Bản dịch
JA 510 — Chuyện vương tử trong ngôi nhà sắt (Tiền thân Ayoghara)
14. Ayogharajātaka
14. BỔN SANH TÒA NHÀ SẮT
2689. “Việc đầu tiên (của sự tục sanh) là một đêm (hoặc một ngày), bào thai trú ở bụng mẹ. Ngay khi đã được hình thành, nó (liên tục) phát triển. Trong khi tiến triển, nó không dừng lại.
2690. Không phải trong lúc chiến đấu, không phải được trông cậy vào sức mạnh, mà con người không già hoặc thậm chí không chết. Toàn bộ tất cả đều bị quấy nhiễu bởi sự sanh và sự già. Vì thế, con có ý nghĩ rằng: ‘Ta phải thực hành pháp tu tập.’
2691. Các vua chúa của các xứ sở (có thể) chiến thắng đoàn quân gồm bốn binh chủng có dáng vẻ vô cùng khủng khiếp bằng vũ lực, nhưng không thể nào chiến thắng đạo binh của Thần Chết. Vì thế, con có ý nghĩ rằng: ‘Ta phải thực hành pháp tu tập.’
2692. Được tháp tùng bởi các tượng binh, xa binh, kỵ binh, và bộ binh, một số vua chúa (có thể) được thoát khỏi (kẻ thù), nhưng không thể nào được thoát khỏi đạo binh của Thần Chết. Vì thế, con có ý nghĩ rằng: ‘Ta phải thực hành pháp tu tập.’
2693. Cùng với các tượng binh, xa binh, kỵ binh, và bộ binh, các dũng sĩ (có thể) phá tan, tiêu diệt (kẻ thù), nhưng không thể nào phá vỡ đạo binh của Thần Chết. Vì thế, con có ý nghĩ rằng: ‘Ta phải thực hành pháp tu tập.’
2694. Những con voi bị nổi cơn dục, có dịch chất tiết ra (ở trán), bị giận dữ, (có thể) dẫm nát các thành phố và giết hại dân chúng, nhưng không thể nào dẫm nát đạo binh của Thần Chết. Vì thế, con có ý nghĩ rằng: ‘Ta phải thực hành pháp tu tập.’
2695. Những người bắn cung có cánh tay đã được tập luyện, sáng trí, có khả năng bắn xa, có phát bắn nhanh như tia chớp, nhưng không thể nào xuyên thủng đạo binh của Thần Chết. Vì thế, con có ý nghĩ rằng: ‘Ta phải thực hành pháp tu tập.’
2696. Các hồ nước, cùng với các ngọn núi và các khu rừng đều bị tiêu hoại. Toàn bộ tất cả đều bị tiêu hoại sau một thời gian dài. Toàn bộ tất cả đều tan vỡ theo trình tự của thời gian. Vì thế, con có ý nghĩ rằng: ‘Ta phải thực hành pháp tu tập.’
2697. Bởi vì mạng sống của tất cả những người nam và nữ, của sinh linh ở thế gian này là bấp bênh như vậy, tựa như tấm vải choảng của kẻ nghiện ngập, tựa như cây cối sanh trưởng ở bờ vực. Vì thế, con có ý nghĩ rằng: ‘Ta phải thực hành pháp tu tập.’
2698. Tựa như các trái ở trên cây rụng xuống, các chúng sanh, bao gồm các phụ nữ, các nam nhân, và những người bán nam bán nữ, ở tuổi non trẻ và già cả, khi có sự tan rã thân xác đều ngã xuống. Vì thế, con có ý nghĩ rằng: ‘Ta phải thực hành pháp tu tập.’
2699. Tuổi tác này không như mặt trăng, chúa của các vì sao (khuyết rồi lại tròn), một khi nó đã trôi qua, thì nó đã đi qua hẳn vào khi ấy (không còn trở lại nữa). Thật sự đối với người già cả, sự vui sướng (ở các dục) không còn, làm sao có sự khoái lạc? Vì thế, con có ý nghĩ rằng: ‘Ta phải thực hành pháp tu tập.’
