Bản dịch
JA 508 — Chuyện n ăm vị Hiền nhân (Tiền thân Panca-Pandita)
12. Pañcapaṇḍitajātaka
12. CÂU HỎI DÀNH CHO NĂM BẬC NHÂN SĨ
2642. “Năm bậc nhân sĩ đã tụ hội lại. Có câu hỏi lóe lên ở trẫm, các vị hãy lắng nghe điều ấy. Có nên bày tỏ việc cần phải giấu kín đến người nào khác, cho dầu là việc đáng bị chê bai hay là việc đáng được khen ngợi?”
2643. “Tâu đấng hộ quốc, xin bệ hạ hãy bày tỏ với chúng thần. Bệ hạ là chủ nhân, là người nâng đỡ gánh nặng cho chúng thần, xin bệ hạ hãy nói ra. Tâu vị chúa của loài người, sau khi nắm bắt được mong muốn và ý thích của bệ hạ, khi ấy năm vị sáng trí sẽ phát biểu.”
2644. “Cho dầu là việc đáng bị chê bai hay là việc đáng được khen ngợi, nên bày tỏ việc cần phải giấu kín đến người vợ, (nếu) nàng là người có giới hạnh, không thể bị xúi giục bởi người khác, hợp ý, chiều theo sự mong muốn và mệnh lệnh của chồng.”
2645. “Cho dầu là việc đáng bị chê bai hay là việc đáng được khen ngợi, nên bày tỏ việc cần phải giấu kín đến người bạn, (nếu) vị ấy là nơi nương tựa, nơi đi đến, nơi nâng đỡ của người gặp khó khăn, của người bị bệnh.”
2646. “Cho dầu là việc đáng bị chê bai hay là việc đáng được khen ngợi, nên bày tỏ việc cần phải giấu kín đến anh em trai, là người anh cả, anh thứ, hay em út, nếu người ấy có giới hạnh, trầm tĩnh, có bản tánh kiên định.”
2647. “Cho dầu là việc đáng bị chê bai hay là việc đáng được khen ngợi, nên bày tỏ việc cần phải giấu kín đến người con trai, là người tuân phục sự sai bảo của cha, người con tiếp nối sự nghiệp của cha, có trí tuệ không kém cỏi.”
2648. “Tâu vị chúa tối thượng của loài người có hai chân, cho dầu là việc đáng bị chê bai hay là việc đáng được khen ngợi, nên bày tỏ việc cần phải giấu kín đến người mẹ, là người mẹ nuôi dưỡng kẻ ấy với sự mong mỏi, với sự yêu mến.”
2649. “Riêng đối với việc cần phải giấu kín, chỉ có việc giấu kín là tốt, bởi vì đối với việc cần phải giấu kín, sự bày tỏ là không được khen ngợi. Khi việc chưa được hoàn tất, vị sáng trí nên chịu đựng; khi việc đã được hoàn tất, thì có thể nói một cách thoải mái.”
2650. “Tâu chúa thượng, việc gì khiến bệ hạ ưu tư? Tâu vị chúa của loài người, bọn thiếp không nghe nói gì về việc ấy. Trong khi suy nghĩ về việc gì mà ngài phiền muộn? Tâu bệ hạ, không lẽ thiếp có lỗi lầm gì chăng?”
2651. “‘Kẻ có trí Mahosadha đáng bị giết chết,’ (nghe vậy) trẫm đã ra lệnh hành quyết bậc có trí tuệ uyên bác. Trong khi suy nghĩ về việc ấy khiến trẫm phiền muộn. Này hoàng hậu, nàng chẳng có lỗi lầm gì.”
2652. “Tối hôm qua khanh đã ra về, bây giờ khanh đi đến. Khanh đã nghe điều gì? Ý của khanh nghi ngờ điều gì? Này bậc có trí tuệ uyên bác, người nào đã nói điều gì với khanh? Nào, hãy cho chúng ta nghe lời nói ấy. Khanh hãy nói điều ấy với trẫm.”
2653. “Tâu vị chúa của loài người, nếu điều đã được nói ra bởi bệ hạ tối hôm qua rằng: ‘Kẻ có trí Mahosadha đáng bị giết chết,’ rồi bệ hạ đã tiết lộ cho người vợ ở nơi kín đáo. (Như thế) việc cần phải giấu kín đã được rõ ràng, (bởi vì) thần đã nghe được điều ấy.
