Bản dịch
JA 509 — Chuyện Hiền giả quản tượng (Tiền thân Hatthipàla)
13. Hatthipālajātaka
13. BỔN SANH VƯƠNG TỬ HATTHIPĀLA
2664. “Quả thật đã lâu lắm chúng tôi mới nhìn thấy vị Bà-la-môn có dáng vóc Thiên thần, có bện tóc to, đang mang túi vật dụng, có răng bị đóng bợn, có đầu lấm bụi.
2665. Quả thật đã lâu lắm chúng tôi mới nhìn thấy vị ẩn sĩ thỏa thích trong đức hạnh của thiện pháp, mặc vải màu ca-sa, che thân bằng y phục sợi vỏ cây.
2666. Thưa đại đức, xin ngài hãy thọ nhận chỗ ngồi, nước rửa chân, dầu thoa chân của chúng tôi. Chúng tôi hỏi dâng đại đức các vật có giá trị, thưa đại đức, xin ngài hãy làm vẻ vang cho chúng tôi (bằng sự thọ nhận).”
2667. “Này con, sau khi đã học các kinh Vệ Đà, con hãy tầm cầu của cải. Sau khi đã ổn định về con cái và nhà cửa, sau khi đã hưởng thụ các hương, các vị, và mọi thứ (vật dục), khu rừng là (sự chọn lựa) tốt đẹp (cho vị xuất gia lúc tuổi già); vị hiền trí ấy được ca ngợi.
2668. “Các kinh Vệ Đà không phải là chân lý, và sự đạt được của cải cũng không phải. Con người không tránh khỏi sự già do việc có được con cái. Các vị hiền nhân đã nói về sự giải thoát đối với các hương và các vị. Sự thành tựu quả báo là do nghiệp của bản thân.”
2669. “Quả thật vậy, lời nói ấy của con là sự thật. Sự thành tựu quả báo là do nghiệp của bản thân. Mẹ và cha của con đã già, họ có thể nhìn thấy con sống khỏe mạnh đến trăm tuổi.”
2670. “ Tâu bệ hạ, người nào có thể có tình bạn với sự chết, (hoặc) có tình thân hữu với sự già, tâu đấng tối thượng dũng mãnh của loài người, và người nào lại có thể biết được rằng mình sẽ không chết vào bất cứ lúc nào, họ có thể nhìn thấy bệ hạ sống khỏe mạnh đến trăm tuổi chăng?
2671. Cũng giống như người đàn ông chèo chiếc thuyền ở trong nước và đưa nó đến gần bờ, cũng tương tự như thế, bệnh và già thường xuyên đưa con người đến gần quyền lực của Thần Chết.”
2672. “Các dục tựa như đất bùn, và các dục là đầm lầy, hấp dẫn, khó vượt qua, là lãnh địa của Ma Vương. Những người bị chìm vào đất bùn, đầm lầy này có trạng thái tâm hạ liệt, không vượt qua đến bờ kia.
2673. Bản thân này trước đây đã tạo nghiệp hung bạo. Quả thành tựu của nghiệp ấy con phải gánh lấy, không bao giờ có sự thoát khỏi ác nghiệp đối với con. Con sẽ gìn giữ bản thân kỹ lưỡng bằng sự ngăn chặn. Chớ để bản thân này tạo nghiệp hung bạo nữa.”
2674. “Tâu bệ hạ, giống như người tìm kiếm chỉ mỗi con bò bị lạc mất ở trong rừng mà không tìm thấy, tương tự như vậy, tâu đức vua Esukārī, mục đích của thần đã bị lạc mất, tâu bệ hạ, tại sao thần đây không tìm lại (và đi theo đạo lộ của các anh trai)?
2675. Kẻ buông xuôi (nghĩ rằng): ‘Để ngày mai,’ rồi buông bỏ (nghĩ rằng): ‘Để ngày khác.’ Bậc sáng trí, sau khi biết rằng: ‘Việc gì để ngày mai, việc ấy là không có,’ rồi nên xúc tiến điều ước muốn đã được sanh khởi.”
2676. “Thần quả có nhìn thấy người thiếu nữ trẻ trung đang say đắm (cười nói), có cặp mắt (to và dài) như bông hoa ketaka, ở vào giai đoạn đầu của cuộc đời khi thú vui còn chưa được hưởng thụ, thì tử thần đã đoạt lấy người thiếu nữ rồi ra đi.
