Bản dịch
JA 507 — Chuyện sức cám dỗ mạnh (Tiền thân Mahà-Palobhana)
11. Mahāpalobhanajātaka
11. BỔN SANH SỰ CÁM DỖ LỚN
2612. Vị Thiên tử có đại thần lực, sau khi chết đi từ thế giới Phạm Thiên, đã sanh làm con trai của một vị vua có sự thành tựu của tất cả các dục.
2613. Dục hay dục tưởng không hiện hữu ở thế giới Phạm Thiên. Nhờ vào tưởng về thiền định đã phát sanh ở chính thế giới Phạm Thiên ấy, vị hoàng tử ấy ghê tởm đối với các dục.
2614. Và có một thiền thất đã khéo được tạo lập ở nội cung cho vị hoàng tử. Tại nơi ấy, được yên tịnh, vị ấy, một mình, đã tham thiền trong sự cô tịch.
2615. Bị phiền muộn bởi nỗi sầu muộn về đứa con trai, đức vua ấy đã than vãn rằng: “Ta có mỗi một đứa con trai này, và nó không thọ hưởng các dục.
2616. Vậy ở đây có phương thức nào, hoặc ai biết được điều gì đó, người nào có thể cám dỗ con trai của trẫm khiến cho nó có thể thèm muốn các dục?”
2617. Ngay tại nơi (hoàng cung) ấy, đã có một thiếu nữ được hội đủ dáng vóc và sắc đẹp, thiện xảo về múa ca, và thành thạo về tấu nhạc. Nàng ấy đã đi đến nơi ấy và đã nói với đức vua điều này:
2618. “Tiện nữ chắc chắn có thể cám dỗ được hoàng tử, nếu hoàng tử sẽ trở thành chồng (của thiếp). Đức vua đã nói với người thiếu nữ có lời nói như thế ấy điều này: “Chính nàng hãy cám dỗ hoàng tử, hoàng tử sẽ trở thành chồng của nàng.”
2619. Và sau khi đi đến nội cung, nàng ấy, với nhiều kiểu cách liên hệ đến dục, đã nói lên những kệ ngôn hoa mỹ, đáng yêu, đi vào trái tim.
2620. Và sau khi lắng nghe âm thanh của người phụ nữ ấy trong khi nàng ấy đang ca hát, ước muốn về dục đã sanh khởi đến vị hoàng tử. Vị ấy đã hỏi người hầu rằng:
2621. “Âm thanh ấy là của người nào? Ai là người nói với ta nhiều lời nói trầm bổng, đi vào trái tim, đáng yêu, êm tai vậy?”
2622. “Tâu hoàng tử, nàng ấy đúng là kiều nữ. Nàng ấy là thú tiêu khiển không phải tầm thường. Nếu ngài có thể thọ hưởng các dục, các dục có thể khiến ngài vui sướng nhiều hơn, nhiều hơn nữa.
2623. “Nào, hãy để nàng đến gần hơn, hãy để nàng ca hát ở nơi không xa. Hãy để nàng ca hát ở nơi kế cận thiền thất, trong sự hiện diện của ta.”
2624. Sau khi đã ca hát ở bên kia bức tường (ở phía ngoài), nàng đã đi vào thiền thất. Nàng đã từ từ trói buộc hoàng tử, tựa như trói buộc con voi rừng.
2625. Sau khi biết được hương vị của dục, vị hoàng tử đã khởi lên pháp ganh tỵ (nói rằng): “Chỉ có ta mới có thể thọ hưởng các dục, chẳng có người đàn ông nào khác (được phép thọ hưởng).”
2626. Sau đó, vị hoàng tử đã cầm lấy thanh gươm rồi đã ra sức giết chết những người đàn ông (nói rằng): “Chỉ có một mình ta mới có thể thọ hưởng, chẳng có người đàn ông nào khác (được phép thọ hưởng)”
2627. Do đó, tất cả dân chúng đã tụ hội lại kêu than rằng: “Tâu đại vương, gã con trai này của ngài hãm hại người dân vô tội.”
2628. Và đức vua, vị Sát-đế-lỵ, đã trục xuất hoàng tử ra khỏi xứ sở của mình (nói rằng): “Con không được sống ở trong lãnh địa của trẫm.”
2629. Sau đó, vị hoàng tử ấy đã mang theo người vợ rồi đi về phía bờ biển. Vị ấy đã tạo nên một gian nhà lá, rồi đã đi vào rừng để thu nhặt củ quả.