2654. Việc Senaka đã làm hành động xấu xa, có hình thức không tốt lành, ở khu rừng cây sāla, rồi đã tiết lộ cho người bạn ở nơi kín đáo. (Như thế) việc cần phải giấu kín đã được rõ ràng, (bởi vì) thần đã nghe được điều ấy.
2655. Tâu vị chúa của loài người, Pukkusa, người của bệ hạ, đã bị phát khởi chứng bệnh (phong cùi), không thích hợp để đức vua chạm đến. Lão đã tiết lộ cho người em trai ở nơi kín đáo. (Như thế) việc cần phải giấu kín đã được rõ ràng, (bởi vì) thần đã nghe được điều ấy.
2656. Căn bệnh này có hình thức không tốt lành, Kāvinda bị ám ảnh bởi Dạ-xoa Naradeva. Lão đã tiết lộ cho người con trai ở nơi kín đáo. (Như thế) việc cần phải giấu kín đã được rõ ràng, (bởi vì) thần đã nghe được điều ấy.
2657. Thiên chủ Sakka đã cho đến ông nội của bệ hạ viên bảo ngọc ma-ni tuyệt hảo, có tám mặt. Hôm nay, viên ngọc ấy đã rơi vào tay của Devinda. Lão đã tiết lộ cho người mẹ ở nơi kín đáo. (Như thế) việc cần phải giấu kín đã được rõ ràng, (bởi vì) thần đã nghe được điều ấy.
2658. Riêng đối với việc cần phải giấu kín, chỉ có việc giấu kín là tốt, bởi vì đối với việc cần phải giấu kín, sự bày tỏ là không được khen ngợi. Khi việc chưa được hoàn tất, vị sáng trí nên chịu đựng; khi việc đã được hoàn tất, thì có thể nói một cách thoải mái.
2659. Không nên bộc lộ điều cần được giấu kín; nên bảo vệ nó như là của chôn giấu. Bởi vì, người có sự nhận thức làm rõ ràng điều cần được giấu kín là không tốt đẹp.
2660. Vị sáng suốt không nên tiết lộ bí mật cho phụ nữ, cho kẻ đối nghịch, là hạng có thể bị mua chuộc bởi tài vật và hạng người giả vờ kết thân.
2661. Người nào cho biết việc cần phải giấu kín đến kẻ không biết do nỗi sợ hãi về chú thuật hay về sự đổ vỡ quan hệ đối với kẻ ấy, thì phải chịu đựng thân phận làm nô lệ (cho kẻ biết được ấy).
2662. Càng có nhiều kẻ biết được điều cần được giấu kín của một người (do) đã được thổ lộ, thì càng có nhiều kích động đối với người ấy; vì thế, không nên thố lộ điều bí mật.
2663. Vào ban ngày, nên tách ly rồi mới nói điều bí mật, vào ban đên không nên thốt ra lời quá nhiều thời gian. Bởi vì những kẻ nghe lén lắng nghe điều thố lộ; vì thế, điều thố lộ mau chóng đi đến việc rò rỉ.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Tvaṃ āvikarohi bhūmipāla, bhattā bhārasaho tuvaṃ vade taṃ;
Tava chandarucīni † sammasitvā, atha vakkhanti janinda pañca dhīrā.
O protector of the earth, you should speak first. O lord of men, you are our master, the bearer of our burdens. You should state this matter first. Afterwards, having considered your wishes and inclinations, the five wise men will speak.
Tâu Hộ địa vương, chính ngài hãy tiết lộ trước. Ngài là chủ của chúng tôi, là người gánh vác trọng trách, xin ngài hãy nói ra điều đó. Sau khi suy xét ý muốn và sở thích của ngài, bấy giờ, tâu Nhân chủ, năm vị hiền triết sẽ trình bày.
317.
317.
317.
Yā sīlavatī anaññatheyyā †, bhattucchandavasānugā (piyā) † manāpā;
Nindiyamatthaṃ pasaṃsiyaṃ vā, bhariyāyāvikareyya † guyhamatthaṃ.
To a wife who is virtuous, not to be seduced by another, who follows her husband's will, who is beloved and pleasing to the heart—to such a wife one may make manifest a secret matter, whether it be blameworthy or praiseworthy.
