻ ấy. Tâu phụ vương, nếu phụ vương đi, con cũng đi nữa. Hãy để cả hai không còn tồn tại.”
2788. “Này con thương, quả đúng thế, điều này là bản thể của các hiền nhân. Việc ấy đối với trẫm còn khổ sở hơn là cái chết, là vào lúc gã Kammāsapāda xuyên thủng con ở nơi cọc gỗ, nướng chín, rồi dùng bạo lực nhai ngấu nghiến.”
2789. “Con có thể trao đổi mạng sống của phụ vương bằng mạng sống (của con). Phụ vương chớ đi đến nơi ở của kẻ ăn thịt người. Và con có thể trao đổi mạng sống này cho phụ vương, vì điều ấy, con chọn cái chết cho sự sống còn (của phụ vương).”
2790. Thật vậy, sau đó, vị hoàng tử dũng cảm đã đảnh lễ hai bàn chân của mẫu hậu và phụ vương. Người mẹ, khổ đau, đã ngã quỵ xuống đất, còn người cha đã đưa hai cánh tay lên, khóc lóc.
2791. Cho đến lúc biết được người con ấy đang bước đi, người cha, với mặt quay hướng khác, chắp tay lên, đảnh lễ các vị: Vua Soma, Vua Varuṇa, Thần Pajāpatī, Mặt Trăng, và Mặt Trời. “Này con thương, được các vị này bảo vệ, được cho phép từ kẻ ăn thịt người, con hãy trở về bình yên.”
2792. “(Có câu chuyện) một người mẹ khéo được bảo vệ đã tạo ra sự bình yên cho Roma (con mình), là kẻ đã đi vào khu rừng Daṇḍaka; vậy hãy để mẹ tạo ra sự bình yên ấy cho con; do sự chân thật này, mong rằng chư Thiên hãy ghi nhớ. Này con trai, được cho phép, con hãy trở về bình yên.”
2793. “Tôi nhớ một cách chắc chắn là tôi đã không có ác ý nào đối với anh trai Alīnasatta (của tôi), dầu là lộ liễu hay kín đáo; do sự chân thật này, mong rằng chư Thiên hãy ghi nhớ. Này anh trai, được cho phép, anh hãy trở về bình yên.”
2794. “Thưa tướng công, bởi vì chàng không có ý phụ bạc thiếp, và thiếp cũng không có ý nghĩ không yêu thương chàng; do sự chân thật này, mong rằng chư Thiên hãy ghi nhớ. Thưa tướng công, được cho phép, tướng công hãy trở về bình yên.”
2795. “Ngươi cao to, ngay thẳng, có khuôn mặt khôi ngô, ngươi từ nơi nào đến? Ngươi không biết lão đang cư ngụ ở khu rừng hay sao? Sau khi biết được lão là kẻ hung bạo có biệt hiệu ‘kẻ ăn thịt người,’ người nào còn quan tâm đến sự bình yên, sao lại có thể đi đến nơi này?”
2796. “Này kẻ hung bạo, ta biết ngươi là kẻ ăn thịt người. Không phải ta không biết ngươi đang cư ngụ ở khu rừng. Và ta là con trai của vua Jayaddisa. Vì việc giải thoát cho người cha, nên hôm nay, ngươi hãy ăn thịt ta.”
2797. “Lão biết là ‘con trai’ của Jayaddisa, bởi vì khuôn mặt và vóc dáng của cả hai người các ngươi là giống nhau. Việc đã làm này của ngươi quả là việc làm vô cùng khó khăn, là một người có thể chấp nhận cái chết vì việc giải thoát cho người cha.”
2798. “Ta nghĩ rằng bất cứ việc gì ở đây không phải là việc khó làm, là một người có thể chấp nhận cái chết vì việc giải thoát cho người cha và vì nguyên nhân của người mẹ, (người ấy) sau khi đi đến thế giới khác, sẽ đạt được hạnh phúc và cõi Trời.
2799. Và thật vậy, ta nhớ một cách chắc chắn rằng bản thân ta không có bất cứ hành động xấu xa nào, dầu là lộ liễu hay kín đáo. Ta bị tạo tác bởi sanh và tử. Ở kiếp này, của ta là như thế nào thì ở kiếp sau sẽ là như vậy.