2630. Rồi có vị ẩn sĩ đã lướt đi ở ngay trên mặt biển và đến tại nơi này,. Vị ấy đi vào căn nhà của hoàng tử vào lúc bữa ăn đã cận kề.
2631. Và người vợ đã cám dỗ vị ẩn sĩ ấy. Hãy nhìn xem việc làm vô cùng tàn nhẫn đến chừng nào! Vị ấy đã bị lìa khỏi Phạm hạnh và đã mất hẳn thần thông.
2632. Còn vị hoàng tử, vào buổi chiều, đã dùng giỏ đeo vai mang vác nhiều rễ và trái cây rừng do việc thu nhặt, rồi đã đi về lại khu ẩn cư.
2633. Và vị ẩn sĩ, sau khi nhìn thấy vị Sát-đế-lỵ, đã đi về phía biển cả (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ ra đi bằng đường không trung;’ vị ấy chìm xuống ở đại dương.
2634. Còn vị Sát-đế-lỵ, sau khi nhìn thấy vị ẩn sĩ đang chìm xuống ở đại dương, vì lòng thương xót đối với chính vị ấy, đã nói những lời kệ này:
2635. “Sau khi tự mình đi đến bằng thần thông ở mặt nước không bị xao động, sau khi đi đến trạng thái chung chạ cùng với phụ nữ, ngài chìm xuống ở đại dương.
2636. Có sức quyến rũ, có nhiều xảo trá, có sự làm tổn hại Phạm hạnh, các nàng ấy (sẽ) đọa (địa ngục); sau khi biết được điều ấy, nên lánh xa các nàng.
2637. Các nàng ấy có lối nói mềm mỏng, không hề biết đủ, tựa như dòng sông, khó làm cho tràn đầy, các nàng ấy (sẽ) đọa (địa ngục); sau khi biết được điều ấy, nên lánh xa các nàng.
2638. Các nàng hầu hạ người nào, dầu do sự mong muốn hay vì tài sản, các nàng thiêu hủy người ấy một cách mau chóng, tựa như ngọn lửa đốt cháy nhiên liệu.”
2639. Sau khi lắng nghe lời nói của vị Sát-đế-lỵ, sự nhàm chán (các dục) đã sanh khởi đến vị ẩn sĩ. Sau khi đạt được đạo lộ cũ, vị ấy ra đi bằng đường không trung.
2640. Còn vị Sát-đế-lỵ, sau khi nhìn thấy vị ẩn sĩ đang ra đi bằng đường không trung, bậc sáng trí đã đạt đến trạng thái chấn động, đã vui thích việc xuất gia.
2641. Sau đó, khi đã xuất gia, vị ấy đã dứt trừ sự luyến ái ở các dục. Sau khi đã dứt trừ sự luyến ái ở các dục, vị ấy đã đạt đến thế giới Phạm Thiên.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Kāmā vā kāmasaññā vā, brahmaloke na vijjati;
Svāssu † tāyeva saññāya, kāmehi vijigucchatha.
In the Brahma-world, neither sensual pleasures nor the perception of sensual pleasures exist; with that very perception, he was disgusted by sensual pleasures.
Ở cõi Phạm Thiên, không có các dục lạc hay dục tưởng. Do chính tưởng ấy, vị ấy đã nhàm chán các dục lạc.
286.
286.
286.
Tassa cantepure āsi, jhānāgāraṃ sumāpitaṃ;
So tattha paṭisallīno †, eko rahasi jhāyatha.
For him, in the inner palace, there was a well-constructed jhāna-house; there, withdrawn in seclusion, he meditated alone.
Vị ấy có một thiền đường được xây cất khéo léo trong nội cung. Ở đó, vị ấy sống độc cư, một mình thiền định trong nơi thanh vắng.
287.
287.
287.
Sa rājā paridevesi, puttasokena aṭṭito;
Ekaputto cayaṃ mayhaṃ, na ca kāmāni bhuñjati.
That king, afflicted with sorrow for his son, lamented: ‘This is my only son, and he does not enjoy sensual pleasures.’
Vị vua ấy, bị sầu muộn về con trai hành hạ, đã than khóc rằng: 'Đây là đứa con độc nhất của ta, mà nó lại không hưởng thụ các dục lạc.'
288.
288.
288.
Ko nu khvettha † upāyo so, ko vā jānāti kiñcanaṃ;
Yo † me puttaṃ palobheyya, yathā kāmāni patthaye.
What means is there for this? Who knows of any way? Who could entice my son, so that he might desire sensual pleasures?
