Bản dịch
JA 512 — Chuyện bình rượu (Tiền thân Kumbha)
2. Kumbhajātaka
2745. “Ngài là ai mà đến từ Thiên cung và hiện ra ở trên bầu trời? Ngài đang chiếu sáng đêm đen tựa như mặt trăng. Các hào quang phát ra từ thân thể của ngài tựa như tia chớp Sateritā ở không trung.
2746. Ngài đây lướt gió bước đi ở bầu trời. Ngài đi và đứng ở không trung. Thần thông của ngài đã được tạo thành nền tảng, đã khéo được phát triển, phải chăng nó không thuộc về các khách lữ hành, mà thuộc về chư Thiên?
2747. Ngài đã đi đến theo đường không trung rồi đứng lại. Và ngài nói rằng: ‘Bệ hạ hãy mua cái bình.’ Ngài là ai? Cái bình này là của ai? Thưa vị Bà-la-môn, xin ngài hãy giải thích ý nghĩa ấy cho trẫm.”
2748. “Nó không phải là bình bơ lỏng, cũng không phải là bình dầu, không phải là bình mật đường, không phải là bình mật ong. Các điều đáng chê trách của cái bình không phải là ít. Bệ hạ hãy lắng nghe nhiều tật xấu liên quan đến cái bình.
2749. Người uống vào thức uống này thì có thể đi loạng choạng, có thể té ngã vào vực thẳm, hố rãnh, hang hốc, hầm phân, và nơi ô uế, thậm chí có thể ăn nhiều thức không nên ăn. Quý vị hãy mua cái bình này, nó được chứa đầy thức uống ấy.
2750. Thật vậy, người uống vào thức uống này thì không còn làm chủ tâm trí, tựa như con bò đi lang thang gặm cỏ; trong lúc không còn tự chủ, lại còn ve vãn ca hát, và nhảy múa. Quý vị hãy mua cái bình này, nó được chứa đầy thức uống ấy.
2751. Thật vậy, người uống vào thức uống này thì giống như người lõa thể, không mặc y phục, rồi đi lang thang ở những đường lộ trong làng, có tâm trí bị đần độn, và ngủ quá mức bình thường. Quý vị hãy mua cái bình này, nó được chứa đầy thức uống ấy.
2752. Thật vậy, người uống vào thức uống này thì sau khi đứng dậy thường khuấy động, lúc lắc đầu, và vung vẩy cánh tay. Người ấy nhảy múa tựa như hình nhân múa rối bằng gỗ. Quý vị hãy mua cái bình này, nó được chứa đầy thức uống ấy.
2753. Thật vậy, những người uống vào thức uống này thì bị ngọn lửa thiêu đốt, nằm dài, rồi bị các chó rừng ăn thịt, đi đến tình trạng bị giam cầm, tử hình, và tiêu hao của cải. Quý vị hãy mua cái bình này, nó được chứa đầy thức uống ấy.
2754. Thật vậy, người uống vào thức uống này thì có thể nói điều không nên nói, ngồi ở cuộc hội họp không mặc y phục, tự làm cho lem luốc, đi đến ói mửa, bị suy sụp. Quý vị hãy mua cái bình này, nó được chứa đầy thức uống ấy.
2755. Thật vậy, người uống vào thức uống này thì kiêu ngạo, mắt bị đỏ ngầu, nghĩ rằng: ‘Toàn bộ trái đất thuộc về một mình ta, thậm chí vị vua cai trị bốn phương cũng không sánh bằng với ta.’ Quý vị hãy mua cái bình này, nó được chứa đầy thức uống ấy.
2756. (Thức uống này là vật tạo ra) ngã mạn và ngã mạn thái quá, các sự cãi cọ, các việc nói đâm thọc, các vóc dáng xấu xí, các sự lõa lồ, các sự trốn chạy, nó là đích đến, là chỗ trú của những kẻ trộm cướp, của những gã vô lại. Quý vị hãy mua cái bình này, nó được chứa đầy thức uống ấy.
2757. Bị lệ thuộc vào thức uống này, nhiều người làm tiêu tan thóc lúa, tài sản, bạc vàng, ruộng vườn, trâu bò. Thức uống này là sự phá hoại đối với những gia đình có của cải. Quý vị hãy mua cái bình này, nó được chứa đầy thức uống ấy.