2677. Thần trẻ tuổi, có dòng dõi cao sang, có khuôn mặt thanh tú, có vóc dáng đẹp, có làn da vàng sẫm, có bộ râu tua tủa như nhụy bông hoa kusumbha. Tâu bệ hạ, thần sẽ từ bỏ các dục, lìa xa gia đình, và xuất gia. Xin bệ hạ cho phép thần.”
2678. “Nhờ vào những cành cây mà cây cối đạt được tên gọi riêng; hơn nữa, khi cành cây bị chặt bỏ thì người ta đã gọi là gốc cây. Này bà Vāseṭṭhī, khi đứa con trai đã dứt bỏ (ra đi), thì hôm nay là thời điểm thực hành hạnh khất thực của ta.”
2679. “Tựa như loài chim diệc di chuyển ở không trung, giống như loài chim thiên nga phá vỡ các mạng lưới đã được giăng mắc (bởi loài nhện) lúc đã hết mùa đông, các con trai và người chồng của ta ra đi, tại sao ta đây, trong khi nhận biết như thế, lại không đi theo họ?”
2680. “Những con chim này sau khi ăn, đã ói ra rồi bay đi; còn những con chim nào sau khi ăn mà không ói ra, chúng đi đến ở trong bàn tay của thiếp.
2681. Vị Bà-la-môn đã ói ra các dục, không lẽ bệ hạ sẽ thụ hưởng các dục ấy sao? Tâu bệ hạ, kẻ ăn vào vật đã được ói ra bởi kẻ khác, kẻ ấy không đáng được khen ngợi.”
2682. “Giống như người có sức mạnh vớt lên người yếu đuối bị chìm đắm từ chính vũng bùn ở trong đầm lầy, cũng tương tự như vậy, này Pañcālī, nàng là người đã nâng trẫm lên bằng những kệ ngôn được thốt ra khéo léo.”
2683. Sau khi nói điều này, vị đại vương Esukārī, bậc chúa tể một phương, đã từ bỏ vương quốc rồi xuất gia, tựa như con voi đã giật đứt sự trói buộc rồi ra đi.
2684. “Đức vua đã ưa thích việc xuất gia. Đấng tối thượng dũng mãnh của loài người đã từ bỏ vương quốc. Đối với chúng thần, hoàng hậu cũng giống y như là đức vua. Hoàng hậu hãy trị vì xứ sở đã được bảo vệ bởi chúng thần.”
XXXX. “Đức vua đã ưa thích việc xuất gia. Đấng tối thượng dũng mãnh của loài người đã từ bỏ vương quốc. Bổn cung cũng sẽ đơn độc sống ở thế gian, sau khi đã từ bỏ các dục quyến rũ.
(Câu kệ này không có ở Tạng Sri Lanka)
2685. “Đức vua đã ưa thích việc xuất gia. Đấng tối thượng dũng mãnh của loài người đã từ bỏ vương quốc. Bổn cung cũng sẽ đơn độc sống ở thế gian, sau khi đã từ bỏ các dục còn nguyên vẹn (không đụng chạm đến).
2686. Các thời khắc (ban ngày) đi qua, các đêm tối trôi qua, các giai đoạn của tuổi thọ lần lượt từ bỏ. Bổn cung cũng sẽ đơn độc sống ở thế gian, sau khi đã từ bỏ các dục quyến rũ.
2687. Các thời khắc (ban ngày) đi qua, các đêm tối trôi qua, các giai đoạn của tuổi thọ lần lượt từ bỏ. Bổn cung cũng sẽ đơn độc sống ở thế gian, sau khi đã từ bỏ các dục còn nguyên vẹn (không đụng chạm đến).
2688. Các thời khắc (ban ngày) đi qua, các đêm tối trôi qua, các giai đoạn của tuổi thọ lần lượt từ bỏ. Bổn cung cũng sẽ đơn độc sống ở thế gian, có trạng thái mát mẻ, sau khi đã vượt qua mọi sự quyến luyến.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Adhicca vede pariyesa vittaṃ, putte gahe † tāta patiṭṭhapetvā;
Gandhe rase paccanubhuyya † sabbaṃ, araññaṃ sādhu muni so pasattho.