Vậy phương kế ở đây là gì? Có ai biết được điều gì chăng? Ai có thể quyến rũ con trai ta, để nó có thể mong muốn các dục lạc?
289.
289.
289.
Ahu kumārī tattheva, vaṇṇarūpasamāhitā;
Kusalā naccagītassa, vādite ca padakkhiṇā.
There was a maiden right there, endowed with beauty and form, skilled in dance and song, and accomplished in playing instruments.
Ngay tại nơi ấy, có một thiếu nữ, dung sắc vẹn toàn, khéo léo về ca vũ, và tài giỏi về nhạc khí.
290.
290.
290.
Sā tattha upasaṅkamma, rājānaṃ etadabravi;
Ahaṃ kho naṃ palobheyyaṃ, sace bhattā bhavissati.
Approaching the king there, she said this: ‘I indeed could entice him, if he would be my husband.’
Nàng đến đó, lại gần đức vua và thưa rằng: 'Thần thiếp quả thật có thể quyến rũ được vị ấy, nếu vị ấy sẽ trở thành chồng của thần thiếp.'
291.
291.
291.
Taṃ tathāvādiniṃ rājā, kumāriṃ etadabravi;
Tvaññeva naṃ palobhehi, tava bhattā bhavissati.
To the maiden who spoke thus, the king said this: ‘You yourself entice him; he will be your husband.’
Với thiếu nữ đã nói như vậy, đức vua đáp lời này: 'Chính nàng hãy quyến rũ nó. Nó sẽ là chồng của nàng.'
292.
292.
292.
Sā ca antepuraṃ gantvā, bahuṃ kāmupasaṃhitaṃ;
Hadayaṅgamā pemanīyā, citrā gāthā abhāsatha.
And she, having gone to the inner palace, sang many varied verses connected with sensual pleasure, which were heart-captivating and endearing.
Và nàng, sau khi đi vào nội cung, đã hát lên nhiều bài kệ đa dạng, liên quan đến dục lạc, những bài kệ làm say đắm lòng người và đáng yêu mến.
293.
293.
293.
Tassā ca gāyamānāya, saddaṃ sutvāna nāriyā;
Kāmacchandassa uppajji, janaṃ so paripucchatha.
Having heard the sound of that woman singing, sensual desire arose in him; he questioned his attendant:
Và khi nghe tiếng hát của người phụ nữ ấy, dục vọng đã khởi lên nơi vị ấy. Vị ấy bèn hỏi người hầu cận.
294.
294.
294.
Kasseso saddo ko vā so, bhaṇati uccāvacaṃ bahuṃ;
Hadayaṅgamaṃ pemanīyaṃ, aho † kaṇṇasukhaṃ mama.
‘Whose sound is this? Or who is it that sings so much, high and low, heart-captivating and endearing? Oh, what a pleasure for my ears!’
Tiếng này của ai vậy? Hay ai đó đang hát lên nhiều âm điệu cao thấp, làm say đắm lòng người và đáng yêu mến? Ôi, thật là êm tai cho ta!
295.
295.
295.
Esā kho pamadā deva, khiḍḍā esā anappikā †;
Sace tvaṃ kāme bhuñjeyya, bhiyyo bhiyyo chādeyyu taṃ.
‘This, indeed, is a woman, O lord. This is no small sport. If you were to enjoy sensual pleasures, they would overwhelm you more and more.’
Thưa điện hạ, đó quả là một người phụ nữ. Đây là một trò vui không nhỏ. Nếu ngài hưởng thụ các dục lạc, chúng sẽ làm ngài vui thích càng lúc càng nhiều hơn.
296.
296.
296.
Iṅgha āgacchatorena †, avidūramhi gāyatu;
Assamassa samīpamhi, santike mayhaṃ gāyatu.
‘Come now, quickly! Let her sing not far away. Let her sing near my dwelling, let her sing in my presence.’
Này, hãy mau đến đây! Hãy để nàng hát ở nơi không quá xa, hãy để nàng hát gần nơi ở của ta, hãy để nàng hát trước mặt ta.
297.
297.
297.
Tirokuṭṭamhi gāyitvā, jhānāgāramhi pāvisi;
Bandhi naṃ † anupubbena, āraññamiva kuñjaraṃ.
Having sung outside the chamber, she entered the jhāna-house. Gradually, she bound him, as one binds an elephant in the forest.