2758. Có những gia đình giàu có, thịnh vượng, có tài sản nhiều ngàn tiền vàng ở thể gian, bị làm cho tiêu hoại phần gia tài thừa kế bởi vì thức uống này. Quý vị hãy mua cái bình này, nó được chứa đầy thức uống ấy.
2759. Sau khi uống vào thức uống này, người nam như là có dáng vẻ tồi bại, mắng nhiếc cha và mẹ, và có thể cưỡng ép mẹ vợ, rồi luôn cả con dâu. Quý vị hãy mua cái bình này, nó được chứa đầy thức uống ấy.
2760. Thật vậy, sau khi uống vào thức uống này, người nữ như là có dáng vẻ tồi bại, mắng nhiếc cha chồng và chồng, và có thể cưỡng ép đầy tớ trai, luôn cả người nam hầu cận. Quý vị hãy mua cái bình này, nó được chứa đầy thức uống ấy.
2761. Thật vậy, sau khi uống vào thức uống này, người nam có thể giết hại vị Sa-môn hay vị Bà-la-môn đã trú vào thiện pháp, do nguyên nhân ấy có thể đi đến cảnh giới khổ đau. Quý vị hãy mua cái bình này, nó được chứa đầy thức uống ấy.
2762. Thật vậy, sau khi uống vào thức uống này, nhiều người thực hành uế hạnh bằng thân, bằng lời, hoặc bằng ý; sau khi thực hành uế hạnh thì đi đến địa ngục. Quý vị hãy mua cái bình này, nó được chứa đầy thức uống ấy.
2763. Trước đây, trong khi bỏ ra nhiều vàng rồi yêu cầu kẻ nào đó (nói dối), nhưng không thành công, kẻ ấy (giờ đây), sau khi uống thức uống ấy, liền nói điều giả dối. Quý vị hãy mua cái bình này, nó được chứa đầy thức uống ấy.
2764. Thật vậy, sau khi uống vào thức uống này, kẻ được phái đi đưa tin vào lúc có công việc cần làm khẩn cấp sanh khởi, kẻ ấy cũng không biết ý nghĩa (lời nhắn gởi) khi được hỏi đến. Quý vị hãy mua cái bình này, nó được chứa đầy thức uống ấy.
2765. Ngay cả những người có tâm ý gắn bó với sự hổ thẹn, khi bị say sưa bởi chất say, cũng phô bày bản tánh không hổ thẹn. Ngay cả các bậc sáng trí, trong khi say sưa, cũng nói nhiều. Quý vị hãy mua cái bình này, nó được chứa đầy thức uống ấy.
2766. Thật vậy, sau khi uống vào thức uống này, nhiều người nằm một đống ở chỗ nằm khổ sở là nền đất cứng, không ăn uống, rồi đạt đến vóc dáng xấu xí và sự mất danh tiếng. Quý vị hãy mua cái bình này, nó được chứa đầy thức uống ấy.
2767. Thật vậy, sau khi uống vào thức uống này, nhiều người có thân hình bị đổ xuống, nằm dài, tựa như con bò bị đánh bởi cái búa tạ, bởi vì với rượu mạnh thì không còn sự mau mắn, dường như với người nam thì có sự khéo chịu đựng.
2768. Loài người tránh xa thức uống này như là tránh xa con rắn có nọc độc dữ dội, vậy người nam nào ở thế gian có khả năng để uống thứ nước sánh bằng với nọc độc ấy?
2769. Thật vậy, sau khi uống vào thức uống này, những người con trai của Andhaka và Veṇhu, trong lúc dạo chơi ở bờ biển, đã đánh đập lẫn nhau bằng những cái chày. Quý vị hãy mua cái bình này, nó được chứa đầy thức uống ấy.
2770. Thật vậy, sau khi uống vào thức uống này, chư Thiên trong thời quá khư bị say sưa, rồi bị lìa khỏi cõi Trời Tam Thập vĩnh viễn cùng với phép thần. Tâu đại vương, trong khi biết chất say này là không có lợi ích giống như thức uống ấy, làm sao người ta có thể uống được?
2771. Tâu bệ hạ, trong bình này không phải là sữa đông hay mật ong, bệ hạ phải biết rõ như vậy rồi hãy mua. Này Sabbamitta, thức uống chứa đựng ở trong cái bình này, như đã được ta giải thích cho bệ hạ, đúng là như vậy và thuộc về bệ hạ.