2700. Các Dạ-xoa, các yêu tinh, hoặc thậm chí các vong nhân, khi đã nổi giận, chúng thổi hơi (làm mê man) con người, nhưng không thể nào thổi hơi (làm mê man) đạo binh của Thần Chết. Vì thế, con có ý nghĩ rằng: ‘Ta phải thực hành pháp tu tập.’
2701. Con người (có thể) xoa dịu các Dạ-xoa, các yêu tinh, hoặc thậm chí các vong nhân đã nổi giận, nhưng không thể nào xoa dịu được đạo binh của Thần Chết. Vì thế, con có ý nghĩ rằng: ‘Ta phải thực hành pháp tu tập.’
2702. Các vị vua (có thể) trừng trị những kẻ phạm tội, những kẻ quấy rối, và những kẻ hư hỏng, sau khi biết được tội lỗi (của những kẻ ấy), nhưng không thể nào trừng trị đạo binh của Thần Chết. Vì thế, con có ý nghĩ rằng: ‘Ta phải thực hành pháp tu tập.’
2703. Những kẻ phạm tội, những kẻ quấy rối, và những kẻ hư hỏng đạt được việc xoa dịu đối với các vị vua của họ, nhưng không thể nào xoa dịu được đạo binh của Thần Chết. Vì thế, con có ý nghĩ rằng: ‘Ta phải thực hành pháp tu tập.’
2704. Tử Thần không có sự mong mỏi ở một chúng sanh nào, là ‘vị Sát-đế-lỵ’ cũng không, là ‘vị Bà-la-môn’ cũng không, những người giàu có, những người có năng lực, những người có uy quyền cũng không. Vì thế, con có ý nghĩ rằng: ‘Ta phải thực hành pháp tu tập.’
2705. Các con sư tử, các con cọp, và luôn cả các con báo (có thể) dùng bạo lực nhai ngấu nghiến con mồi đang giãy giụa, nhưng không thể nào nhai ngấu nghiến đạo binh của Thần Chết. Vì thế, con có ý nghĩ rằng: ‘Ta phải thực hành pháp tu tập.’
2706. Những người làm ảo thuật, trong khi biểu diễn ở giữa khán đài, đánh lừa các con mắt của người xem vào lúc ấy, nhưng không thể nào mê hoặc được đạo binh của Thần Chết. Vì thế, con có ý nghĩ rằng: ‘Ta phải thực hành pháp tu tập.’
2707. Các con rắn có nọc độc bị nổi giận thì có uy lực hung bạo. Chúng cắn và giết chết nhiều người, nhưng không thể nào cắn được đạo binh của Thần Chết. Vì thế, con có ý nghĩ rằng: ‘Ta phải thực hành pháp tu tập.’
2708. Các con rắn có nọc độc bị nổi giận rồi cắn người nào, các thầy thuốc (có thể) tiêu diệt nọc độc của chúng, nhưng không thể nào tiêu diệt được nọc độc đã cắn vào của Thần Chết. Vì thế, con có ý nghĩ rằng: ‘Ta phải thực hành pháp tu tập.’
2709. Dhammantarī, Vetaraṇī, và Bhoja được nổi tiếng sau khi tiêu diệt các nọc độc của những con rắn. Họ đã qua đời tương tự y như thế. Vì thế, con có ý nghĩ rằng: ‘Ta phải thực hành pháp tu tập.’
2710. Các nhà pháp thuật trong khi học thần chú Ghora (có thể) tàng hình di chuyển nhờ vào các phương thuốc, nhưng không thể nào tàng hình di chuyển đối với Ma Vương. Vì thế, con có ý nghĩ rằng: ‘Ta phải thực hành pháp tu tập.’