Sau khi hát ở bên ngoài vách, nàng đã đi vào thiền đường. Nàng đã trói buộc vị ấy dần dần, giống như (người ta trói buộc) một con voi rừng.
298.
298.
298.
Tassa † kāmarasaṃ ñatvā, issādhammo ajāyatha;
‘‘Ahameva kāme bhuñjeyyaṃ, mā añño puriso ahu’’.
Having known the taste of sensual pleasure, the nature of jealousy arose in him: ‘I alone should enjoy sensual pleasures; let there be no other man!’
Khi đã biết được vị ngọt của dục lạc, tâm ganh tỵ khởi lên nơi vị ấy: 'Chỉ một mình ta hưởng thụ các dục lạc, mong rằng không có người đàn ông nào khác.'
299.
299.
299.
Tato asiṃ gahetvāna, purise hantuṃ upakkami;
Ahameveko bhuñjissaṃ, mā añño puriso siyā.
Then, taking a sword, he began to kill men, thinking: ‘I alone shall enjoy; let there be no other man!’
Sau đó, cầm lấy thanh gươm, vị ấy bắt đầu giết hại những người đàn ông, (nghĩ rằng): 'Chỉ một mình ta sẽ hưởng thụ, mong rằng không có người đàn ông nào khác.'
300.
300.
300.
Tato jānapadā sabbe, vikkandiṃsu samāgatā;
Putto tyāyaṃ mahārāja, janaṃ heṭhetyadūsakaṃ.
Then all the country-folk, having gathered together, cried out: ‘O great king, this son of yours harms the innocent people!’
Bấy giờ, tất cả dân chúng trong xứ tụ tập lại và kêu la rằng: 'Tâu Đại vương, người con trai này của ngài đang hãm hại những người dân vô tội.'
301.
301.
301.
Tañca rājā vivāhesi †, samhā raṭṭhā ca † khattiyo;
Yāvatā vijitaṃ mayhaṃ, na te vatthabba † tāvade.
And that Khattiya king banished him from his own kingdom, saying: ‘As far as my dominion extends, you must not dwell therein.’
Và vị vua, thuộc dòng dõi Sát-đế-lỵ, đã trục xuất người con ấy ra khỏi vương quốc của mình, (nói rằng): 'Trong phạm vi lãnh thổ của ta, ngươi không được phép cư ngụ.'
302.
302.
302.
Tato so bhariyamādāya, samuddaṃ upasaṅkami;
Paṇṇasālaṃ karitvāna, vanamuñchāya pāvisi.
Then, taking his wife, he went to the ocean. Having made a leaf-hut, he entered the forest to glean for food.
Sau đó, vị ấy dẫn theo vợ, đi đến bờ biển. Dựng xong một túp lều lá, vị ấy đi vào rừng để lượm lặt trái cây.
303.
303.
303.
Athettha isi māgacchi, samuddaṃ uparūpari;
So tassa gehaṃ pāvekkhi, bhattakāle upaṭṭhite.
Then a sage came there, travelling over the ocean. When the mealtime had arrived, he entered the prince's home.
Bấy giờ, có một vị ẩn sĩ đến nơi ấy, bay trên mặt biển. Vị ấy đã đi vào nhà của hoàng tử khi đến giờ thọ thực.
304.
304.
304.
Tañca bhariyā palobhesi, passa yāva sudāruṇaṃ;
Cuto so brahmacariyamhā, iddhiyā parihāyatha.
And the wife enticed him. See how very cruel! He, having fallen from the holy life, declined from his psychic power.
Và người vợ đã quyến rũ vị ấy. Hãy xem điều đó tàn nhẫn đến mức nào! Vị ấy, đã từ bỏ phạm hạnh, và bị mất đi thần thông.
305.
305.
305.
Rājaputto ca uñchāto, vanamūlaphalaṃ bahuṃ;
Sāyaṃ kājena † ādāya, assamaṃ upasaṅkami.
And the prince, returning from gleaning, taking many forest roots and fruits with a carrying-pole, approached his dwelling in the evening.
Và vị hoàng tử, sau khi lượm lặt, mang theo nhiều rễ cây và trái cây rừng bằng đòn gánh, đã trở về am thất vào buổi chiều.
306.
306.
306.
Isī ca khattiyaṃ disvā, samuddaṃ upasaṅkami;
‘‘Vehāyasaṃ gamissa’’nti, sīdate so mahaṇṇave.
And the sage, seeing the prince, went to the ocean. Thinking, ‘I will go through the sky,’ he sank in the great ocean.