2772. “Ngài không phải là cha hay là mẹ của trẫm, nhưng họ như thế nào thì ngài như thế ấy; ngài là người hữu ích và có lòng trắc ẩn, có sự ước muốn về mục đích tối thượng. Hôm nay, trẫm đây sẽ làm theo lời nói của ngài.
2773. Trẫm ban cho ngài ân huệ là năm ngôi làng, một trăm nữ tỳ, bảy trăm con bò cái, và mười cỗ xe kéo này đã được thắng vào những con ngựa thuần chủng. Ngài hãy là thầy dạy học có lòng mong mỏi đến sự lợi ích của trẫm.”
2774. “Tâu bệ hạ, một trăm nữ tỳ là thuộc về chính bệ hạ, các ngôi làng và bầy bò là thuộc về chính bệ hạ, và các cỗ xe kéo đã được thắng vào những con ngựa thuần chủng là thuộc về chính bệ hạ. Ta là Thiên Chủ Sakka, chúa của chư Thiên cõi Tam Thập.
2775. Bệ hạ hãy thọ dụng cơm thịt và cơm sữa. Bệ hạ hãy nhai bánh đậu và mật ong. Tâu vị chúa của loài người, được vui thích với thiện pháp như vậy, bệ hạ là người không bị chê trách, và sẽ đạt đến vị thế cõi trời.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
512. Kumbhajātakaṃ (2)
512. The Kumbha Jātaka (2).
512. Bổn sanh Kumbha (2)
33.
33.
33.
Ko pāturāsī tidivā nabhamhi, obhāsayaṃ saṃvariṃ candimāva;
Gattehi te rasmiyo niccharanti, sateratā † vijjurivantalikkhe.
Who are you that, having come from the celestial realm of Tāvatiṃsa, has appeared in the sky, illuminating the night like the moon? From your limbs, rays issue forth like the Sateritā lightning in the sky.
Ngài là ai, từ cõi trời hiện ra trên không trung, chiếu sáng màn đêm như mặt trăng? Từ thân thể ngài, các tia sáng phát ra, như tia chớp lóe lên giữa hư không.
34.
34.
34.
So chinnavātaṃ kamasī aghamhi, vehāyasaṃ gacchasi tiṭṭhasī ca;
Iddhī nu te vatthukatā subhāvitā, anaddhagūnaṃ api devatānaṃ.
You tread in the sky as if on solid ground; you go and stand in the air. Is it by your well-developed psychic power that you are made as if having a foundation, a power like that of the devas who do not travel on foot?
Ngài đi trong không gian không có gió, ngài đi và đứng trên hư không. Phải chăng thần thông của ngài, đã được tu tập thuần thục, được dùng làm nền tảng, hay là (thần thông) của các vị trời, những người không đi bộ?
35.
35.
35.
Vehāyasaṃ gammamāgamma † tiṭṭhasi, kumbhaṃ kiṇāthāti yametamatthaṃ;
Ko vā tuvaṃ kissa vā tāya kumbho, akkhāhi me brāhmaṇa etamatthaṃ.
O Brahmin, you stand having taken a path through the sky and say, 'Buy the pot!' Who are you? Of what is this pot of yours? Explain this matter to me.
Ngài đứng, dựa vào một chỗ đứng trên hư không, và nói rằng: 'Hãy mua cái bình này!'. Ngài là ai? Và cái bình này của ngài là bình gì? Thưa Bà-la-môn, xin hãy nói cho tôi biết về vấn đề này.
36.
36.
36.
Na sappikumbho napi telakumbho, na phāṇitassa na madhussa kumbho;
Kumbhassa vajjāni anappakāni, dose bahū kumbhagate suṇātha.
This is not a pot of ghee, nor a pot of oil; it is not a pot of molasses, nor a pot of honey. The faults of this pot are many; listen to the many defects contained in the pot.
Đây không phải là bình bơ lỏng, cũng không phải là bình dầu, không phải là bình đường phèn, không phải là bình mật ong. Những lỗi lầm của chiếc bình này không phải là ít. Xin hãy lắng nghe nhiều tai hại liên quan đến chiếc bình.
37.
37.
37.
