Bản dịch
JA 506 — Chuyện long vương Campeyya (Tiền thân Campeyya)
10. Campeyyajātaka
10. BỔN SANH RỒNG CHÚA CAMPEYYA
2568. “Người nữ nào chiếu sáng tựa như tia chớp, tựa như ngôi sao osadhī ? Có phải nàng là vị Thiên nhân, hay nữ Càn-thát-bà? Trẫm không nghĩ rằng nàng là loài người.”
2569. “Thưa đại vương, thiếp không phải là Thiên nữ, không phải nữ Càn-thát-bà, không phải loài người. Thưa bậc đức độ, thiếp là con gái của loài rồng. Vì công việc mà thiếp đã đi đến nơi này.”
2570. “Nàng có tâm bị tản mác, các giác quan bị đờ đẫn. những dòng lệ tuôn trào từ hai con mắt của nàng. Nàng đã bị mất mát cái gì? Hơn nữa, trong khi ước nguyện điều gì mà nàng đã đi đến nơi này? Nào, hỡi cô nương, nàng hãy nói ra điều ấy.”
2571. Tâu vị chúa của loài người, người ta đã gọi con vật có oai lực dữ dằn là ‘rắn’ và đã gọi chàng ấy là ‘rồng.’ Gã đàn ông đã bắt lấy chàng ấy vì mục đích kiếm sống. Hãy giải thoát cho chàng ấy khỏi sự trói buộc. Chàng ấy là chồng của thiếp.”
2572. Vậy làm thế nào mà con rồng được sanh ra với sức lực và dũng mãnh này đã rơi vào bàn tay của kẻ cùng khổ? Hỡi nàng con gái của loài rồng, nàng hãy giải thích ý nghĩa ấy cho trẫm. Làm thế nào chúng tôi có thể nhận biết về con rồng đã bị bắt?”
2573. “Rồng chúa có thể làm cho cả thành phố trở thành tro bụi, bởi vì chàng ấy được sanh ra với sức lực và dũng mãnh như thế ấy. Và trong khi tôn kính pháp tu tập, vì thế rồng chúa đã nỗ lực (kiềm chế) và thực hành hạnh khắc khổ.
2574. Tâu bệ hạ, vào ngày mười bốn và mười lăm, rồng chúa tịnh cư ở ngã tư đường. Gã đàn ông đã bắt lấy chàng ấy vì mục đích kiếm sống. Hãy giải thoát cho chàng ấy khỏi sự trói buộc. Chàng ấy là chồng của thiếp.”
2575. Mười sáu ngàn nữ nhân có các bông tai bằng ngọc trai và ngọc ma-ni, các nàng có nhà ở dưới nước, các nàng ấy đã đến nương tựa ở chàng.
2576. Bệ hạ hãy giải thoát cho rồng chúa đúng theo pháp, không bằng bạo lực, bằng ngôi làng, bằng tiền vàng lớn, bằng một trăm bò cái. Hãy để cho rồng chúa ra đi với thân thể được cởi trói. Hãy để cho người tầm cầu phước thiện được thoát khỏi sự trói buộc.”
2577. “Trẫm sẽ giải thoát cho rồng chúa đúng theo pháp, không bằng bạo lực, bằng ngôi làng, bằng tiền vàng lớn, bằng một trăm bò cái. Hãy để cho rồng chúa ra đi với thân thể được cởi trói. Hãy để cho người tầm cầu phước thiện được thoát khỏi sự trói buộc.
2578. Này thợ săn, trẫm sẽ ban thưởng một trăm tiền vàng lớn, bông tai ngọc ma-ni loại lớn, kiệu khiêng bốn bên đều lót nệm có màu sắc rực rỡ giống như màu hoa của cây bông vải, –
2579. – thêm hai người vợ tương xứng, cùng với bò mộng và bò cái một trăm con. Hãy để cho rồng chúa ra đi với thân thể được cởi trói. Hãy để cho người tầm cầu phước thiện được thoát khỏi sự trói buộc.”
2580. “Tâu vị chúa của loài người, chỉ với lời nói của bệ hạ thì khỏi cần vật ban thưởng, chúng thần sẽ giải thoát cho rồng chúa ấy khỏi sự trói buộc. Hãy để cho rồng chúa ra đi với thân thể được cởi trói. Hãy để cho người tầm cầu phước thiện được thoát khỏi sự trói buộc.”