Và vị ẩn sĩ, khi thấy vị hoàng tử, đã đi ra biển. Với ý định 'Ta sẽ bay lên không trung', vị ấy đã chìm xuống giữa đại dương.
307.
307.
307.
Khattiyo ca isiṃ disvā, sīdamānaṃ mahaṇṇave;
Tasseva anukampāya, imā gāthā abhāsatha.
And the prince, seeing the sage sinking in the great ocean, out of compassion for that very one, spoke these verses.
Và vị hoàng tử, khi thấy vị ẩn sĩ đang chìm giữa đại dương, vì lòng bi mẫn đối với vị ấy, đã nói lên những câu kệ này.
308.
308.
308.
Abhijjamāne vārismiṃ, sayaṃ āgamma iddhiyā;
Missībhāvitthiyā gantvā, saṃsīdasi mahaṇṇave.
‘Having come by yourself through psychic power over the unparting water, now, having associated with a woman, you are sinking in the great ocean.’
Ngài đã từng tự mình đến đây bằng thần thông, đi trên mặt nước không hề rẽ sóng. Nay, sau khi giao du với một người phụ nữ, ngài lại đang chìm đắm giữa đại dương.
309.
309.
309.
Āvaṭṭanī mahāmāyā, brahmacariyavikopanā;
Sīdanti naṃ viditvāna, ārakā parivajjaye.
‘They are a whirlpool, of great illusion, destroyers of the holy life. Knowing they cause one to sink, a wise person should avoid them from afar.’
(Phụ nữ) là những xoáy nước, là đại ảo thuật, là những kẻ phá hoại phạm hạnh. Họ làm cho người ta chìm đắm. Biết vậy rồi, người trí nên tránh xa họ.
310.
310.
310.
Analā mudusambhāsā, duppūrā tā nadīsamā;
Sīdanti naṃ viditvāna, ārakā parivajjaye.
‘They are insatiable though gentle-spoken, hard to fill like rivers. Knowing they cause one to sink, a wise person should avoid them from afar.’
Họ nói lời mềm mỏng nhưng lại không biết đủ, khó làm cho thỏa mãn như những dòng sông. Họ làm cho người ta chìm đắm. Biết vậy rồi, người trí nên tránh xa họ.
311.
311.
311.
Yaṃ etā upasevanti, chandasā vā dhanena vā;
Jātavedova saṃ ṭhānaṃ, khippaṃ anudahanti naṃ.
‘Whomever they associate with, whether through desire or through wealth, they quickly burn him up, just as fire burns up its own abode.’
Những người nữ này gần gũi người đàn ông nào, hoặc do ái dục, hoặc do tài sản; cũng giống như lửa nhanh chóng thiêu đốt nơi nó trụ, họ cũng nhanh chóng thiêu đốt người ấy.
312.
312.
312.
Khattiyassa vaco sutvā, isissa nibbidā ahu;
Laddhā porāṇakaṃ maggaṃ, gacchate so vihāyasaṃ.
Having heard the prince’s words, disenchantment arose in the sage. Having regained the ancient path, he went through the sky.
Nghe lời của vị Sát-đế-lỵ, vị ẩn sĩ sanh lòng nhàm chán. Sau khi đắc lại con đường xưa, vị ấy bay đi giữa hư không.
313.
313.
313.
Khattiyo ca isiṃ disvā, gacchamānaṃ vihāyasaṃ;
Saṃvegaṃ alabhī dhīro, pabbajjaṃ samarocayi.
And the prince, seeing the ascetic going through the sky, gained a sense of spiritual urgency; being wise, he took delight in renunciation.
Và vị Sát-đế-lỵ, sau khi thấy vị ẩn sĩ đang bay giữa hư không, người hiền trí ấy đã sanh lòng cảm động, và ưa thích việc xuất gia.
314.
314.
314.
Tato so pabbajitvāna, kāmarāgaṃ virājayi;
Kāmarāgaṃ virājetvā, brahmalokūpago ahūti.
Then, having gone forth, he dispelled sensual passion; and having dispelled sensual passion, he became one destined for the Brahma world.
Sau đó, vị ấy sau khi đã xuất gia, đã ly ái đối với dục tham. Sau khi đã ly ái đối với dục tham, vị ấy đã trở thành người sanh về cõi Phạm thiên.
Mahāpalobhanajātakaṃ ekādasamaṃ.
The Mahāpalobhana Jātaka, the Eleventh.
Chuyện Bổn Sanh Mahāpalobhana, phần thứ mười một.