Người vợ nào có giới hạnh, không thể bị người khác dụ dỗ, luôn thuận theo ý muốn của chồng, đáng yêu và vừa ý; đối với người vợ ấy, có thể tiết lộ việc bí mật, dù đáng chê hay đáng khen.
318.
318.
318.
Yo kicchagatassa āturassa, saraṇaṃ hoti gatī parāyanañca;
Nindiyamatthaṃ pasaṃsiyaṃ vā, sakhino vāvikareyya guyhamatthaṃ.
To a friend who is a refuge, a destination, and a support for one who is in distress and afflicted—to such a friend one may make manifest a secret matter, whether it be blameworthy or praiseworthy.
Người bạn nào là nơi nương tựa, là nơi đến, và là nơi trú ẩn cho người gặp khó khăn, đau khổ; đối với người bạn ấy, có thể tiết lộ việc bí mật, dù đáng chê hay đáng khen.
319.
319.
319.
Jeṭṭho † atha majjhimo kaniṭṭho, yo † ce sīlasamāhito ṭhitatto;
Nindiyamatthaṃ pasaṃsiyaṃ vā, bhātu vāvīkareyya guyhamatthaṃ.
To a brother—whether he be the eldest, the middle, or the youngest—who is endowed with virtue and is of a steadfast nature, one may make manifest a secret matter, whether it be blameworthy or praiseworthy.
Người anh cả, hoặc anh giữa, hoặc em út, nếu người ấy có giới hạnh và tâm kiên định; đối với người anh em ấy, có thể tiết lộ việc bí mật, dù đáng chê hay đáng khen.
320.
320.
320.
Yo ve pituhadayassa paddhagū †, anujāto pitaraṃ anomapañño;
Nindiyamatthaṃ pasaṃsiyaṃ vā, puttassāvikareyya † guyhamatthaṃ.
To a son who truly follows his father's bidding, acts according to his father's heart, is a worthy heir to his father, and is of no mean wisdom—to such a son one may make manifest a secret matter, whether it be blameworthy or praiseworthy.
Người con trai nào thật sự thấu hiểu lòng cha, là người con xứng đáng với cha, có trí tuệ không thấp kém; đối với người con trai ấy, có thể tiết lộ việc bí mật, dù đáng chê hay đáng khen.
321.
321.
321.
Mātā dvipadājanindaseṭṭha, yā naṃ † poseti chandasā piyena;
Nindiyamatthaṃ pasaṃsiyaṃ vā, mātuyāvīkareyya † guyhamatthaṃ.
O lord of men, best of bipeds, to the mother who nourishes her child according to her will and with love—to such a mother one may make manifest a secret matter, whether it be blameworthy or praiseworthy.
Tâu đấng tối thắng giữa loài hai chân, tâu Nhân chủ! Người mẹ nào nuôi dưỡng con với lòng thương yêu và trìu mến; đối với người mẹ ấy, có thể tiết lộ việc bí mật, dù đáng chê hay đáng khen.
322.
322.
322.
Guyhassa hi guyhameva sādhu, na hi guyhassa pasatthamāvikammaṃ;
Anipphannatā † saheyya dhīro, nipphannova † yathāsukhaṃ bhaṇeyya.
Indeed, for a secret, secrecy itself is good; the revealing of a secret is not praised. As long as one's purpose is unaccomplished, the wise person should endure. Only when it is accomplished may one speak as one wishes.
Thật vậy, đối với việc bí mật, giữ bí mật là điều tốt; việc tiết lộ điều bí mật không được tán dương. Khi việc chưa thành, người trí nên nhẫn chịu. Chỉ khi việc đã thành, mới có thể nói ra tùy thích.
323.
323.
323.
Kiṃ tvaṃ vimanosi rājaseṭṭha, dvipadajaninda † vacanaṃ suṇoma metaṃ †;
Kiṃ cintayamāno dummanosi, nūna deva aparādho atthi mayhaṃ.
Why are you displeased, O best of kings, O lord of bipeds? We wish to hear the reason. Thinking of what are you so sorrowful? Surely, O lord, there is some fault in me.
Vì sao ngài ưu phiền, tâu đấng vương quân tối thắng, tâu Nhân chủ? Chúng tôi xin lắng nghe lời ấy. Vì suy tư điều gì mà ngài buồn rầu? Tâu Thiên tử, chắc hẳn thần thiếp có lỗi lầm gì chăng?
