Bản dịch
JA 511 — Chuyện dục tham kỳ dị (Tiền thân Kimchanda)
1. Kiṁchandajātaka
2713. “Này vị Bà-la-môn, ngài một mình ngồi ở nơi nóng nực với mong muốn gì, với ý định gì, đang ước nguyện điều gì, đang tìm kiếm cái gì, nhằm mục đích gì?”
2714. “(Ta đã nhìn thấy) trái xoài chín, có màu sắc, mùi thơm, và hương vị tuyệt vời, trông tương tự như cái hũ đựng nước lớn, có kiểu dáng đẹp.
2715. Hỡi cô nàng có vòng eo thanh khiết, sau khi nhìn thấy trái xoài đang bị cuốn trôi bởi dòng nước, ta đã vớt lấy nó bằng hai bàn tay, rồi đã mang nó đến ngôi nhà cúng tế thần lửa.
2716. Sau đó, đích thân ta đã đặt nó xuống ở những mảnh lá chuối, rồi dùng dao cắt thành miếng. Nó đã làm tiêu tan sự đói khát của ta.
2717. Ta đây không còn trạng thái đuối sức, và trái xoài chín đã hết. Ta có sức chịu đựng sự khốn khó, nhưng ta không đạt đến sự hứng thú ở các loại trái cây nào khác.
2718. Trái xoài ấy là thứ trái cây ngon, có vị ngọt đậm đà, làm thích ý, mà ta đã vớt nó lên trong lúc nó đang trôi nổi từ đầm nước ở trong biển lớn. Chẳng lẽ sau khi không có nó để thọ dụng, nó sẽ mang lại cái chết cho ta?
2719. Tất cả đã được ta giải thích cho nàng vì sao ta chịu đói khát, (mặc dù) ta ngồi bên cạnh dòng sông đáng yêu có nhiều loại cá.
2720. Hỡi cô nàng (dạn dĩ) không trốn chạy, nàng hãy nói với ta về bản thân. Này mỹ nữ, nàng là ai? Hỡi cô nàng có vòng eo xinh xắn, vì sao nàng đi đến đây?
2721. Những người nữ trong số chư Thiên, các nàng hầu của chư Thiên, trông tựa như những dải lụa vàng bóng loáng, tựa như những chú cọp con (xinh xắn) được sanh ra ở vùng núi non.
2722. Cho đến các phụ nữ được phú cho sắc đẹp ở thế giới nhân loại, người sánh bằng với nàng về sắc đẹp là không có ở giữa chư Thiên, ở các Càn-thát-bà, và ở thế giới loài người. Hỡi nàng có đôi chân đẹp, được ta hỏi, xin nàng hãy trả lời. Nàng hãy nói cho ta về danh tánh và về các thân quyến.”
2723. “Này vị Bà-la-môn, ngài ngồi bên cạnh dòng sông Kosikī đáng yêu, còn thiếp đây sống ở trú xứ nhộn nhịp với những dòng nước triều và nước lũ.
2724. Nhiều hang núi được xen lẫn với những đám cây cối khác loại tuôn chảy vào mùa mưa khiến chính thiếp trở thành dòng chảy tiên phong.
2725. Và còn có nhiều nguồn nước chảy ra từ các cánh rừng mang theo dòng nước màu lục, có nhiều dòng nước đầy màu sắc của các con rồng tuôn chảy với nguồn nước (dồi dào).
2726. Các dòng nước ấy luôn luôn mang theo nhiều loại trái cây như trái xoài, trái đào đỏ, trái sa-kê, trái nīpa, trái thốt nốt, và trái sung.
2727. Bất cứ trái cây nào ở hai bên bờ rơi rụng xuống nước, chắc chắn rằng trái cây ấy bị cuốn trôi theo mãnh lực của dòng nước chảy.
2728. Thưa bậc thông minh, thưa bậc có trí tuệ bao la, sau khi biết rõ điều ấy, xin ngài hãy lắng nghe thiếp. Thưa bậc quân vương, chớ vui thích sự bám víu (vào tham ái). Hãy chặn đứng điều ấy.
2729. Thưa bậc làm hưng thịnh đất nước, thưa nhà vua ẩn sĩ, thiếp không nghĩ rằng việc ngài mong mỏi cái chết trong lúc còn trẻ tuổi là điều sáng suốt.