Dear son, first study the Vedas and seek wealth. Having established your children in the household, and having experienced scents, tastes, and all other sensual pleasures, it is excellent to dwell in the forest; such a sage is praised by the wise.
Này con yêu quý, sau khi học Vệ-đà, hãy tìm kiếm của cải, sau khi an vị con cái trong gia đình, sau khi hưởng thụ tất cả hương và vị, (sau đó) vào rừng là tốt đẹp. Vị ẩn sĩ ấy được tán thán.
341.
341.
341.
Vedā na saccā na ca vittalābho, na puttalābhena jaraṃ vihanti;
Gandhe rase muccana † māhu santo, sakammunā † hoti phalūpapatti.
Father, the Vedas are not true, and the acquisition of wealth is not certain. By the acquisition of children, one cannot prevent aging. The wise declare only the release from scents and tastes. The accomplishment of the result for beings comes from their own kamma.
Kinh Vệ-đà không phải là chân thật, việc đạt được của cải cũng không, việc có được con cái không thể ngăn chặn sự già. Các bậc thánh nhân nói rằng nên từ bỏ hương và vị. Sự thành tựu của quả là do nghiệp của chính mình.
342.
342.
342.
Addhā hi saccaṃ vacanaṃ tavetaṃ, sakammunā hoti phalūpapatti;
Jiṇṇā ca mātāpitaro tavīme †, passeyyuṃ taṃ vassasataṃ arogaṃ †.
Indeed, dear son, this word of yours is certainly true: the accomplishment of the result comes from one's own kamma. These parents of yours are aged; may they see you, free from illness, for a hundred years.
Chắc chắn lời nói này của con là sự thật, sự thành tựu của quả là do nghiệp của chính mình. Cha mẹ này của con đã già yếu, họ mong được thấy con một trăm năm không bệnh tật.
343.
343.
343.
Yassassa sakkhī maraṇena rāja, jarāya mettī naravīraseṭṭha;
Yo cāpi jaññā na marissaṃ kadāci, passeyyuṃ taṃ vassasataṃ arogaṃ.
O king, most excellent and heroic among men, if there were any for whom death were a companion, and with aging they had friendship, and who could know, 'I shall never die,' may such persons see you, free from illness, for a hundred years.
Tâu đại vương, bậc anh hùng tối thắng trong loài người, người nào có thể làm bạn với cái chết, có thể thân thiện với sự già, và người nào biết rằng: 'Ta sẽ không bao giờ chết', (thì) họ mong được thấy ngài một trăm năm không bệnh tật.
344.
344.
344.
Yathāpi nāvaṃ puriso dakamhi, ereti ce naṃ upaneti tīraṃ;
Evampi byādhī satataṃ jarā ca, upaneti maccaṃ † vasamantakassa.
Just as a man propels a boat in the water and brings it to the shore, even so do sickness and aging constantly lead a mortal under the sway of the Ender, Death.
Ví như một người ở trên sông, nếu chèo chống chiếc thuyền, sẽ đưa (người) đến bờ bên kia; cũng vậy, bệnh tật và sự già luôn luôn đưa người phải chết đến dưới quyền lực của thần chết.
345.
345.
345.
Paṅko ca kāmā palipo ca kāmā, manoharā duttarā maccudheyyā;
Etasmiṃ paṅke palipe byasannā †, hīnattarūpā na taranti pāraṃ.
Sensual pleasures are a thick mud and a soft mire; they are alluring, difficult to cross, the domain of Death. Sunk in this thick mud and soft mire, those of a base nature do not cross to the far shore of Nibbāna.
Các dục vọng là vũng bùn, các dục vọng là bãi lầy, chúng làm say đắm lòng người, khó vượt qua, là lãnh địa của thần chết. Bị chìm đắm trong vũng bùn, bãi lầy ấy, những kẻ có tâm tánh thấp hèn không thể vượt qua đến bờ bên kia.
346.
346.
346.
Ayaṃ pure luddamakāsi kammaṃ, svāyaṃ gahīto na hi mokkhito me;
Orundhiyā naṃ parirakkhissāmi, māyaṃ puna luddamakāsi kammaṃ.