2711. Thật vậy, thiện pháp hộ trì người có sự thực hành thiện pháp. Thiện pháp khéo được thực hành đem lại sự an lạc. Điều này là quả báu khi thiện pháp khéo được thực hành: Người có sự thực hành thiện pháp không đi đến cảnh giới khổ đau.
2712. Bởi vì cả hai thiện pháp và phi pháp không có quả thành tựu giống nhau. Phi pháp dẫn đến địa ngục, thiện pháp giúp cho đạt được nhàn cảnh.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Caturaṅginiṃ senaṃ subhiṃsarūpaṃ, jayanti raṭṭhādhipatī pasayha;
Na maccuno jayitumussahanti, taṃ me matī hoti carāmi dhammaṃ.
Lords of kingdoms may conquer by force with a four-divisioned army of terrifying appearance, but they are not able to conquer Death. Therefore, my mind is resolved: I will practice the Dhamma.
Các vị vua chúa chinh phục được đạo quân bốn binh chủng đáng sợ bằng cách áp đảo; (Nhưng) họ không thể chiến thắng được thần chết, vì thế con có ý định thực hành Chánh pháp.
366.
366.
366.
Hatthīhi assehi rathehi pattibhi, parivāritā muccare ekacceyyā †;
Na maccuno † muccitumussahanti, taṃ me matī hoti carāmi dhammaṃ.
Surrounded by elephants, horses, chariots, and infantry, some may escape, but they are not able to escape from Death. Therefore, my mind is resolved: I will practice the Dhamma.
Được vây quanh bởi voi, ngựa, xe, và bộ binh, một số người có thể thoát khỏi (kẻ thù); (Nhưng) họ không thể thoát khỏi thần chết, vì thế con có ý định thực hành Chánh pháp.
367.
367.
367.
Hatthīhi assehi rathehi pattibhi, sūrā † pabhañjanti padhaṃsayanti;
Na maccuno bhañjitumussahanti, taṃ me matī hoti carāmi dhammaṃ.
With elephants, horses, chariots, and infantry, heroes may break and crush their foes, but they are not able to break Death. Therefore, my mind is resolved: I will practice the Dhamma.
Với voi, ngựa, xe, và bộ binh, những người dũng cảm phá hủy và tàn phá (thành trì của địch); (Nhưng) họ không thể đập tan được thần chết, vì thế con có ý định thực hành Chánh pháp.
368.
368.
368.
Mattā gajā bhinnagaḷā † pabhinnā, nagarāni maddanti janaṃ hananti;
Na maccuno madditumussahanti, taṃ me matī hoti carāmi dhammaṃ.
Intoxicated elephants in rut, with ichor streaming from their temples, may trample cities and kill people, but they are not able to trample Death. Therefore, my mind is resolved: I will practice the Dhamma.
Những con voi say, đang trong thời kỳ động dục, có thể giày xéo các thành phố, giết hại dân chúng; (Nhưng) chúng không thể giày xéo được thần chết, vì thế con có ý định thực hành Chánh pháp.
369.
369.
369.
Issāsino katahatthāpi vīrā †, dūrepātī † akkhaṇavedhinopi;
Na maccuno vijjhitumussahanti, taṃ me matī hoti carāmi dhammaṃ.
Even heroic archers, skilled of hand, who shoot from afar and can pierce without missing, are not able to pierce Death. Therefore, my mind is resolved: I will practice the Dhamma.
Những cung thủ dũng cảm, tay nghề điêu luyện, bắn xa không trượt mục tiêu; (Nhưng) họ không thể bắn trúng được thần chết, vì thế con có ý định thực hành Chánh pháp.
370.
370.
370.
Sarāni khīyanti saselakānanā, sabbaṃ hidaṃ † khīyati dīghamantaraṃ;
Sabbaṃ hidaṃ † bhañjare kālapariyāyaṃ, taṃ me matī hoti carāmi dhammaṃ.