2730. Các bậc cha ông, các Càn-thát-bà, luôn cả chư Thiên, biết được bản tính tham ái của ngài đây, và thậm chí các vị ẩn sĩ có bản thân thu thúc, có danh tiếng ở thế gian, và những người lớn tuổi, có danh vọng, chắc chắn rằng những người ấy cũng biết.”
2731. “Các bậc hiểu biết dã hiểu rõ như vậy về tất cả các thiện pháp, về sự tan rã, về sự tiêu hoại của mạng sống. Tội ác không bị tích lũy cho người nam ấy, nếu người ấy không suy nghĩ về việc giết hại kẻ khác.
2732. Hỡi cô nàng được tôn trọng bởi tập thể các ẩn sĩ, trong khi nàng được thể gian biết đến như vậy, nàng lại muốn tạo ra ác nghiệp ở việc chê bai không thánh thiện.
2733. Hỡi nữ thần có cặp mông nở nang xinh xắn, nếu như ta chết ở bờ sông của nàng, chắc chắn rằng tiếng xấu sẽ đến với nàng khi ta đã ra đi.
2734. Chính vì điều ấy, hỡi cô nàng có vòng eo xinh xắn, nàng hãy bảo vệ hành động xấu xa (của ta trong việc ham muốn trái xoài). Chớ để sau này, khi ta đã chết, tất cả mọi người lại phỉ báng nàng.”
2735. “Thưa vị có sự chịu đựng việc không thể chịu đựng, điều ấy đã được biết rõ. Thiếp sẽ đích thân biếu trái xoài ấy đến ngài. Ngài đây, sau khi dứt bỏ các loại dục khó thể từ bỏ, ngài hãy duy trì sự an tịnh và thiện pháp.
2736. Kẻ nào sau khi từ bỏ sự ràng buộc trước đây, rồi lại dính vào sự ràng buộc sau này, và còn thực hành phi pháp nữa; sự xấu xa gia tăng cho kẻ ấy.
2737. Ngài hãy đến, thiếp sẽ giúp ngài đạt được điều mong muốn. Ngài hãy ít ham muốn. Hãy để thiếp đưa ngài đi, và ngài hãy trú ở nơi (rừng xoài) mát mẻ, không còn ham muốn nữa.
2738. Thưa vị thuần hóa kẻ thù, nơi ấy với những con chim bị say đắm hương vị của các bông hoa. Có các chim cò, các chim công, các chim sếu, và các chim sáo ngọt ngào thuộc cõi Trời.
2739. Được cất tiếng kêu cùng với bầy thiên nga, các con chim cu cu làm thức giấc chốn này. Ở đây, có những cây xoài với những chùm trái trĩu nặng ở đầu cành, trông giống như những bó lúa trĩu hạt, có những cây kosumbha , cây salala , cây nīpa , và những quầy trái thốt nốt chín treo lỏng thỏng.”
2740. “Là người có vòng hoa, có khăn đội đầu, có vòng đeo tay, có thoa trầm hương, ông hưởng thụ vào ban đêm, và cảm nhận thọ khổ vào ban ngày.
2741. Mười sáu ngàn phụ nữ này là những người hầu hạ của ông. Như vậy, ông có uy quyền lớn lao, ông thật phi thường, có sự dựng đứng lông.
2742. Ông đã tạo nghiệp gì xấu xa trong đời quá khứ khiến nó đem lại khổ đau cho bản thân? Sau khi đã làm nghiệp gì ở thế giới loài người khiến ông phải ăn các miếng thịt ở lưng?”
2743. “Sau khi tiếp thu các môn học, tôi bị tham đắm ở các dục. Tôi đã hành xử điều bất lợi đến những người khác trong một thời gian dài.
2744. Hôm nay tôi ngấu nghiến những miếng thịt lưng của chính mình như thế nào, thì kẻ nói xấu sau lưng người khác sẽ phải rứt ra (những miếng thịt lưng) rồi nhai tương tự như thế ấy.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
511. Kiṃchandajātakaṃ (1)
511. The Jātaka on What is Your Wish
511. Chuyện Bổn Sanh Kiṃchanda (1)
1.
1.
1.
Kiṃchando kimadhippāyo, eko sammasi ghammani;
Kiṃ patthayāno kiṃ esaṃ, kena atthena brāhmaṇa.
O Brahmin, having what wish, what intention, yearning for what, seeking what, for what reason do you stay alone in the heat?