2800. Này lão có đại năng lực, lão hãy ăn thịt ta ngày hôm nay, vào lúc này. Lão hãy làm các việc cần phải làm với thân xác này. Hay là ta rơi xuống từ chóp đỉnh của thân cây cho lão. Trong khi hứng thú, lão hãy ăn phần thịt của ta.”
2801. “Này hoàng tử, và việc này được ngươi ưa thích. Ngươi từ bỏ mạng sống vì việc giải thoát cho người cha. Vì thế, ở đây ngươi có vẻ gấp gáp. Ngươi hãy bẻ gãy các nhánh củi rồi đốt lên ngọn lửa.”
2802. Thật vậy, sau đó, vị hoàng tử dũng cảm đã gom lại các khúc gỗ và đốt cháy ngọn lửa lớn, rồi đã thông báo rằng: ‘Bây giờ, ngọn lửa lớn này đã được đốt cháy.’
2803. “Lão hãy ăn thịt ta ngày hôm nay, vào lúc này, bằng hành động bạo lực. Việc gì mà lão lén nhìn ta, (sửng sốt) có lông dựng đứng? Ta làm cho lão thế này thế nọ để cho lão hứng thú ăn thịt ta.”
2804. “Ai xứng đáng để ăn thịt người vững vàng về đạo đức, có lời nói chân thật, rộng lượng như thế ấy? Kẻ nào ăn thịt người có lời nói chân thật như thế ấy, thậm chí cái đầu của kẻ ấy cũng có thể vỡ tan thành bảy mảnh.”
2805. “Trong khi nghĩ rằng: ‘Người này là Bà-la-môn,’ con thỏ ấy đã quyết định bố thí thân thể của mình; chính vì thế, vị Thiên tử Mặt Trăng ấy, được ngợi khen về (hình bóng) con thỏ, ngày nay là vị Dạ-xoa có nguồn ban phát các điều mong muốn.”
2806. “Giống như mặt trăng được thoát khỏi miệng của thần Rāhu (nguyệt thực) chiếu sáng vào ngày rằm, tựa như mặt trời, tương tự như vậy, này vị hoàng tử có đại năng lực, được thoát khỏi kẻ ăn thịt người, ngài hãy chiếu sáng xứ sở Kampilla. Trong lúc làm cha và mẹ hoan hỷ, ngài hãy để cho toàn bộ nhóm thân quyến của ngài vui mừng.”
2807. Thật vậy, sau đó, vị hoàng tử dũng cảm đã chắp tay lại, đi vòng quanh kẻ ăn thịt người. Được cho phép, hoàng tử Alīnasatta đã trở về lại thành Kampilla bình yên, hạnh phúc, khỏe mạnh.
2808. Tất cả các thị dân và dân chúng cỡi ngựa, đi xe, và đi bộ, đã đến gần vị hoàng tử ấy, chắp tay, bày tỏ sự tôn kính: ‘Kính lễ đến ngài. Ngài là người làm công việc khó khăn.’”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
513. Jayaddisajātakaṃ (3)
513. The Jayaddisa Jātaka (3)
513. Chuyện Bổn sanh Jayaddisa (3)
64.
64.
64.
Cirassaṃ vata me udapādi ajja, bhakkho mahā sattamibhattakāle;
Kutosi ko vāsi tadiṅgha brūhi, ācikkha jātiṃ vidito yathāsi.
Indeed, after a long time, a great meal has appeared for me today, at mealtime on my seventh day of fasting. From where have you come? Who are you? Come now, tell me! Declare your lineage, that you may be known.
Than ôi, đã lâu lắm rồi! Hôm nay, vào ngày thứ bảy không có thức ăn, một món ăn tuyệt hảo đã xuất hiện cho ta. Ngươi từ đâu đến? Ngươi là ai? Nào, hãy nói đi! Hãy cho ta biết dòng dõi của ngươi để ta được biết.
65.
65.
65.
Pañcālarājā migavaṃ paviṭṭho, jayaddiso nāma yadissuto te;
Carāmi kacchāni vanāni cāhaṃ, pasadaṃ imaṃ khāda mamajja muñca.
I am the king of Pañcāla, who has entered the deer-forest. I am Jayaddisa by name, if you have heard of me. I roam the thickets and the forests. Eat this spotted deer; release me today.