Formerly, this personality of mine performed a cruel deed. I have now received its result; there is no release for me from this unwholesome kamma. Now, restraining it, I will guard it all around, so that this personality of mine may not perform a cruel deed again.
(Thân) này trước đây đã làm nghiệp tàn ác, chính nó bị (quả) nắm giữ, tôi không được giải thoát khỏi nó. Tôi sẽ chế ngự và bảo vệ nó, để nó không làm nghiệp tàn ác một lần nữa.
347.
347.
347.
Gavaṃva † naṭṭhaṃ puriso yathā vane, anvesatī † rāja apassamāno;
Evaṃ naṭṭho esukārī mamattho, sohaṃ kathaṃ na gaveseyyaṃ rāja.
O King Esukārī, just as a man searches in the forest for a lost cow he cannot see, so too my own welfare—the ascetic life—is lost. That being so, O king, how should I not search for it?
Tâu đại vương, ví như một người trong rừng tìm kiếm con bò bị lạc mà không thấy; cũng vậy, lợi ích của tôi đã bị mất, tâu đại vương Esukārī. Do đó, làm sao tôi lại không tìm kiếm nó?
348.
348.
348.
Hiyyoti hiyyati † poso, pareti parihāyati;
Anāgataṃ netamatthīti ñatvā, uppannachandaṃ ko panudeyya dhīro.
The person who puts off until tomorrow what should be done today, and until the day after what should be done tomorrow, declines from his purpose. Knowing that the result of what is not done will not come to be, what wise person would reject a wholesome resolve that has arisen?
Người nào hoãn lại (việc hôm nay) đến ngày mai, người ấy suy thoái; (hoãn việc ngày mai) đến ngày kia, người ấy suy giảm. Biết rằng 'tương lai là không chắc chắn', người trí nào lại từ bỏ ý muốn (thiện) đã sanh khởi?
349.
349.
349.
Passāmi vohaṃ daharaṃ † kumāriṃ, mattūpamaṃ ketakapupphanettaṃ;
Abhuttabhoge † paṭhame vayasmiṃ, ādāya maccu vajate kumāriṃ.
Your Majesty, I see a young maiden, who moves like one intoxicated, with eyes like the petals of the screwpine flower. In the first stage of life, before she has enjoyed sensual pleasures, Death takes that maiden and departs.
Thần thấy một thiếu nữ trẻ, dáng đi như tiên nữ, mắt dài như cánh hoa ketaka. Trong tuổi đầu tiên, chưa hưởng thụ các dục lạc, thần chết đã mang thiếu nữ ấy đi.
350.
350.
350.
Yuvā sujāto sumukho sudassano, sāmo kusumbhaparikiṇṇamassu;
Hitvāna kāme paṭikacca † gehaṃ, anujāna maṃ pabbajissāmi deva.
A youth may be well-formed, with a beautiful face, pleasant to behold, with a golden complexion and a beard like safflower filaments, yet he falls under the sway of Death. Therefore, Your Majesty, before it is too late, having abandoned the home and sensual pleasures, I will go forth. Please grant me permission.
Một thanh niên trẻ, sinh ra tốt đẹp, mặt đẹp, ưa nhìn, da màu vàng, râu mọc như hoa rum. Tâu đức vua, con sẽ từ bỏ các dục lạc và gia đình từ trước (khi già chết đến), con sẽ xuất gia, xin hãy cho phép con.
351.
351.
351.
Sākhāhi rukkho labhate samaññaṃ, pahīnasākhaṃ pana khāṇumāhu;
Pahīnaputtassa mamajja bhoti, vāseṭṭhi bhikkhācariyāya kālo.
O lady of the Vāsiṭṭha clan, a tree gets its designation from its branches; but one without branches, they call a stump. For me today, who am without my son, it is time for the ascetic life.
Hỡi nàng Vāsiṭṭhī, cái cây nhờ các cành mà có tên gọi là cây, còn cây không có cành thì người ta gọi là gốc cây. Đối với ta, người không còn con, hôm nay là thời điểm để sống đời khất sĩ.
352.
352.
352.