Ngài mong muốn điều gì, có ý định gì, mà ngồi yên một mình trong mùa nóng; Ngài cầu mong điều gì, tìm kiếm điều gì, vì mục đích gì, hỡi vị Bà-la-môn?
2.
2.
2.
Yathā mahā vāridharo, kumbho supariṇāhavā †;
Tathūpamaṃ ambapakkaṃ, vaṇṇagandharasuttamaṃ.
Like a great, well-shaped, water-bearing pot, so is this ripe mango, endowed with the finest color, fragrance, and taste.
Giống như một cái bình lớn chứa nước, có hình dáng đẹp đẽ; Quả xoài chín cũng ví như thế, tuyệt hảo về màu sắc, hương thơm và vị ngọt.
3.
3.
3.
Taṃ vuyhamānaṃ sotena, disvānāmalamajjhime;
Pāṇīhi naṃ gahetvāna, agyāyatanamāhariṃ.
O you of flawless waist, seeing it being carried by the current, I took it with my hands and brought it to my fire-hut.
Này nàng có vòng eo thon thả không tỳ vết, sau khi thấy quả xoài ấy bị dòng nước cuốn trôi, ta đã dùng tay vớt lấy nó, rồi mang về lều lửa.
4.
4.
4.
Tato kadalipattesu, nikkhipitvā sayaṃ ahaṃ;
Satthena naṃ vikappetvā, khuppipāsaṃ ahāsi me.
Then, having placed it on banana leaves, I myself sliced it with a small knife; the mango dispelled my hunger and thirst.
Sau đó, chính ta đã đặt nó lên lá chuối, dùng dao cắt ra, và nó đã xua tan cơn đói khát của ta.
5.
5.
5.
Sohaṃ apetadaratho, byantībhūto † dukhakkhamo;
Assādaṃ nādhigacchāmi, phalesvaññesu kesuci †.
I, with agitation gone, the mango being finished, am unable to bear the discomfort; I find no delicious taste in any other fruits.
Ta đây, khi đã hết phiền muộn (vì đói khát), nhưng khi quả xoài đã hết, ta lại không chịu đựng được sự khó chịu; ta không tìm thấy vị ngon trong bất kỳ loại quả nào khác.
6.
6.
6.
Sosetvā nūna maraṇaṃ, taṃ mamaṃ āvahissati;
Ambaṃ yassa phalaṃ sādu, madhuraggaṃ manoramaṃ;
Yamuddhariṃ vuyhamānaṃ, udadhismā mahaṇṇave.
That mango whose fruit is sweet, of finest sweetness, and delightful, which I lifted from the great river as it was being carried away, having caused me to wither, will surely bring me to death.
Quả xoài mà ta đã vớt lên khi nó đang trôi dạt từ dòng sông lớn, quả của nó có vị ngon, ngọt ngào tuyệt hảo và làm vui lòng, chắc chắn nó sẽ làm ta khô héo và mang đến cái chết.
7.
7.
7.
Akkhātaṃ te mayā sabbaṃ, yasmā upavasāmahaṃ;
Rammaṃ pati nisinnosmi, puthulomāyutā puthu.
All has been told to you by me, for what reason I am fasting. I am sitting beside the delightful, wide river, which is endowed with large-whiskered fish.
Ta đã kể cho nàng nghe tất cả lý do tại sao ta đang chịu đói khát. Ta đang ngồi bên dòng sông rộng lớn, khả ái, có nhiều cá lớn.
8.
8.
8.
Tvañca kho meva † akkhāhi, attānamapalāyini;
Kā vā tvamasi kalyāṇi, kissa vā tvaṃ sumajjhime.
And you, indeed, tell me about yourself, O you who do not flee. Who are you, O lovely one? For what reason are you here, O you of beautiful waist?
Hỡi nàng không chạy trốn, còn nàng, hãy nói cho ta biết về chính mình. Nàng là ai, hỡi nàng xinh đẹp? Nàng đến đây vì lý do gì, hỡi nàng có vòng eo thon thả?
9.
9.
9.
Ruppapaṭṭapalimaṭṭhīva †, byagghīva girisānujā;
Yā santi nāriyo devesu, devānaṃ paricārikā.
Like a well-polished silver plate, like a tigress born on a mountain slope; among the women who exist in the heavens as attendants of the gods,
Nàng giống như một tấm bạc được đánh bóng, như một con cọp cái ở sườn núi. (So với) những người nữ là thị giả của chư thiên ở cõi trời,
10.
10.
10.