324.
324.
324.
‘‘Paṇhe † vajjho mahosadho’’ti, āṇatto me vadhāya bhūripañño;
Taṃ cintayamāno dummanosmi, na hi devī aparādho atthi tuyhaṃ.
‘Mahosadha, the one of vast wisdom, is to be killed in the morning.’ For his execution, the order was given by me. Thinking of that, I am sorrowful. Indeed, O queen, there is no fault in you.
‘Vào buổi sáng, Mahosadha phải bị giết’, người có trí tuệ rộng lớn ấy đã bị ta ra lệnh xử tử. Vì suy tư về điều đó mà ta buồn rầu. Thật vậy, tâu hoàng hậu, nàng không có lỗi lầm gì cả.
325.
325.
325.
Abhidosagato dāni ehisi, kiṃ sutvā kiṃ saṅkate mano te;
Ko te kimavoca bhūripañña, iṅgha vacanaṃ suṇoma brūhi metaṃ.
O you of vast wisdom, having left yesterday evening, you have only now returned. Having heard what does your mind suspect? Who said what to you? Come, speak of this matter; we wish to hear your words.
Ngài đã đi từ tối qua, bây giờ mới đến. Nghe được điều gì mà tâm ngài nghi ngại điều chi? Tâu bậc đại trí, ai đã nói gì với ngài? Nào, hãy nói ra lời ấy cho chúng tôi nghe.
326.
326.
326.
‘‘Paṇhe vajjho mahosadho’’ti, yadi te mantayitaṃ janinda dosaṃ;
Bhariyāya rahogato asaṃsi, guyhaṃ pātukataṃ sutaṃ mametaṃ.
O lord of men, because you declared, ‘Mahosadha is to be killed in the morning,’ you therefore spoke of this matter to your wife last night while in a secluded place. This secret, thus made manifest, was heard by me.
‘Vào buổi sáng, Mahosadha phải bị giết’, đó là điều ngài đã bàn bạc vào tối qua, tâu Nhân chủ. Ngài đã đến nơi riêng tư và nói với vợ. Việc bí mật được tiết lộ ấy, tôi đã nghe được.
327.
327.
327.
Yaṃ sālavanasmiṃ senako, pāpakammaṃ akāsi asabbhirūpaṃ;
Sakhinova rahogato asaṃsi, guyhaṃ pātukataṃ sutaṃ mametaṃ.
O great king, the unseemly evil deed that Senaka committed in the sāl-tree grove—being in a secluded place, he spoke of it to a friend. This secret, thus made manifest, was heard by me.
Việc ác, hành động không xứng đáng, mà Senaka đã làm trong rừng Sāla; ông ta đã đến nơi riêng tư và chỉ nói với bạn mình. Việc bí mật được tiết lộ ấy, tôi đã nghe được.
328.
328.
328.
Pukkusa † purisassa te janinda, uppanno rogo arājayutto;
Bhātuñca † rahogato asaṃsi, guyhaṃ pātukataṃ sutaṃ mametaṃ.
O lord of men, a disease unbefitting for royalty has arisen in your man, Pukkusa. Being in a secluded place, he spoke of it only to his brother. This secret, thus made manifest, was heard by me.
Tâu Nhân chủ, người của ngài là Pukkusa đã mắc phải một căn bệnh không xứng với hoàng gia. Ông ta đã đến nơi riêng tư và nói với em trai mình. Việc bí mật được tiết lộ ấy, tôi đã nghe được.
329.
329.
329.
Ābādhoyaṃ asabbhirūpo, kāmindo † naradevena phuṭṭho;
Puttassa rahogato asaṃsi, guyhaṃ pātukataṃ sutaṃ mametaṃ.
This Kāma, afflicted by the yakkha Naradeva with an unseemly disease, spoke of it to his son while in a secluded place. This secret, thus made manifest, was heard by me.
Căn bệnh không xứng đáng này, Kāminda đã bị dạ-xoa Naradeva ám. Ông ta đã đến nơi riêng tư và nói với con trai mình. Việc bí mật được tiết lộ ấy, tôi đã nghe được.
330.
330.
330.
Aṭṭhavaṅkaṃ maṇiratanaṃ uḷāraṃ, sakko te adadā pitāmahassa;
Devindassa gataṃ tadajja hatthaṃ †, mātuñca rahogato asaṃsi;
Guyhaṃ pātukataṃ sutaṃ mametaṃ.