2581. Được tự do, rồng chúa Campeyyaka đã nói với đức vua điều này: ‘Tâu đức vua xứ Kāsi, vậy hãy kính lễ đến ngài! Tâu bậc làm hưng thịnh xứ Kāsi, xin kính lễ ngài! Thần xin chắp tay lại chào bệ hạ. Thần có thể nhìn ngắm cung điện của thần.”
2582. “Quả đúng vậy, người đời đã nói việc ấy là khó tin, là việc con người có thể đặt niềm tin vào hạng phi nhân. Và nếu ngài yêu cầu trẫm (tin tưởng) điều ấy, này rồng chúa, hãy để chúng tôi nhìn thấy các cung điện của ngài.”
2583. “Bởi vì, nếu như làn gió có thể dời đi ngọn núi, mặt trăng và mặt trời có thể rơi xuống trái đất, và tất cả các con sông có thể chảy ngược dòng, nhưng tâu bệ hạ, thần không bao giờ có thể nói lời dối trá.
2584. (Dẫu cho) bầu trời có thể vỡ tan, thậm chí biển cả có thể khô cạn, trái đất cưu mang chúng sanh và cất giữ của cải tự cuộn tròn, ngọn núi đá Meru có thể nhổ lên luôn cả gốc, nhưng tâu bệ hạ, thần không bao giờ có thể nói lời dối trá.”
2585. “Quả đúng vậy, người đời đã nói việc ấy là khó tin, là việc con người có thể đặt niềm tin vào hạng phi nhân. Và nếu ngài yêu cầu trẫm (tin tưởng) điều ấy, này rồng chúa, hãy để chúng tôi nhìn thấy các cung điện của ngài.”
2586. “Quả thật, các ngài ở đây là có chất độc dữ dội, có uy thế, có quyền lực lớn lao, và có sự nổi giận mau chóng. Nhờ vào trẫm mà ngài được thoát ra khỏi sự trói buộc, ngài cần phải nhận biết những việc đã được làm của chúng tôi.”
2587. “Kẻ nào không nhận biết hành động đã được làm như thế ấy, kẻ ấy hãy bị nung nấu ở địa ngục có hình thức ghê rợn, chẳng đạt được bất cứ khoái lạc nào thuộc về thân, và đạt đến cái chết khi bị giam cầm trong cái giỏ.”
2588. “Mong rằng lời hứa hẹn này của ngài là sự thật. Mong rằng ngài không giận dữ, không thù hằn. Mong rằng các linh điểu lánh xa tất cả gia tộc loài rồng của ngài, tựa như (loài người) lánh xa ngọn lửa vào các mùa nóng nực.”
2589. “Tâu vị chúa của loài người, bệ hạ đã có lòng thương tưởng đến gia tộc loài rồng, giống như người mẹ đối với đứa con trai độc nhất vô cùng yêu quý. Thần cùng với gia tộc loài rồng sẽ làm công việc phục vụ xuất sắc đến bệ hạ.”
2590. “Các khanh hãy thắng các con la xứ Kamboja khéo được huấn luyện vào các cỗ vương xa khéo được sơn phết, và hãy thắng các yên cương bằng vàng cho các con voi; chúng ta hãy viếng thăm các cung điện của rồng chúa.”
2591. Các trống lớn, các trống nhỏ, các trống con, và các tù và vỏ ốc đã vang lên chào đón đức vua Uggasena. Đức vua đã tiến đến, vô cùng rực rỡ, được tôn vinh, ở giữa một đoàn nữ nhân.
2592. Bậc làm hưng thịnh xứ Kāsi đã nhìn thấy khu đất được trải lên bằng cát vàng và các tòa lâu đài làm bằng vàng, được khảm ngọc bích và ngọc pha-lê.
2593. Vị vua ấy đã tiến vào cung điện, nơi trú ngụ của rồng chúa Campeyya, có sự chói sáng rực rỡ tựa như tia chớp phát ra từ đám mây đen, tương tự màu sắc của mặt trời.
2594. Vị vua xứ Kāsi ấy sẽ tiến vào nơi trú ngụ của rồng chúa Campeyya, được bao phủ bởi những cây cối đa dạng, được phảng phất với các hương thơm khác loại.
2595. Khi đức vua xứ Kāsi tiến vào nơi trú ngụ của rồng chúa Campeyya, các nhạc cụ Thiên đình đã tấu vang, và các nàng con gái của loài rồng đã nhảy múa.
2596. Nơi trú ngụ ấy được lui tới bởi các nàng con gái của loài rồng theo từng nhóm. Được an tâm, đức vua xứ Kāsi đã bước tiếp lên, và đã ngồi xuống ở cái ghế làm bằng vàng, có chỗ tựa đầu, đã được thoa dầu của lõi trầm hương.