Yā ca manussalokasmiṃ, rūpenānvāgatitthiyo;
Rūpena te sadisī natthi, devesu gandhabbamanussaloke †;
Puṭṭhāsi me cārupubbaṅgi, brūhi nāmañca bandhave.
and among the women in the human world endowed with beauty, there is no woman similar to you in form among gods, gandhabbas, or humans. You are asked by me, O you of lovely limbs, tell me your name and your relatives.
Và những người nữ có được sắc đẹp ở cõi người, không ai có sắc đẹp tương tự như nàng, dù ở cõi trời, cõi càn-thát-bà, hay cõi người. Hỡi nàng có thân trước duyên dáng, ta đã hỏi nàng, hãy nói cho ta biết tên và quyến thuộc của nàng.
11.
11.
11.
Yaṃ tvaṃ pati nisinnosi, rammaṃ brāhmaṇa kosikiṃ;
Sāhaṃ bhusālayā vutthā, varavārivahoghasā.
O Brahmin, that delightful Kosikī river beside which you are sitting—I am she who dwells with authority in a mansion in its strong current, a goddess of excellent, flowing, flooding waters.
Hỡi vị Bà-la-môn, dòng sông Kosikī khả ái mà ngài đang ngồi bên cạnh, ta chính là vị nữ thần sống trong dòng nước chảy xiết của nó, dòng sông có dòng nước lũ tuyệt vời.
12.
12.
12.
Nānādumagaṇākiṇṇā, bahukā girikandarā;
Mameva pamukhā honti, abhisandanti pāvuse.
Many mountain torrents, from gorges crowded with various groups of trees, flow in during the rainy season. They all make me their chief.
Nhiều dòng suối từ các khe núi, đầy dẫy các loại cây cối khác nhau, chảy tràn vào mùa mưa; tất cả chúng đều xem ta là chính.
13.
13.
13.
Atho bahū vanatodā, nīlavārivahindharā;
Bahukā nāgavittodā, abhisandanti vārinā.
Also, many forest streams bearing currents of blue water, and many rivers known to elephants, flow into me with their waters.
Hơn nữa, nhiều dòng nước từ rừng, mang theo dòng nước trong xanh, và nhiều dòng nước từ núi, đều chảy tràn vào ta với nước của chúng.
14.
14.
14.
Tā ambajambulabujā, nīpā tālā cudumbarā †;
Bahūni phalajātāni, āvahanti abhiṇhaso.
They constantly carry along many kinds of fruits: mangoes, rose-apples, breadfruits, kadamba fruits, palmyra fruits, and figs.
Chúng thường xuyên mang đến xoài, trâm, mít, gáo, thốt nốt, sung, và nhiều loại quả khác.
15.
15.
15.
Yaṃ kiñci ubhato tīre, phalaṃ patati ambuni;
Asaṃsayaṃ taṃ sotassa, phalaṃ hoti vasānugaṃ.
Whatever fruit from the trees growing on both banks falls into the water, without a doubt, that fruit becomes subject to the will of the current.
Bất kỳ quả nào từ cây trên cả hai bờ rơi xuống nước, không nghi ngờ gì, quả đó thuận theo ý muốn của dòng nước (tức là của ta).
16.
16.
16.
Etadaññāya medhāvi, puthupañña suṇohi me;
Mā rocaya mabhisaṅgaṃ, paṭisedha janādhipa.
O wise one, of great wisdom, knowing this, listen to my words. Do not delight in clinging; prevent it, O lord of people.
Hỡi người trí tuệ, hỡi người có trí tuệ rộng lớn, sau khi biết điều này, hãy nghe ta. Hỡi vị vua của dân chúng, chớ ưa thích sự dính mắc, hãy từ bỏ nó.
17.
17.
17.
Na vāhaṃ vaḍḍhavaṃ † maññe, yaṃ tvaṃ raṭṭhābhivaḍḍhana;
Āceyyamāno rājisi, maraṇaṃ abhikaṅkhasi.
O increaser of the kingdom, since you, a royal sage, being in your prime, long for death, I do not consider this to be wisdom.
Hỡi người làm cho quốc gia thịnh vượng, hỡi vị vua ẩn sĩ, ta không cho rằng hành động của ngài là khôn ngoan, khi ngài, đang trong tuổi thanh xuân, lại mong muốn cái chết.
18.
18.
18.