Ta là vua xứ Pañcāla, đã đi vào rừng săn. Tên ta là Jayaddisa, nếu ngươi đã từng nghe. Ta đi lang thang qua các vùng đầm lầy và rừng rậm. Hôm nay, hãy ăn con nai này và thả ta ra.
66.
66.
66.
Seneva tvaṃ paṇasi sassamāno †, mamesa bhakkho pasado yaṃ vadesi;
Taṃ khādiyāna pasadaṃ jighaññaṃ †, khādissaṃ pacchā na vilāpakālo.
Desiring to overcome me, you try to bargain with my own property. This spotted deer you speak of is my food. Having first eaten that spotted deer, I will then eat you afterwards. This is no time for lamentation.
Ngươi đang cố mặc cả với ta bằng chính tài sản của ta. Con nai mà ngươi bảo ta ăn này là thức ăn của ta. Sau khi ăn con nai đó, vì vẫn còn đói, ta sẽ ăn ngươi sau. Đây không phải là lúc để than khóc.
67.
67.
67.
Na catthi mokkho mama nikkayena †, gantvāna paccāgamanāya paṇhe;
Taṃ saṅkaraṃ † brāhmaṇassappadāya, saccānurakkhī punarāvajissaṃ.
O yakkha, there is no release for me by ransom. Let me go, on my promise to return tomorrow. Having fulfilled the promise I made to the brahmin, guarding the truth, I will come back again.
Ta không thể được giải thoát bằng cách chuộc mạng. Hãy để ta đi để trở về vào ngày mai. Sau khi hoàn thành lời hứa với vị Bà la môn, ta sẽ trở lại, giữ gìn lời chân thật của mình.
68.
68.
68.
Kiṃ kammajātaṃ anutappate tvaṃ †, pattaṃ samīpaṃ maraṇassa rāja;
Ācikkha me taṃ api sakkuṇemu, anujānituṃ āgamanāya paṇhe.
What deed do you regret, O king, you who have come near to death? Tell me of it. Having heard it, perhaps we might be able to permit you to return tomorrow.
Tâu Đại vương, ngài đã đến gần cái chết, vậy ngài còn hối tiếc về việc gì đã làm? Hãy nói cho ta biết. Sau khi nghe xong, có lẽ chúng ta có thể cho phép ngài đi để trở lại vào ngày mai.
69.
69.
69.
Katā mayā brāhmaṇassa dhanāsā, taṃ saṅkaraṃ paṭimukkaṃ na muttaṃ;
Taṃ saṅkaraṃ brāhmaṇassappadāya, saccānurakkhī punarāvajissaṃ.
O yakkha, I created a desire for wealth in a brahmin. That promise is bound to me and not yet released. Having fulfilled that promise to the brahmin, guarding the truth, I will return again.
Ta đã gieo hy vọng về của cải cho một vị Bà la môn; lời hứa đó vẫn còn ràng buộc, chưa được giải thoát. Sau khi hoàn thành lời hứa với vị Bà la môn, ta sẽ trở lại, giữ gìn lời chân thật của mình.
70.
70.
70.
Yā te katā brāhmaṇassa dhanāsā, taṃ saṅkaraṃ paṭimukkaṃ na muttaṃ;
Taṃ saṅkaraṃ brāhmaṇassappadāya, saccānurakkhī punarāvajassu.
That desire for wealth you created in the brahmin, that promise which is bound and not yet released—having fulfilled that promise to the brahmin, guarding the truth, you may return.
Hy vọng về của cải mà ngài đã gieo cho vị Bà la môn, lời hứa đó vẫn còn ràng buộc, chưa được giải thoát. Sau khi hoàn thành lời hứa với vị Bà la môn, hãy trở lại, giữ gìn lời chân thật của ngài.
71.
71.
71.
Mutto ca so porisādassa † hatthā, gantvā sakaṃ mandiraṃ kāmakāmī;
Taṃ saṅkaraṃ brāhmaṇassappadāya, āmantayī puttamalīnasattaṃ †.
And he, freed from the hands of the man-eater, went to his own palace, a place of sensual delights. Having fulfilled that promise to the brahmin, he addressed his son, Alīnasatta.
Được giải thoát khỏi tay của quỷ ăn thịt người, vị vua ấy, người ưa thích dục lạc, đã trở về cung điện của mình. Sau khi hoàn thành lời hứa với vị Bà la môn, ngài gọi con trai mình là Alīnasattu.