Gaḷeyya yaṃ pitvā † pate papātaṃ, sobbhaṃ guhaṃ candaniyoḷigallaṃ;
Bahumpi bhuñjeyya abhojaneyyaṃ, tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
Having drunk which, one might slip and fall into a precipice, a pit, a cave, a swamp, or a sewer; one might also eat much that is inedible. Buy this pot, full of that liquor.
Uống thứ này vào, người ta có thể vấp ngã, có thể rơi xuống vực thẳm, hố sâu, hang động, cống rãnh, mương nước. Cũng có thể ăn nhiều thứ không nên ăn. Hãy mua chiếc bình này, đầy ắp thứ đó!
38.
38.
38.
Yaṃ pitvā † cittasmimanesamāno, āhiṇḍatī goriva bhakkhasārī †;
Anāthamāno upagāyati naccati ca, tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
Having drunk which, with a mind beyond one's control, one wanders about like a cow eating old thatch; like one without a protector, one sings and dances. Buy this pot, full of that liquor.
Uống thứ này vào, tâm trí không tự chủ, người ta lang thang như con bò ăn đồ thừa. Bơ vơ không nơi nương tựa, người ta ca hát và nhảy múa. Hãy mua chiếc bình này, đầy ắp thứ đó!
39.
39.
39.
Yaṃ ve pivitvā acelova naggo, careyya gāme visikhantarāni;
Sammūḷhacitto ativelasāyī, tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
Having drunk which, indeed, one might wander naked like a naked ascetic in the village and in the middle of the streets; with a bewildered mind, one falls into excessive sleep. Buy this pot, full of that liquor.
Uống thứ này vào, quả thật, trần truồng như một kẻ tu khổ hạnh, người ta có thể đi lang thang trong làng và giữa các con đường. Với tâm trí mê muội, người ta ngủ quá nhiều. Hãy mua chiếc bình này, đầy ắp thứ đó!
40.
40.
40.
Yaṃ pitvā uṭṭhāya pavedhamāno, sīsañca bāhuñca † pacālayanto;
So naccatī dārukaṭallakova, tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
Having drunk which, one stands up trembling, shaking one's head and arms; that person dances like a wooden puppet. Buy this pot, full of that liquor.
Uống thứ này vào, đứng dậy và run rẩy, lắc đầu và vung tay, người ta nhảy múa như một con rối gỗ. Hãy mua chiếc bình này, đầy ắp thứ đó!
41.
41.
41.
Yaṃ ve pivitvā aggidaḍḍhā sayanti, atho sigālehipi khāditāse;
Bandhaṃ vadhaṃ bhogajāniñcupenti, tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
Having drunk which, indeed, they lie down burned by fire; furthermore, they are eaten by jackals. They encounter bondage, slaughter, and loss of wealth. Buy this pot, full of that liquor.
Uống thứ này vào, quả thật, họ nằm ngủ bị lửa thiêu, và cũng bị chó rừng ăn thịt. Họ gặp phải sự trói buộc, giết chóc, và mất mát tài sản. Hãy mua chiếc bình này, đầy ắp thứ đó!
42.
42.
42.
Yaṃ pitvā bhāseyya ābhāsaneyyaṃ, sabhāyamāsīno apetavattho;
Sammakkhito † vantagato byasanno, tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
Having drunk which, one might speak unspeakable words in an assembly; being without clothes and smeared with one's own vomit, one lies fallen into ruin. Buy this pot, full of that liquor.
Uống thứ này vào, người ta có thể nói những điều không nên nói khi ngồi trong hội chúng mà không có y phục. Bị vấy bẩn, ngã vào bãi nôn, thân bại danh liệt. Hãy mua chiếc bình này, đầy ắp thứ đó!
43.
43.
43.
Yaṃ ve pivitvā ukkaṭṭho āvilakkho, mameva sabbā pathavīti maññe †;
Na me samo cāturantopi rājā, tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
Having drunk which, indeed, with reddened eyes one might boast, 'I am most excellent!' One thinks, 'The entire earth is mine alone! There is no king, not even one who rules the four quarters, who is my equal!' Buy this pot, full of that liquor.
Uống thứ này vào, quả thật, người ta tự cao tự đại, mắt đỏ ngầu, và nghĩ rằng: 'Toàn bộ trái đất này là của riêng ta. Không có vị vua nào, kể cả vị vua cai trị bốn phương, có thể sánh bằng ta.' Hãy mua chiếc bình này, đầy ắp thứ đó!
44.