Tassa jānanti pitaro, gandhabbā ca sadevakā;
Ye cāpi isayo loke, saññatattā tapassino;
The Brahmās know of him, as do the gandhabbas together with the devas, and also those sages in the world who are self-controlled and ascetic;
Về người ấy (bị ái dục chi phối), các vị Phạm thiên, các vị càn-thát-bà cùng với chư thiên đều biết rõ; và cả những vị ẩn sĩ trong thế gian, những người tự chế và khổ hạnh (cũng biết rõ).
Asaṃsayaṃ tepi † jānanti, paṭṭhabhūtā † yasassino.
Without a doubt, they too know, those glorious ones who are their attendants.
Không nghi ngờ gì, những vị ấy cũng biết, những bậc có danh tiếng, những bậc đứng đầu (cũng biết).
19.
19.
19.
Evaṃ viditvā vidū sabbadhammaṃ, viddhaṃsanaṃ cavanaṃ jīvitassa;
Na cīyatī tassa narassa pāpaṃ, sace na ceteti vadhāya tassa.
Thus the wise one, having known all principles, and the destruction and passing away of life, for that person no evil accumulates if he does not intend the slaughter of another.
Người trí sau khi biết như vậy về tất cả các pháp, về sự hủy hoại và chấm dứt của sự sống, thì ác nghiệp sẽ không tích lũy cho người ấy, nếu người ấy không có ý định hãm hại người khác.
20.
20.
20.
Isipūgasamaññāte, evaṃ lokyā viditā sati †;
Anariyaparisambhāse, pāpakammaṃ jigīsasi †.
O you who are acclaimed by the assembly of sages, thus you are known as worldly. With ignoble, abusive speech, you seek to bring about an evil deed.
Hỡi nàng được các nhóm ẩn sĩ biết đến, khi được biết đến như vậy trong thế gian, với lời nói chỉ trích không xứng bậc thánh, nàng đang muốn làm một việc ác.
21.
21.
21.
Sace ahaṃ marissāmi, tīre te puthusussoṇi;
Asaṃsayaṃ taṃ asiloko, mayi pete āgamissati.
O you of ample hips, if I should die on your bank, without a doubt ill-repute will come to you when I am dead.
Hỡi nàng có vòng hông nở nang, nếu ta chết trên bờ sông của nàng, không nghi ngờ gì, tiếng xấu sẽ đến với nàng khi ta qua đời.
22.
22.
22.
Tasmā hi pāpakaṃ kammaṃ, rakkhasseva † sumajjhime;
Mā taṃ sabbo jano pacchā, pakuṭṭhāyi † mayi mate.
Therefore, O you of beautiful waist, guard yourself against an evil, blameworthy deed. Let not all the people revile you afterwards, when I am dead.
Vì vậy, hỡi nàng có vòng eo thon thả, hãy giữ mình khỏi hành động xấu ác, để sau này khi ta chết, tất cả mọi người sẽ không chỉ trích nàng.
23.
23.
23.
Aññātametaṃ avisayhasāhi, attānamambañca dadāmi te taṃ;
So duccaje kāmaguṇe pahāya, santiñca dhammañca adhiṭṭhitosi.
O you who endures the unendurable, this is understood. I give to you myself and that mango, for you are one who, having abandoned sensual pleasures so difficult to relinquish, is established in peace and righteousness.
Hỡi người chịu đựng được điều khó chịu đựng, điều này đã được ta hiểu rõ. Ta sẽ trao cho ngài chính ta và quả xoài ấy; vì ngài là người đã từ bỏ những dục lạc khó từ bỏ, và đã an trú trong sự tịch tịnh và chánh pháp.
24.
24.
24.
Yo hitvā pubbasaññogaṃ, pacchā saṃyojane ṭhito;
Adhammañceva carati, pāpañcassa pavaḍḍhati.
Whoever, having abandoned a former connection, then stands in a later fetter, practices unrighteousness, and for him, evil increases.
Người nào, sau khi từ bỏ những ràng buộc trước đây, lại đứng trong những ràng buộc sau này, người ấy thực hành phi pháp, và điều ác của người ấy tăng trưởng.
25.
25.
25.
Ehi taṃ pāpayissāmi, kāmaṃ appossuko bhava;
Upānayāmi sītasmiṃ, viharāhi anussuko.
Come, I will take you there. Be without anxiety for your desire. I will bring it to you. Dwell in the cool grove without a care.