2597. Sau khi đã thọ hưởng rồi vui thú ở nơi ấy, đức vua xứ Kāsi ấy đã nói với rồng chúa Campeyyaka rằng: “Các cung điện tuyệt vời này của ngài có màu sắc của mặt trời, có sự chói sáng rực rỡ. Ở thế giới loài người, không có như thế này. Này rồng chúa, vì mục đích gì mà ngài thực hành hạnh khắc khổ?
2598. Các nàng ấy mang các vật trang sức bằng vàng, có y phục đẹp, có ngón tay tròn trịa, được thành tựu lòng bàn tay và bàn chân màu đỏ thắm, có làn da hoàn hảo, đã đem lại thần thủy mời trẫm uống. Ở thế giới loài người, không có như thế này. Này rồng chúa, vì mục đích gì mà ngài thực hành hạnh khắc khổ?
2599. Và các dòng sông này của ngài có loài cá lớn vảy, có tiếng hót của loài chim āṭā , có bến tắm đẹp. Ở thế giới loài người, không có như thế này. Này rồng chúa, vì mục đích gì mà ngài thực hành hạnh khắc khổ?
2600. Các con cò, các con công, các chim thiên nga, và các con chim cu với tiếng hót ngọt ngào bay nhảy. Ở thế giới loài người, không có như thế này. Này rồng chúa, vì mục đích gì mà ngài thực hành hạnh khắc khổ?
2601. Các cây xoài, các cây sāla , các cây họ mè, các cây mận đỏ, các cây bả đậu, và các cây hoa kèn được nở rộ. Ở thế giới loài người, không có như thế này. Này rồng chúa, vì mục đích gì mà ngài thực hành hạnh khắc khổ?
2602. Các hồ sen này của ngài ở khắp nơi và có các mùi hương của cõi Trời thường xuyên phảng phất. Ở thế giới loài người, không có như thế này. Này rồng chúa, vì mục đích gì mà ngài thực hành hạnh khắc khổ?”
2603. “Không vì nguyên nhân con trai, không vì nguyên nhân tài sản, và cũng không vì nguyên nhân tuổi thọ, tâu vị chúa của loài người, trong khi ước nguyện về bản thể loài người, vì thế thần đã nỗ lực (kiềm chế) và thực hành hạnh khắc khổ.”
2604. “Với mắt đỏ ngầu, với bờ vai rộng, đã được trang điểm, có râu tóc đã được chăm sóc, khéo được thoa trầm hương đỏ, ngài tỏa sáng các phương tựa như vị vua của các Càn-thát-bà.
2605. Ngài đã đạt được thần thông của chư Thiên, có đại oai lực, được phú cho tất cả các dục. Này chúa rồng, trẫm hỏi ngài ý nghĩa này, thế giới loài người tốt hơn nơi này bởi điều gì?”
2606. “Tâu vị chúa của loài người, ngoại trừ thế giới loài người, không nơi nào khác được tìm thấy sự trong sạch và sự tự kiềm chế. Và sau khi đạt được bản thể loài người, thần sẽ thực hiện việc chấm dứt sanh tử.”
2607. “Quả thật, đúng vậy, nên thân cận các bậc có trí tuệ, các bậc đa văn, các vị có những suy nghĩ thiết thực. Này rồng chúa, sau khi nhìn thấy ngài và các nàng con gái của loài rồng, trẫm sẽ làm các việc phước thiện không phải là ít.”
2608. “Quả thật, đúng vậy, nên thân cận các bậc có trí tuệ, các bậc đa văn, các vị có những suy nghĩ thiết thực. Tâu bệ hạ , sau khi nhìn thấy thần và các nàng con gái của loài rồng, bệ hạ hãy làm các việc phước thiện không phải là ít.
2609. Vàng này của thần có nhiều, và các đống vàng có số lượng nhiều như cây thốt nốt. Bệ hạ hãy mang đi khỏi đây rồi cho xây dựng các căn nhà bằng vàng. Và các vị hãy xây dựng tường thành bằng bạc.
2610. Sau khi mang đi khỏi đây năm ngàn xe ngọc trai được trộn lẫn với ngọc bích, các vị hãy trải ở mặt đất ở nội cung, như vậy sẽ không có bùn và không có bụi.