44.
44.
Mānātimānā kalahāni pesuṇī, dubbaṇṇinī naggayinī palāyinī;
Corāna dhuttāna gatī niketo, tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
It causes conceit and excessive conceit, quarrels, and slander; it causes ugliness, nakedness, and fleeing; it is the destination and abode of thieves and drunkards. Buy this pot, full of that liquor.
(Thứ này gây ra) kiêu mạn, ngã mạn, cãi vã, nói xấu; làm cho người ta xấu xí, trần truồng, phải trốn chạy. Nó là nơi đến và chỗ ở của kẻ trộm và những kẻ say sưa. Hãy mua chiếc bình này, đầy ắp thứ đó!
45.
45.
45.
Iddhāni phītāni kulāni assu, anekasāhassadhanāni loke;
Ucchinnadāyajjakatānimāya, tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
Those families in the world that were prosperous, flourishing, and possessed of wealth in the many thousands—by this liquor, they are made to have their inheritance cut off. Buy this pot, full of that liquor.
Trên thế gian, đã có những gia tộc thịnh vượng, giàu có, với tài sản hàng ngàn vạn. Bởi thứ này, họ trở nên không có người thừa kế. Hãy mua chiếc bình này, đầy ắp thứ đó!
46.
46.
46.
Dhaññaṃ dhanaṃ rajataṃ jātarūpaṃ, khettaṃ gavaṃ yattha vināsayanti;
Ucchedanī vittavataṃ † kulānaṃ, tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
Where grain, wealth, silver, and gold, fields and cattle are established, this liquor causes their destruction. It is the ruin of wealthy families. Buy this pot, full of that liquor.
Ngũ cốc, tài sản, bạc, vàng, ruộng đồng, gia súc - nơi nào có những thứ này, nó đều hủy hoại. Nó là kẻ hủy diệt các gia tộc giàu có. Hãy mua chiếc bình này, đầy ắp thứ đó!
47.
47.
47.
Yaṃ ve pitvā dittarūpova † poso, akkosati mātaraṃ pitarañca;
Sassumpi gaṇheyya athopi suṇhaṃ, tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
Having drunk which, indeed, a man, becoming arrogant, reviles his mother and father; he might even seize his mother-in-law, and furthermore, his daughter-in-law. Buy this pot, full of that liquor.
Uống thứ này vào, quả thật, người đàn ông trở nên kiêu ngạo, mắng chửi cả mẹ lẫn cha. Anh ta có thể xâm phạm mẹ vợ và cả con dâu. Hãy mua chiếc bình này, đầy ắp thứ đó!
48.
48.
48.
Yaṃ ve pitvā dittarūpāva nārī, akkosati sasuraṃ sāmikañca;
Dāsampi gaṇhe paricārakampi, tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
Having drunk which, indeed, a woman, becoming arrogant, reviles her father-in-law and husband; she might even seize her slave or her attendant. Buy this pot, full of that liquor.
Uống thứ này vào, quả thật, người phụ nữ trở nên kiêu ngạo, mắng chửi cha chồng và chồng mình. Cô ta có thể xâm phạm người nô lệ nam và cả người hầu nam. Hãy mua chiếc bình này, đầy ắp thứ đó!
49.
49.
49.
Yaṃ ve pivitvāna † haneyya poso, dhamme ṭhitaṃ samaṇaṃ brāhmaṇaṃ vā;
Gacche apāyampi tatonidānaṃ, tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
Having drunk which, indeed, a man might harm a recluse or a brahmin who is established in the Dhamma; from that as a cause, he would go to the woeful states. Buy this pot, full of that liquor.
Uống thứ này vào, quả thật, một người có thể đánh đập một vị Sa-môn hay Bà-la-môn đang an trú trong Pháp. Vì nguyên nhân đó, người ấy có thể đi đến cõi khổ. Hãy mua chiếc bình này, đầy ắp thứ đó!
50.
50.
50.
Yaṃ ve pivitvā duccaritaṃ caranti, kāyena vācāya ca cetasā ca;
Nirayaṃ vajanti duccaritaṃ caritvā, tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
Having drunk which, indeed, they commit misconduct with body, speech, and mind; having committed misconduct, they go to hell. Buy this pot, full of that liquor.