O great king, the excellent, eight-cornered jewel-gem that Sakka gave to your grandfather is now in the hands of Devinda. That Devinda, being in a secluded place, spoke of it only to his mother. This secret, thus made manifest, was heard by me.
Viên ngọc quý tám cạnh tuyệt hảo mà Đế-thích đã ban cho ông nội của ngài; hôm nay nó đã vào tay của Devinda. Ông ta đã đến nơi riêng tư và nói với mẹ mình. Việc bí mật được tiết lộ ấy, tôi đã nghe được.
331.
331.
331.
Guyhassa hi guyhameva sādhu, na hi guyhassa pasatthamāvikammaṃ;
Anipphannatā saheyya dhīro, nipphannova yathāsukhaṃ bhaṇeyya.
Indeed, for a secret, secrecy itself is good; the revealing of a secret is not praised. As long as one's purpose is unaccomplished, the wise person should endure. Only when it is accomplished may one speak as one wishes.
Thật vậy, đối với việc bí mật, giữ bí mật là điều tốt; việc tiết lộ điều bí mật không được tán dương. Khi việc chưa thành, người trí nên nhẫn chịu. Chỉ khi việc đã thành, mới có thể nói ra tùy thích.
332.
332.
332.
Na guyhamatthaṃ vivareyya, rakkheyya naṃ yathā nidhiṃ;
Na hi pātukato sādhu, guyho attho pajānatā.
One should not reveal a secret matter; one should guard it as one would a treasure. For a secret matter, when made manifest by one who knows it, is indeed not good.
Không nên tiết lộ việc bí mật, nên gìn giữ nó như kho tàng. Đối với người hiểu biết, việc bí mật bị tiết lộ là điều không tốt.
333.
333.
333.
Thiyā guyhaṃ na saṃseyya, amittassa ca paṇḍito;
Yo cāmisena saṃhīro, hadayattheno ca yo naro.
A wise person should not speak of a secret to a woman or to an enemy; nor to one who can be enticed by material gain, nor to a person who, being an enemy, steals one's heart like a friend.
Người trí không nên nói điều bí mật cho phụ nữ, cho kẻ thù, cho người bị mua chuộc bởi lợi lộc, và cho kẻ giả làm bạn mà trộm mất lòng tin.
334.
334.
334.
Guyhamatthaṃ asambuddhaṃ, sambodhayati yo naro;
Mantabhedabhayā tassa, dāsabhūto titikkhati.
If another person comes to know a secret matter previously unknown to others, the wise one, from fear of the counsel being broken, must endure that person as if one were his slave.
Người nào biết được việc bí mật chưa được biết đến; vì sợ bí mật bị tiết lộ, người kia phải nhẫn chịu, trở thành như người nô lệ của kẻ đó.
335.
335.
335.
Yāvanto purisassatthaṃ, guyhaṃ jānanti mantinaṃ;
Tāvanto tassa ubbegā, tasmā guyhaṃ na vissaje.
However many people know the secret counsel of a man, that is how many sources of alarm there are for him. Therefore, one should not release a secret.
Có bao nhiêu người mưu sĩ biết được việc bí mật của một người, thì người ấy có bấy nhiêu nỗi lo sợ. Vì vậy, không nên tiết lộ điều bí mật.
336.
336.
336.
Vivicca bhāseyya divā rahassaṃ, rattiṃ giraṃ nātivelaṃ pamuñce;
Upassutikā hi suṇanti mantaṃ, tasmā manto khippamupeti bhedanti.
By day, one should speak of a secret matter only in a secluded place; at night, one should not raise one's voice too loud. For eavesdroppers hear the counsel, and for that reason, the counsel is quickly broken.
Vào ban ngày, nên nói chuyện bí mật ở nơi vắng vẻ; vào ban đêm, không nên phát ra lời nói quá lớn tiếng. Vì những kẻ nghe lén sẽ nghe được mưu kế, do đó mưu kế nhanh chóng bị bại lộ.
Pañcapaṇḍitajātakaṃ dvādasamaṃ.
The Jātaka of the Five Wise Men, the Twelfth.
Chuyện Bổn Sanh Pañcapaṇḍita, phần thứ mười hai.