Lakes dry up, along with mountains and forests; all this wastes away over a long period. The passage of time shatters all this. Therefore, my mind is resolved: I will practice the Dhamma.
Các hồ nước rồi cũng cạn, đất cùng núi rừng (cũng hoại), tất cả những thứ này sau thời gian dài đều sẽ tiêu vong; Tất cả những thứ này đều sẽ tan vỡ khi đến thời điểm, vì thế con có ý định thực hành Chánh pháp.
371.
371.
371.
Sabbe samevaṃ hi narānanārinaṃ †, calācalaṃ pāṇabhunodha jīvitaṃ;
Paṭova dhuttassa dumova kūlajo, taṃ me matī hoti carāmi dhammaṃ.
For all men and women alike, the life of a being here is utterly unstable, like the garment of a drunkard, like a tree on a riverbank. Therefore, my mind is resolved: I will practice the Dhamma.
Mạng sống của tất cả chúng sanh, nam và nữ, ở thế gian này, luôn bấp bênh; Giống như tấm áo của kẻ say, như cây bên bờ sông, vì thế con có ý định thực hành Chánh pháp.
372.
372.
372.
Dumapphalāneva patanti māṇavā, daharā ca vuddhā ca sarīrabhedā;
Nāriyo narā majjhimaporisā ca, taṃ me matī hoti carāmi dhammaṃ.
Like fruits falling from a tree, so beings fall at the breakup of the body—the young and the old, women, men, and those of middle age. Therefore, my mind is resolved: I will practice the Dhamma.
Giống như trái cây rụng, chúng sanh cũng vậy, người trẻ và người già, khi thân hoại; Phụ nữ, đàn ông, và người trung niên (cũng thế), vì thế con có ý định thực hành Chánh pháp.
373.
373.
373.
Nāyaṃ vayo tārakarājasannibho, yadabbhatītaṃ gatameva dāni taṃ;
Jiṇṇassa hī natthi ratī kuto sukhaṃ, taṃ me matī hoti carāmi dhammaṃ.
This age is not like the king of stars; what has passed is now gone. For the aged there is no delight, so whence happiness? Therefore, my mind is resolved: I will practice the Dhamma.
Tuổi tác này không giống như mặt trăng (khuyết rồi lại tròn), những gì đã qua thì đã qua rồi; Với người già không có niềm vui, thì hạnh phúc từ đâu đến? Vì thế con có ý định thực hành Chánh pháp.
374.
374.
374.
Yakkhā pisācā athavāpi petā, kupitāte † assasanti manusse;
Na maccuno assasitussahanti, taṃ me matī hoti carāmi dhammaṃ.
Yakkhas, pisācas, or even petas, when angered, can strike down humans with their breath, but they are not able to strike down Death. Therefore, my mind is resolved: I will practice the Dhamma.
Dạ xoa, tỳ-xá-già, hay ngạ quỷ, khi nổi giận có thể giết người (bằng hơi thở); (Nhưng) chúng không thể dùng hơi thở giết được thần chết, vì thế con có ý định thực hành Chánh pháp.
375.
375.
375.
Yakkhe pisāce athavāpi pete, kupitepi te nijjhapanaṃ karonti;
Na maccuno nijjhapanaṃ karonti, taṃ me matī hoti carāmi dhammaṃ.
People can appease yakkhas, pisācas, or petas, even when they are angry, but they cannot appease Death. Therefore, my mind is resolved: I will practice the Dhamma.
Dạ xoa, tỳ-xá-già, hay ngạ quỷ, dù nổi giận, người ta có thể làm cho chúng nguôi giận; (Nhưng) họ không thể làm cho thần chết nguôi giận, vì thế con có ý định thực hành Chánh pháp.
376.
376.
376.
Aparādhake dūsake heṭhake ca, rājāno daṇḍenti viditvāna dosaṃ;
Na maccuno daṇḍayitussahanti, taṃ me matī hoti carāmi dhammaṃ.