Hãy đến, ta sẽ đưa ngài đến đó. Cứ tự nhiên, đừng lo lắng. Ta sẽ mang (quả xoài) đến trong khu rừng mát mẻ, ngài hãy an trú mà không lo âu.
26.
26.
26.
Taṃ puppharasamattebhi, vakkaṅgehi arindama;
Koñcā mayūrā diviyā, kolaṭṭhimadhusāḷikā;
O tamer of foes, behold that divine mango grove, resounding with birds intoxicated with the nectar of flowers—divine cranes, peacocks, partridges, and honey-voiced mynas;
Hỡi người chinh phục kẻ thù, (hãy nhìn khu vườn ấy), vang dội bởi tiếng những loài chim say sưa mật hoa. Nơi đây có những con sếu, công của cõi trời, chim cu và chim sáo.
Kūjitā haṃsapūgehi, kokilettha pabodhare.
It is filled with the calls of flocks of geese, and here the cuckoos make themselves known.
(Khu vườn) rộn rã tiếng hót của bầy thiên nga, và những con chim tu hú ở đây cất tiếng gọi nhau.
27.
27.
27.
Ambettha vippasākhaggā †, palālakhalasannibhā;
Kosambasaḷalā † nīpā, pakkatālavilambino.
Here are mango trees, their branch-tips bent low with the weight of fruit, resembling a threshing floor strewn with straw; and Kosamba, Salala, and Nīpa trees, with fruits hanging down like ripe palmyra fruits.
Ở đây có những cây xoài với cành lá sum suê, (mặt đất) trông như sân đập lúa đầy rơm. Có những cây kosamba, thông, gáo, và những cây khác có quả chín treo lủng lẳng như quả thốt nốt.
28.
28.
28.
Mālī tiriṭī kāyūrī, aṅgadī candanussado †;
Rattiṃ tvaṃ paricāresi, divā vedesi vedanaṃ.
O devaputta, adorned with garlands, a diadem, armlets, and bracelets, anointed with sandalwood paste, you enjoy celestial bliss at night; but by day, you experience painful feeling.
Ngài đeo vòng hoa, vương miện, vòng tay, và trang sức cánh tay, mình thoa bột đàn hương. Ban đêm ngài hưởng thụ, nhưng ban ngày ngài phải chịu đựng khổ thọ.
29.
29.
29.
Soḷasitthisahassāni, yā temā paricārikā;
Evaṃ mahānubhāvosi, abbhuto lomahaṃsano.
There are sixteen thousand celestial maidens who are your attendants. Thus, you are of great power, wonderful, and causing the hair to stand on end.
Mười sáu ngàn người nữ này là những người hầu của ngài. Ngài có đại oai lực như vậy, thật phi thường và làm dựng tóc gáy.
30.
30.
30.
Kiṃ kammamakarī pubbe, pāpaṃ attadukhāvahaṃ;
Yaṃ karitvā manussesu, piṭṭhimaṃsāni khādasi.
What evil kamma that brings suffering to oneself did you perform previously among humans, having done which you now eat the flesh of your own back?
Trong quá khứ, ngươi đã làm nghiệp ác gì, việc ác mang lại đau khổ cho chính mình; sau khi đã làm điều ấy giữa loài người, mà (nay) ngươi phải ăn thịt lưng của chính mình?
31.
31.
31.
Ajjhenāni paṭiggayha, kāmesu gadhito † ahaṃ;
Acariṃ dīghamaddhānaṃ, paresaṃ ahitāyahaṃ.
Venerable hermit, having learned the Vedas, I was greedy for sensual pleasures. For a long time, I acted for the harm of others, which was for my own detriment.
Sau khi học tập các môn học, tôi đã tham đắm trong các dục vọng; thưa ngài, trong một thời gian dài, tôi đã hành động để làm hại người khác.
32.
32.
32.
Yo piṭṭhimaṃsiko hoti, evaṃ ukkacca khādati;
Yathāhaṃ ajja khādāmi, piṭṭhimaṃsāni attanoti.
Whoever is a backbiter eats his own back-flesh, having torn it off, just as I now eat my own back-flesh.
Người nào là kẻ nói xấu sau lưng, thì sẽ phải xé ra và ăn như vậy; giống như tôi hôm nay đang ăn thịt lưng của chính mình.
Kiṃchandajātakaṃ paṭhamaṃ.
The First Jātaka: The Kiṃchanda Jātaka.
Bổn sanh Kiṃchanda, thứ nhất.