Aghasmi koñcāva yathā himaccaye, katāni † jālāni padāliya † haṃsā;
Just as cranes fly in the sky, unattached, and as swans, at the end of the cold season, break through the webs and depart,
Ví như những con chim hạc trên bầu trời (bay đi không vướng mắc), như những con thiên nga khi mùa đông qua, phá vỡ những mạng nhện đã giăng;
Gacchanti puttā ca patī ca mayhaṃ, sāhaṃ kathaṃ nānuvaje pajānaṃ.
in the same way, my sons and my husband go, having abandoned the net of sensual pleasures. Knowing this, how could I not follow the path they have taken?
Các con của tôi và chồng của tôi đã ra đi, tôi đây, người biết rõ, làm sao lại không đi theo (con đường ấy)?
353.
353.
353.
Ete bhutvā vamitvā ca, pakkamanti vihaṅgamā;
Ye ca bhutvāna vamiṃsu, te me hatthatta † māgatā.
Great king, these birds, having eaten and then vomited, fly away. But those who, having eaten, did not vomit—they have come into my hand.
Những con chim này, sau khi ăn và nôn ra, đã bay đi. Còn những con nào sau khi ăn mà không nôn ra, chúng đã rơi vào tay tôi.
354.
354.
354.
Avamī brāhmaṇo kāme, so † tvaṃ paccāvamissasi;
Vantādo puriso rāja, na so hoti pasaṃsiyo.
O king, the brahmin has vomited up sensual pleasures; you would eat that vomit again. A person who eats what has been vomited, O king, is not one to be praised.
Vị Bà-la-môn đã nôn ra các dục vọng, còn ngài lại muốn ăn lại. Tâu đại vương, người ăn lại vật đã nôn thì không đáng được tán thán.
355.
355.
355.
Paṅke ca † posaṃ palipe byasannaṃ, balī yathā dubbalamuddhareyya;
Evampi maṃ tvaṃ udatāri bhoti, pañcāli gāthāhi subhāsitāhi.
O Queen, princess of Pañcāla, just as a strong person might pull out and rescue a weak man sunk in the great mud and the lesser mire, even so have you, with these well-spoken verses, rescued me from the mire of sensual pleasures.
Hỡi nàng Pañcālī, ví như người có sức mạnh cứu vớt người yếu đuối bị chìm đắm trong vũng bùn và bãi lầy; cũng vậy, nàng đã cứu vớt ta bằng những câu kệ khéo nói.
356.
356.
356.
Idaṃ vatvā mahārājā, esukārī disampati;
Raṭṭhaṃ hitvāna pabbaji, nāgo chetvāva bandhanaṃ.
Having said this, the great king Esukārī, lord of the land, abandoned the kingdom and went forth, just like a great elephant breaking its bonds.
Sau khi nói lời này, đại vương Esukārī, chúa tể của phương hướng, đã từ bỏ vương quốc và xuất gia, như con voi chúa phá tan xiềng xích.
357.
357.
357.
Rājā ca pabbajjamarocayittha, raṭṭhaṃ pahāya naravīraseṭṭho;
Tuvampi no hoti yatheva rājā, amhehi guttā anusāsa rajjaṃ.
Noble Queen, the king, most excellent and heroic among men, has abandoned the kingdom and taken delight in the ascetic life. Now, you too, be our ruler just as the king was. Protected by us, please govern the kingdom.
Đức vua, bậc anh hùng tối thắng trong loài người, đã từ bỏ vương quốc và ưa thích sự xuất gia. Cũng như đức vua, xin bà hãy là vua của chúng tôi. Được chúng tôi bảo vệ, xin bà hãy trị vì vương quốc.
358.
358.
358.
Rājā ca pabbajjamarocayittha, raṭṭhaṃ pahāya naravīraseṭṭho;
Ahampi ekā † carissāmi loke, hitvāna kāmāni manoramāni.
O citizens, the king, most excellent and heroic among men, has abandoned the kingdom and taken delight in the ascetic life. I too, having abandoned the delightful sensual pleasures in this world, shall live alone, free from worldly constraints.
Đức vua, bậc anh hùng tối thắng trong loài người, đã từ bỏ vương quốc và ưa thích sự xuất gia. Tôi cũng vậy, sẽ sống một mình trong thế gian, sau khi từ bỏ các dục lạc làm say đắm lòng người.
359.
359.
359.