72.
72.
72.
Ajjeva rajjaṃ abhisiñcayassu, dhammaṃ cara sesu paresu cāpi;
Adhammakāro ca te māhu raṭṭhe, gacchāmahaṃ porisādassa ñatte †.
My son, have yourself consecrated for the kingdom this very day. Practice the Dhamma towards yourself and others. Let there be no unrighteous action in your kingdom. I am going to the presence of the man-eater.
Ngay hôm nay, con hãy làm lễ đăng quang. Hãy thực hành Chánh pháp đối với quyến thuộc và những người khác. Mong rằng trong vương quốc của con không có người làm điều phi pháp. Ta phải đi đến chỗ của quỷ ăn thịt người.
73.
73.
73.
Kiṃ kamma kubbaṃ tava deva pāva †, nārādhayī taṃ tadicchāmi sotuṃ;
Yamajja rajjamhi udassaye tuvaṃ, rajjampi niccheyyaṃ tayā vināhaṃ.
What evil deed have I done, O lord, that I have failed to please you? I wish to hear it. For what reason do you establish me in the kingdom today? Without you, I would not desire even the kingdom.
Tâu Phụ hoàng, con đã làm điều gì sai trái khiến ngài không hài lòng? Con muốn được nghe điều đó. Vì sao hôm nay ngài lại đặt con lên ngôi báu? Vắng phụ hoàng, con cũng không muốn có vương quốc.
74.
74.
74.
Na kammunā vā vacasā va tāta, aparādhitohaṃ tuviyaṃ sarāmi;
Sandhiñca † katvā purisādakena, saccānurakkhī punāhaṃ gamissaṃ.
Dear son, I do not recall any offense from you, either by deed or by word. But having made a pact with the man-eater, and wishing to guard my promise, I will go again.
Này con, ta không nhớ con đã phạm lỗi gì với ta, dù bằng hành động hay lời nói. Nhưng ta đã lập một lời hứa với quỷ ăn thịt người, và để giữ gìn lời chân thật, ta phải đi một lần nữa.
75.
75.
75.
Ahaṃ gamissāmi idheva hohi, natthi tato jīvato vippamokkho;
Sace tuvaṃ gacchasiyeva rāja, ahampi gacchāmi ubho na homa.
I shall go; you stay here. From there, there is no escape alive. If you insist on going, O king, then I too shall go, lest we both perish.
Con sẽ đi, phụ hoàng hãy ở lại đây. Từ nơi đó, không có sự giải thoát cho người còn sống. Nếu ngài vẫn đi, tâu Đại vương, thì con cũng sẽ đi. Nhưng chúng ta không thể đi cả hai.
76.
76.
76.
Addhā hi tāta satānesa dhammo, maraṇā ca me dukkhataraṃ tadassa;
Kammāsapādo taṃ yadā pacitvā, pasayha khāde bhidā rukkhasūle.
Truly, dear son, this is the nature of the good. But it would be more painful for me than my own death when Kammāsapāda, having impaled you on a sharp wooden stake, roasts and violently devours you.
Này con, quả thật đó là pháp của người hiền. Nhưng cái chết của con sẽ đau khổ hơn cái chết của ta, khi Kammāsapāda xiên con trên cọc cây, quay nướng rồi dùng vũ lực ăn thịt con.
77.
77.
77.
Pāṇena te pāṇamahaṃ nimissaṃ, mā tvaṃ agā porisādassa ñatte;
Etañca te pāṇamahaṃ nimissaṃ, tasmā mataṃ jīvitassa vaṇṇemi †.
I will exchange my life for your life; do not go into the presence of the man-eater. This life of mine I will exchange for yours. Therefore, for the sake of your life, I welcome my own death.
Con sẽ đổi mạng sống của con lấy mạng sống của phụ hoàng. Xin phụ hoàng đừng đi đến chỗ của quỷ ăn thịt người. Con sẽ đổi mạng sống này lấy mạng sống của phụ hoàng. Vì vậy, vì sự sống của phụ hoàng, con mong muốn cái chết.
78.
78.
78.
Tato have dhitimā rājaputto, vanditvā mātu ca pitu ca † pāde;
Dukhinissa mātā nipatā † pathabyā, pitāssa paggayha bhujāni kandati.