Uống thứ này vào, quả thật, họ thực hành ác hạnh bằng thân, khẩu, và ý. Sau khi thực hành ác hạnh, họ đi đến địa ngục. Hãy mua chiếc bình này, đầy ắp thứ đó!
51.
51.
51.
Yaṃ yācamānā na labhanti pubbe, bahuṃ hiraññampi pariccajantā;
So taṃ pivitvā alikaṃ bhaṇāti, tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
That man whom one could not previously get to speak a falsehood, even when begging him and offering much gold—that same man, having drunk this, speaks falsehood. Buy this pot, full of that liquor.
Một người mà trước đây họ không thể thuyết phục được, dù có yêu cầu và cho nhiều vàng bạc (để nói dối). Sau khi uống thứ đó, người ấy lại nói dối. Hãy mua chiếc bình này, đầy ắp thứ đó!
52.
52.
52.
Yaṃ ve pitvā pesane pesiyanto, accāyike karaṇīyamhi jāte;
Atthampi so nappajānāti vutto, tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
Having drunk which, indeed, when sent on an errand concerning an urgent matter that has arisen, that person, even when spoken to, does not understand the message. Buy this pot, full of that liquor.
Uống thứ này vào, quả thật, khi được sai đi làm một công việc khẩn cấp, lúc được nói, người ấy cũng không hiểu được ý nghĩa. Hãy mua chiếc bình này, đầy ắp thứ đó!
53.
53.
53.
Hirīmanāpi ahirīkabhāvaṃ, pātuṃ karonti madanāya † mattā;
Dhīrāpi santā bahukaṃ bhaṇanti, tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
Even those who have moral shame, when intoxicated by this intoxicant, make their shamelessness manifest; even those who are wise and calm speak a great deal. Buy this pot, full of that liquor.
Ngay cả những người có lòng hổ thẹn, khi say sưa vì chất gây say, cũng biểu lộ sự vô liêm sỉ. Dù là người trí tuệ, họ cũng nói rất nhiều. Hãy mua chiếc bình này, đầy ắp thứ đó!
54.
54.
54.
Yaṃ ve pitvā ekathūpā sayanti, anāsakā thaṇḍiladukkhaseyyaṃ;
Dubbaṇṇiyaṃ āyasakyañcupenti, tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
Having drunk which, indeed, they lie in one heap like young pigs; being without food, they encounter painful lying on the bare ground, ugliness, and disgrace. Buy this pot, full of that liquor.
Uống thứ này vào, quả thật, họ nằm thành một đống, nhịn đói, ngủ một cách khó chịu trên nền đất trống. Họ trở nên xấu xí và bị tai tiếng. Hãy mua chiếc bình này, đầy ắp thứ đó!
55.
55.
55.
Yaṃ ve pitvā pattakhandhā sayanti, gāvo kuṭahatāva na hi vāruṇiyā;
† Vego narena susahoriva †, tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
Having drunk which, indeed, they lie with drooping necks, like cows afflicted by a mechanism fastened at the neck. There is no force harder for a man to bear than that of liquor. Buy this pot full of it.
Uống thứ này vào, quả thật, họ nằm với vai rũ xuống, như những con bò bị búa đập. Vì sức mạnh của rượu không dễ dàng cho con người chịu đựng. Hãy mua chiếc bình này, đầy ắp thứ đó!
56.
56.
56.
Yaṃ manussā vivajjenti, sappaṃ ghoravisaṃ miva †;
Taṃ loke visasamānaṃ, ko naro pātumarahati.
That which people avoid like a snake of terrible venom, that which is like poison in the world—what man is fit to drink it?
Thứ mà con người tránh xa như một con rắn có nọc độc kinh hoàng, thứ đó, trong thế gian này, giống như chất độc, người nào lại đáng để uống?
57.
57.
57.
Yaṃ ve pitvā andhakaveṇḍaputtā, samuddatīre paricārayantā †;
Upakkamuṃ musalehaññamaññaṃ, tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
Having drunk which, indeed, the sons of Andhakaveṇḍa, while wandering on the seashore, attacked one another with pestles. Buy this pot full of it.
Uống thứ này vào, quả thật, các con trai của Andhakaveṇḍa, khi đang đi dạo trên bờ biển, đã dùng chày tấn công lẫn nhau. Hãy mua chiếc bình này, đầy ắp thứ đó!
58.
58.
58.