Rājā ca pabbajjamarocayittha, raṭṭhaṃ pahāya naravīraseṭṭho;
Ahampi ekā carissāmi loke, hitvāna kāmāni yathodhikāni.
O citizens, the king, most excellent and heroic among men, has abandoned the kingdom and taken delight in the ascetic life. I too, having abandoned all sensual pleasures whatsoever that exist in this world, shall live alone, free from worldly constraints.
Đức vua, bậc anh hùng tối thắng trong loài người, đã từ bỏ vương quốc và ưa thích sự xuất gia. Tôi cũng vậy, sẽ sống một mình trong thế gian, sau khi từ bỏ các dục lạc trong phạm vi của chúng.
360.
360.
360.
Accenti kālā tarayanti rattiyo, vayoguṇā anupubbaṃ jahanti;
Ahampi ekā carissāmi loke, hitvāna kāmāni manoramāni.
O citizens, times pass by, nights hasten on, consuming our life-force; the stages of life, in succession, abandon us. I too, having abandoned the delightful sensual pleasures in this world, shall live alone, free from worldly constraints.
Thời gian trôi qua, những đêm dài lướt tới, các giai đoạn của tuổi tác lần lượt từ bỏ (chúng ta). Tôi cũng vậy, sẽ sống một mình trong thế gian, sau khi từ bỏ các dục lạc làm say đắm lòng người.
361.
361.
361.
Accenti kālā tarayanti rattiyo, vayoguṇā anupubbaṃ jahanti;
Ahampi ekā carissāmi loke, hitvāna kāmāni yathodhikāni.
O citizens, times pass by, nights hasten on, consuming our life-force; the stages of life, in succession, abandon us. I too, having abandoned all sensual pleasures whatsoever that exist in this world, shall live alone, free from worldly constraints.
Thời gian trôi qua, những đêm dài lướt tới, các giai đoạn của tuổi tác lần lượt từ bỏ (chúng ta). Tôi cũng vậy, sẽ sống một mình trong thế gian, sau khi từ bỏ các dục lạc trong phạm vi của chúng.
362.
362.
362.
Accenti kālā tarayanti rattiyo, vayoguṇā anupubbaṃ jahanti;
Ahampi ekā carissāmi loke, sītibhūtā † sabbamaticca saṅganti.
O citizens, times pass by, nights hasten on, consuming our life-force; the stages of life, in succession, abandon us. I too shall live alone in this world, having become cool and peaceful, having transcended all attachment.
Thời gian trôi qua, những đêm dài lướt tới, các giai đoạn của tuổi tác lần lượt từ bỏ (chúng ta). Tôi cũng vậy, sẽ sống một mình trong thế gian, trở nên thanh lương, vượt qua mọi chấp thủ.
Hatthipālajātakaṃ terasamaṃ.
The Hatthipāla Jātaka, the Thirteenth.
Bổn sanh Hatthipāla, câu chuyện thứ mười ba.
510. Ayogharajātakaṃ (14)
510. The Ayoghara Jātaka (14)
510. Bổn sanh Ayoghara (14)
363.
363.
363.
Yamekarattiṃ paṭhamaṃ, gabbhe vasati māṇavo;
Abbhuṭṭhitova so yāti †, sagacchaṃ na nivattati.
On whichever first night a being dwells in the womb, from then on he goes forth as one who has set out; he proceeds on his journey and does not turn back.
Vào đêm đầu tiên mà một chúng sanh trú trong bụng mẹ, kể từ đó nó đi tới như người đã đứng dậy, và trong khi đi, nó không quay trở lại.
364.
364.
364.
Na yujjhamānā na balenavassitā, narā na jīranti na cāpi miyyare;
Sabbaṃ hidaṃ † jātijarāyupaddutaṃ, taṃ me matī hoti carāmi dhammaṃ.
Neither those who fight nor those endowed with strength escape old age, nor do they escape death. This entire world is oppressed by birth, old age, and death. Therefore, my mind is resolved: I will practice the Dhamma.
Không phải những người đang chiến đấu, không phải những người có sức mạnh, là không già đi và cũng không chết; Tất cả chúng sanh này đều bị sanh và già áp bức, vì thế con có ý định thực hành Chánh pháp.
365.
365.
365.