Then indeed the resolute prince, having venerated the feet of his mother and father, departed. His grieving mother fell to the earth; his father, raising his arms, lamented.
Khi ấy, vị hoàng tử kiên định, sau khi đảnh lễ dưới chân cha và mẹ, đã ra đi. Mẹ của chàng, đau khổ, ngã xuống đất. Cha của chàng giơ hai tay lên trời mà than khóc.
79.
79.
79.
Taṃ gacchantaṃ tāva pitā viditvā, parammukho vandati pañjalīko;
Somo ca rājā varuṇo ca rājā, pajāpatī candimā sūriyo ca;
Etehi gutto purisādakamhā, anuññāto sotthi paccehi tāta.
Then his father, seeing him departing, with face turned away and hands in reverence, made this prayer: 'King Soma and King Varuṇa, Pajāpati, the Moon, and the Sun—may you, dear son, protected by these gods, be permitted release from the man-eater and return in safety.'
Khi thấy con trai đang quay lưng ra đi, người cha chắp tay vái lạy các vị trời: 'Vua Soma, vua Varuṇa, và Prajāpati, cùng với Nguyệt thiên và Nhật thiên. Mong con được các vị này bảo vệ, được quỷ ăn thịt người tha cho. Này con, hãy trở về bình an.'
80.
80.
80.
Yaṃ daṇḍakirañño gatassa † mātā, rāmassakāsi sotthānaṃ suguttā;
Taṃ te ahaṃ sotthānaṃ karomi, etena saccena sarantu devā;
Anuññāto sotthi paccehi putta.
Just as the well-guarded mother of Rāma, who had gone to King Daṇḍaki, performed a blessing for his safety, that same blessing for safety I now perform for you. By this truth, may the gods be mindful! Permitted, may you return in safety, my son.
Sự bình an mà mẹ của Rāma, người được bảo vệ tốt, đã thực hiện cho con trai khi chàng đi đến vương quốc của vua Daṇḍaki; ta cũng thực hiện sự bình an đó cho con. Nhờ sự thật này, mong chư thiên hãy ghi nhớ. Này con, mong con được tha cho và trở về bình an.
81.
81.
81.
Āvī raho vāpī manopadosaṃ, nāhaṃ sare jātu malīnasatte;
Etena saccena sarantu devā, anuññāto sotthi paccehi bhātika †.
Never, either openly or in secret, do I recall any mental defilement towards Alīnasatta. By this truth, may the gods be mindful! Permitted, may you return in safety, O brother.
Đối với Alīnasatta, dù ở nơi công khai hay nơi kín đáo, tôi không bao giờ nhớ mình đã có một ý nghĩ xấu nào. Nhờ sự thật này, mong chư thiên hãy ghi nhớ. Mong anh được tha cho và trở về bình an, hỡi người anh em.
82.
82.
82.
Yasmā ca me anadhimanosi sāmi, na cāpi me manasā appiyosi;
Etena saccena sarantu devā, anuññāto sotthi paccehi sāmi.
Because, my lord, you have never been unfaithful to me, and nor are you unloved by me even in my mind; by this truth, may the gods be mindful! Permitted, may you return in safety, my lord.
Thưa Phu quân, bởi vì ngài không bao giờ coi thường thiếp, và thiếp cũng chưa từng không yêu mến ngài trong tâm tưởng. Nhờ sự thật này, mong chư thiên hãy ghi nhớ. Mong Phu quân được tha cho và trở về bình an.
83.
83.
83.
Brahā ujū cārumukho kutosi, na maṃ pajānāsi vane vasantaṃ;
Luddaṃ maṃ ñatvā ‘‘purisādako’’ti, ko sotthi mājānamidhā’vajeyya.
You are of great and upright body, with a charming face. From where have you come? Do you not know me, who dwells in the forest? Knowing me to be fierce, a 'man-eater,' what person, desiring their well-being, would come here?
Ngươi to lớn, ngay thẳng, có khuôn mặt xinh đẹp, ngươi từ đâu đến? Ngươi không biết ta sống trong rừng này sao? Biết ta là kẻ tàn bạo, một 'kẻ ăn thịt người', ai mà lại đến đây mong cầu sự an lành?
84.
84.
84.
Jānāmi ludda purisādako tvaṃ, na taṃ na jānāmi vane vasantaṃ;
Ahañca puttosmi jayaddisassa, mamajja khāda pituno pamokkhā.