Kings punish offenders, corrupters, and tormentors, having known their fault, but they are not able to punish Death. Therefore, my mind is resolved: I will practice the Dhamma.
Những kẻ phạm tội, phá hoại, và gây hại, các vị vua biết tội và trừng phạt họ; (Nhưng) họ không thể trừng phạt được thần chết, vì thế con có ý định thực hành Chánh pháp.
377.
377.
377.
Aparādhakā dūsakā heṭṭhakā ca, labhanti te rājino nijjhapetuṃ;
Na maccuno nijjhapanaṃ karonti, taṃ me matī hoti carāmi dhammaṃ.
Offenders, corrupters, and tormentors may be able to appease the king, but they cannot appease Death. Therefore, my mind is resolved: I will practice the Dhamma.
Những kẻ phạm tội, phá hoại, và gây hại, họ có thể làm cho vua nguôi giận; (Nhưng) họ không thể làm cho thần chết nguôi giận, vì thế con có ý định thực hành Chánh pháp.
378.
378.
378.
Na khattiyoti na ca brāhmaṇoti, na aḍḍhakā balavā tejavāpi;
Na maccurājassa apekkhamatthi, taṃ me matī hoti carāmi dhammaṃ.
Whether one is a khattiya or a brahmin, wealthy, strong, or powerful—for the King of Death there is no partiality. Therefore, my mind is resolved: I will practice the Dhamma.
Dù là Sát-đế-lỵ hay Bà-la-môn, dù giàu có, mạnh mẽ, hay quyền thế; Vua của sự chết cũng không hề nể nang, vì thế con có ý định thực hành Chánh pháp.
379.
379.
379.
Sīhā ca byagghā ca athopi dīpiyo, pasayha khādanti vipphandamānaṃ;
Na maccuno khāditumussahanti, taṃ me matī hoti carāmi dhammaṃ.
Lions, tigers, and also leopards forcibly devour a struggling creature, but they are not able to devour Death. Therefore, my mind is resolved: I will practice the Dhamma.
Sư tử, cọp, và cả báo, dùng vũ lực ăn thịt chúng sanh đang run rẩy; (Nhưng) chúng không thể ăn thịt được thần chết, vì thế con có ý định thực hành Chánh pháp.
380.
380.
380.
Māyākārā raṅgamajjhe karontā, mohenti cakkhūni janassa tāvade;
Na maccuno mohayitussahanti, taṃ me matī hoti carāmi dhammaṃ.
Magicians performing in an arena may deceive the eyes of the people for a time, but they are not able to deceive Death. Therefore, my mind is resolved: I will practice the Dhamma.
Các nhà ảo thuật, khi biểu diễn giữa sân khấu, có thể làm mê hoặc mắt của mọi người trong chốc lát; (Nhưng) họ không thể làm mê hoặc được thần chết, vì thế con có ý định thực hành Chánh pháp.
381.
381.
381.
Āsīvisā kupitā uggatejā, ḍaṃsanti mārentipi te manusse;
Na maccuno ḍaṃsitumussahanti, taṃ me matī hoti carāmi dhammaṃ.
Venomous snakes, angered and of terrible power, bite and even kill people, but they are not able to bite Death. Therefore, my mind is resolved: I will practice the Dhamma.
Những con rắn có nọc độc mạnh, khi nổi giận, chúng cắn và giết người; (Nhưng) chúng không thể cắn được thần chết, vì thế con có ý định thực hành Chánh pháp.
382.
382.
382.
Āsīvisā kupitā yaṃ ḍaṃsanti, tikicchakā tesa visaṃ hananti;
Na maccuno daṭṭhavisaṃ † hananti, taṃ me matī hoti carāmi dhammaṃ.
When angered venomous snakes bite, physicians may neutralize their venom, but they cannot neutralize the venom of Death's bite. Therefore, my mind is resolved: I will practice the Dhamma.