Yaṃ ve pitvā pubbadevā pamattā, tidivā cutā sassatiyā samāya;
Taṃ tādisaṃ majjamimaṃ niratthakaṃ, jānaṃ mahārāja kathaṃ piveyya.
Having drunk which, indeed, the former gods, being heedless, fell from the third heaven, from the assembly called eternal. Knowing this intoxicant to be of such a nature and worthless, O great king, how could you drink it?
Tâu Đại vương, chính vì uống thứ rượu này mà các vị thiên nhân đời trước, cùng với quyến thuộc, đã trở nên say sưa phóng dật, rồi bị rơi rụng khỏi cõi trời Ba mươi ba, nơi được xem là vĩnh hằng. Biết rằng thứ rượu như thế này là vô ích, sao Đại vương lại có thể uống được?
59.
59.
59.
Nayimasmiṃ kumbhasmiṃ dadhi vā madhu vā, evaṃ abhiññāya kiṇāhi rāja;
Evañhimaṃ kumbhagatā mayā te, akkhātarūpaṃ tava sabbamitta.
In this pot there is neither curd nor honey. Knowing its nature thus, O king, buy it! For thus has the nature of what is contained in this pot been explained by me to you, O Sabbamitta.
Tâu vua Sabbamitta, trong chiếc vò này chẳng phải là sữa đông hay mật ong. Tâu Đại vương, hãy biết rõ như vậy mà mua lấy. Như thế, bản chất của thứ chứa trong vò này đã được tôi giải thích cho ngài rồi.
60.
60.
60.
Na me pitā vā athavāpi mātā, etādisā yādisako tuvaṃsi;
Hitānukampī paramatthakāmo, sohaṃ karissaṃ vacanaṃ tavajja.
Neither my father nor my mother are such as you are. You are compassionate for my welfare, desiring the ultimate good. Therefore, today I shall follow your word.
Thưa Bà la môn, cha của tôi hay cả mẹ của tôi cũng không được như ngài. Ngài là người mong cầu lợi ích, thương xót cho tôi, mong muốn điều tốt đẹp tối thượng cho tôi. Vì vậy, hôm nay tôi sẽ làm theo lời của ngài.
61.
61.
61.
Dadāmi te gāmavarāni pañca, dāsīsataṃ satta gavaṃ satāni;
Ājaññayutte ca rathe dasa ime, ācariyo hosi mamatthakāmo.
I give you five excellent villages, a hundred female slaves, seven hundred cows, and these ten chariots yoked with thoroughbreds. You have been my teacher, who desires my welfare.
Tôi xin tặng ngài năm ngôi làng tốt nhất, một trăm nữ tỳ, bảy trăm con bò, và mười cỗ xe này được kéo bởi ngựa thuần chủng. Ngài quả là vị thầy mong cầu lợi ích cho tôi.
62.
62.
62.
Taveva dāsīsatamatthu rāja, gāmā ca gāvo ca taveva hontu;
Ājaññayuttā ca rathā taveva, sakkohamasmī tidasānamindo.
Let the hundred female slaves be yours, O king. Let the villages and the cows be yours. Let the chariots yoked with thoroughbreds also be yours. I am Sakka, lord of the Thirty-three gods.
Tâu Đại vương, một trăm nữ tỳ hãy cứ là của ngài. Các ngôi làng và đàn bò cũng hãy là của ngài. Những cỗ xe do ngựa thuần chủng kéo cũng hãy là của ngài. Ta chính là Sakka, vua của chư thiên Ba mươi ba.
63.
63.
63.
Maṃsodanaṃ sappipāyāsaṃ † bhuñja, khādassu ca tvaṃ madhumāsapūve;
Evaṃ tuvaṃ dhammarato janinda, anindito saggamupehi ṭhānanti.
Eat rice with meat and milk-rice with ghee, and you should eat cakes with honey. Thus, O lord of men, delighting in the Dhamma and being blameless, you will attain the heavenly state.
Tâu Nhân chủ, ngài hãy dùng cơm với thịt và cháo sữa nấu với bơ. Ngài hãy ăn các loại bánh ngọt với mật ong. Như vậy, ngài hoan hỷ trong Chánh pháp, không bị chê trách, sẽ đi đến cảnh giới thiên đàng.
Kumbhajātakaṃ dutiyaṃ.
The Kumbha Jātaka, the second.
Chuyện Bổn sanh Cái Vò, thứ hai.