I know, O fierce one, that you are a man-eater. It is not that I do not know you dwelling in the forest. I am the son of Jayaddisa. Eat me today for the sake of my father's release.
Hỡi kẻ tàn bạo, ta biết ngươi là kẻ ăn thịt người. Không phải là ta không biết ngươi sống trong rừng. Ta là con trai của vua Jayaddisa. Hôm nay hãy ăn thịt ta để giải thoát cho cha ta.
85.
85.
85.
Jānāmi puttoti † jayaddisassa, tathā hi vo mukhavaṇṇo ubhinnaṃ;
Sudukkaraññeva † kataṃ tavedaṃ, yo mattumicche pituno pamokkhā.
I know you are the son of Jayaddisa, for indeed the facial appearance of you both is the same. A very difficult deed has been done by you, who desires to die for the sake of your father's release.
Ta biết ngươi là con trai của Jayaddisa, vì quả thật, diện mạo của cả hai cha con ngươi đều giống nhau. Việc ngươi làm đây thật là khó làm thay, khi ngươi muốn chết để giải thoát cho cha mình.
86.
86.
86.
Na dukkaraṃ kiñci mahettha maññe, yo mattumicche pituno pamokkhā;
Mātu ca † hetu paraloka gantvā †, sukhena saggena ca sampayutto.
I consider nothing here difficult for myself. One who desires to die for his father's release and for his mother's sake, having gone to the next world, is endowed with heavenly happiness.
Ta chẳng nghĩ có gì khó làm ở đây, đối với người vì muốn giải thoát cho cha, và vì mẹ, sau khi sang thế giới bên kia, được kết hợp với hạnh phúc cõi trời.
87.
87.
87.
Ahañca kho attano pāpakiriyaṃ, āvī raho vāpi sare na jātu;
Saṅkhātajātīmaraṇohamasmi, yatheva me idha tathā parattha.
As for me, I never recall any evil action of my own, whether in public or in private. I am one who has fully comprehended birth and death; just as it is for me here, so it is in the hereafter.
Còn ta, dù ở nơi công khai hay kín đáo, chưa từng nhớ đến hành động xấu ác nào của mình. Ta là người đã liễu tri sanh và tử. Cũng như ở đời này, ta không thể thoát khỏi cái chết, thì ở đời sau cũng vậy.
88.
88.
88.
Khādajja maṃ dāni mahānubhāva, karassu kiccāni imaṃ sarīraṃ;
Rukkhassa vā te papatāmi aggā, chādayamāno mayhaṃ tvamadesi maṃsaṃ.
Now eat me, O one of great power. Do what you will with this body. Or I shall fall for you from the top of a tree; desiring it, you may eat my flesh.
Hỡi ngài có đại oai lực, bây giờ hãy ăn thịt tôi đi, hãy làm những việc cần làm với thân này. Hoặc tôi sẽ gieo mình từ ngọn cây xuống, ngài cứ tùy ý ăn thịt của tôi.
89.
89.
89.
Idañca te ruccati rājaputta, cajesi † pāṇaṃ pituno pamokkhā;
Tasmā hi so † tvaṃ taramānarūpo, sambhañja kaṭṭhāni jalehi aggiṃ.
This is agreeable to you, O prince: you give up your life for the sake of your father's release. Therefore, acting quickly, break up the firewood and kindle the fire.
Hỡi vương tử, lời này của ngươi thật thích hợp. Ngươi đã từ bỏ mạng sống vì sự giải thoát của cha. Vì vậy, ngươi hãy nhanh chóng bẻ củi và nhóm lửa lên.
90.
90.
90.
Tato have dhitimā rājaputto, dāruṃ samāhatvā mahantamaggiṃ;
Sandīpayitvā paṭivedayittha, ādīpito dāni mahāyamaggi †.
Then indeed the resolute prince, having collected wood and kindled a great fire, announced: 'Now the great fire is lit!'
Khi ấy, vị vương tử kiên định, sau khi gom củi và đốt lên một ngọn lửa lớn, đã báo lại rằng: 'Này đại dạ-xoa, bây giờ ngọn lửa lớn đã được đốt lên'.
91.
91.
91.