Khi những con rắn nổi giận cắn ai, các thầy thuốc hóa giải nọc độc của chúng; (Nhưng) họ không thể hóa giải nọc độc khi bị thần chết cắn, vì thế con có ý định thực hành Chánh pháp.
383.
383.
383.
Dhammantarī vettaraṇī † ca bhojo, visāni hantvāna bhujaṅgamānaṃ;
Suyyanti te kālakatā tatheva, taṃ me matī hoti carāmi dhammaṃ.
Even the physicians Dhammantarī, Vettaraṇī, and Bhoja, though they destroy the venoms of snakes, are heard of as having died just the same. Therefore, my mind is resolved: I will practice the Dhamma.
Dhammantarī, Vetaraṇī, và Bhoja, sau khi hóa giải nọc độc của rắn, (trở nên nổi tiếng); (Nhưng) họ cũng đã chết như vậy, vì thế con có ý định thực hành Chánh pháp.
384.
384.
384.
Vijjādharā ghoramadhīyamānā, adassanaṃ osadhehi vajanti;
Na maccurājassa vajantadassanaṃ †, taṃ me matī hoti carāmi dhammaṃ.
Possessors of magical knowledge, reciting fierce spells, may become invisible by means of herbs, but they cannot become invisible to the King of Death. Therefore, my mind is resolved: I will practice the Dhamma.
Những người có thần thông, học các phép thuật, có thể tàng hình bằng thuốc; (Nhưng) họ không thể đi đến nơi mà vua của sự chết không thấy, vì thế con có ý định thực hành Chánh pháp.
385.
385.
385.
Dhammo have rakkhati dhammacāriṃ, dhammo suciṇṇo sukhamāvahāti;
Esānisaṃso dhamme suciṇṇe, na duggatiṃ gacchati dhammacārī.
The Dhamma indeed protects the one who lives by the Dhamma; the Dhamma well-practiced brings happiness. This is the benefit of the well-practiced Dhamma: one who lives by the Dhamma does not go to a bad destination.
Chánh pháp chắc chắn bảo hộ người thực hành Chánh pháp, Chánh pháp được thực hành tốt sẽ mang lại hạnh phúc; Đây là lợi ích của Chánh pháp được thực hành tốt: người thực hành Chánh pháp không đi đến khổ cảnh.
386.
386.
386.
Na hi dhammo adhammo ca, ubho samavipākino;
Adhammo nirayaṃ neti, dhammo pāpeti suggatinti.
For the Dhamma and that which is not the Dhamma do not both have the same result. That which is not the Dhamma leads to hell, while the Dhamma leads to a good destination.
Chánh pháp và phi pháp, cả hai không có quả báo giống nhau; Phi pháp dẫn đến địa ngục, Chánh pháp đưa đến thiện thú.
Ayogharajātakaṃ cuddasamaṃ.
The Ayoghara Jātaka, the fourteenth.
Bổn sanh Ayoghara, câu chuyện thứ mười bốn.
Tassuddānaṃ –
The Summary:
Kệ tóm lược:
Mātaṅga sambhūta sivi sirimanto, rohaṇa haṃsa sattigumbo bhallātiya;
Somanassa campeyya brahma pañca-paṇḍita cirassaṃvata ayogharāti.
Mātaṅga, Sambhūta, Sivi, Sirimanta; Rohaṇa, Haṃsa, Sattigumba, Bhallātiya; Somanassa, Campeyya, Brahma, Pañca-paṇḍita; Cirassaṃvata, and Ayoghara.
Chuyện Mātaṅga, Sambhūta, Sivi, Sirimanto, Rohaṇa, Haṃsa, Sattigumba, Bhallātiya; Somanassa, Campeyya, Brahma, Pañca-paṇḍita, Cirassaṃvata, và Ayoghara.
The Book of Twenty is Finished.
Dứt Phẩm Hai Mươi.