Khādajja maṃ dāni pasayhakārī, kiṃ maṃ muhuṃ pekkhasi haṭṭhalomo;
Tathā tathā tuyhamahaṃ karomi, yathā yathā maṃ chādayamāno adesi.
O violent one, why do you look at me again and again with your hair standing on end? In whatever manner you wish to eat me, so shall I act. Eat me now!
Hỡi kẻ bạo ngược, bây giờ hãy ăn thịt tôi đi. Tại sao ngài cứ nhìn tôi mãi với lông tóc dựng đứng? Ngài muốn ăn tôi theo cách nào, tôi sẽ làm theo cách đó cho ngài.
92.
92.
92.
Ko tādisaṃ arahati khāditāye, dhamme ṭhitaṃ saccavādiṃ vadaññuṃ;
Muddhāpi tassa viphaleyya sattadhā, yo tādisaṃ saccavādiṃ adeyya.
Who would deserve to eat such a one, established in the Dhamma, a speaker of truth, and bountiful? The head of one who would eat such a speaker of truth would surely split into seven pieces.
Ai nỡ lòng nào ăn thịt một người như vậy, người an trú trong Chánh pháp, nói lời chân thật, và quảng đại? Kẻ nào ăn thịt một người nói lời chân thật như vậy, đầu của kẻ đó sẽ vỡ ra làm bảy mảnh.
93.
93.
93.
Idañhi so brāhmaṇaṃ maññamāno, saso avāsesi sake sarīre;
Teneva so candimā devaputto, sasatthuto † kāmaduhajja † yakkha.
Indeed, that hare, thinking him a brahmin, offered his own body. For that very reason, O Yakkha, that moon-god shines today, praised as 'the one with the hare,' fulfilling desires.
Hỡi dạ-xoa, vì con thỏ này, nghĩ (ngài) là một Bà-la-môn, đã dâng hiến chính thân mình. Do đó, vị thiên tử Mặt Trăng được ca ngợi là có hình con thỏ, và ban cho mọi điều ước muốn.
94.
94.
94.
Cando yathā rāhumukhā pamutto, virocate pannaraseva bhāṇumā †;
Evaṃ tuvaṃ porisādā pamutto, viroca kapile † mahānubhāva;
Āmodayaṃ pitaraṃ mātarañca, sabbo ca te nandatu ñātipakkho.
Just as the luminous moon, released from the mouth of Rāhu, shines on the fifteenth day, so you, released from the man-eater, shine forth in Kapila, O one of great power. Delighting your father and mother, may all your kinsfolk rejoice.
Như mặt trăng được thoát khỏi miệng Rahu, tỏa sáng vào ngày rằm như mặt trời; cũng vậy, hỡi ngài có đại oai lực, ngài được giải thoát khỏi kẻ ăn thịt người, hãy tỏa sáng ở xứ Kapila. Hãy làm cho cha mẹ vui mừng, và cầu cho tất cả quyến thuộc của ngài cũng được hoan hỷ.
95.
95.
95.
Tato have dhitimā rājaputto, katañjalī pariyāya † porisādaṃ;
Anuññāto sotthi sukhī arogo, paccāgamā † kapilamalīnasattā †.
Then indeed the resolute prince, Alīnasatta, having reverently folded his hands and taken leave of the man-eater, and having been given permission, returned to Kapila safely, happily, and in good health.
Khi ấy, vương tử Alīnasatta kiên định, chắp tay vái Porisāda, được cho phép, đã an toàn, an lạc, không bệnh tật trở về xứ Kapila.
96.
96.
96.
Taṃ negamā jānapadā ca sabbe, hatthārohā rathikā pattikā ca;
Namassamānā pañjalikā upāgamuṃ, namatthu te dukkarakārakosīti.
All the townspeople and country folk, the elephant-riders, charioteers, and foot-soldiers, approached him. Paying homage with folded hands, they said: 'Homage to you! You are a doer of difficult deeds!'
Tất cả dân chúng ở thị trấn và thôn quê, các kỵ sĩ voi, kỵ sĩ xe, và bộ binh, vừa đảnh lễ vừa chắp tay, đã đến gần ngài và nói: 'Xin đảnh lễ ngài, ngài là người đã làm một việc rất khó làm!'
Jayaddisajātakaṃ † tatiyaṃ.
The Jayaddisa Jātaka, the Third.
Kết thúc chuyện Bổn sanh Jayaddisa thứ ba.