2611. Tâu đấng quân vương hạng nhất, bệ hạ hãy cư ngụ ở cung điện hạng nhất đang chiếu sáng rực rỡ như thế ấy, trong thành Bārāṇasī thịnh vượng, sung túc. Và tâu bậc có trí tuệ tuyệt đỉnh, ngài hãy trị vì vương quốc.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Namhi devī na gandhabbī, na mahārāja mānusī;
Nāgakaññāsmi bhaddante, atthenamhi idhāgatā.
I am not a goddess, O great king, nor a gandharva woman, nor a human. May it be well with you. I am a nāga maiden; for a certain purpose have I come here.
Thiếp không phải là thiên nữ, không phải là càn-thát-bà, tâu đại vương, cũng không phải là người phàm. Thưa ngài, thiếp là một long nữ, thiếp đến đây vì một mục đích.
242.
242.
242.
Vibbhantacittā kupitindriyāsi, nettehi te vārigaṇā savanti;
Kiṃ te naṭṭhaṃ kiṃ pana patthayānā, idhāgatā nāri tadiṅgha brūhi.
O woman, your mind is trembling, your faculties are afflicted. Tears flow from your eyes. What of yours is lost? Or desiring what have you come here? Come now, tell me that.
Tâm nàng hoảng loạn, các căn mệt mỏi, nước mắt tuôn chảy từ đôi mắt nàng. Nàng đã mất mát điều gì, hay mong cầu điều gì mà đến đây? Này nàng, hãy nói cho ta biết điều đó.
243.
243.
243.
Yamuggatejo uragoti cāhu, nāgoti naṃ āhu janā janinda;
Tamaggahī puriso jīvikattho, taṃ bandhanā muñca patī mameso.
O lord of men, he whom people call 'uraga' of fierce power, and whom they call 'nāga'—him a man, desiring a livelihood, has seized. He is my husband; release him from bondage.
Tâu nhân chủ, vị có uy lực mãnh liệt mà người ta gọi là rắn, và cũng gọi là rồng, đã bị một người bắt đi để mưu sinh. Xin hãy giải thoát vị ấy khỏi sự trói buộc, đó là chồng của thiếp.
244.
244.
244.
Kathaṃ nvayaṃ balaviriyūpapanno, hatthatta † māgacchi vanibbakassa;
Akkhāhi me nāgakaññe tamatthaṃ, kathaṃ vijānemu gahītanāgaṃ.
O nāga maiden, how did this nāga, endowed with strength and energy, fall into the hands of a mendicant? Explain that matter to me. How are we to know how the nāga was captured?
Làm thế nào mà vị rồng này, người có sức mạnh và nghị lực, lại rơi vào tay của một kẻ ăn xin? Này long nữ, hãy kể cho ta nghe câu chuyện đó, làm sao chúng ta biết được con rồng đã bị bắt như thế nào?
245.
245.
245.
Nagarampi nāgo bhasmaṃ kareyya, tathā hi so balaviriyūpapanno;
Dhammañca nāgo apacāyamāno, tasmā parakkamma tapo karoti.
The nāga could reduce even a city to ashes, for he is indeed endowed with strength and energy. But the nāga dwells revering the Dhamma; therefore, he strives and undertakes ascetic practice.
Vị rồng ấy có thể thiêu rụi cả một thành phố, vì ngài có sức mạnh và nghị lực như vậy. Nhưng vị rồng ấy tôn kính Chánh pháp, do đó ngài nỗ lực thực hành khổ hạnh.
246.
246.
246.
Cātuddasiṃ pañcadasiṃ † ca rāja, catuppathe sammati nāgarājā;
Tamaggahī puriso jīvikattho, taṃ bandhanā muñca patī mameso.
O king, on the fourteenth and fifteenth days, the nāga king observes the precepts at the crossroads. A man, desiring a livelihood, seized him. He is my husband; release him from bondage.
Tâu đức vua, vào ngày mười bốn và ngày rằm, Long vương trú tại một ngã tư đường. Một người đã bắt ngài để mưu sinh. Xin hãy giải thoát ngài khỏi sự trói buộc, đó là chồng của thiếp.
247.
247.
247.
Soḷasitthisahassāni, āmuttamaṇikuṇḍalā;
Vārigehasayā nārī †, tāpi taṃ saraṇaṃ gatā.
Sixteen thousand women, wearing jeweled earrings, dwelling in watery abodes, they too have gone to him for refuge.
Mười sáu ngàn người nữ, đeo hoa tai bằng ngọc báu, sống trong cung điện dưới nước, họ cũng đã quy y nơi ngài.
248.
248.
248.
Dhammena mocehi asāhasena, gāmena nikkhena gavaṃ satena;
Ossaṭṭhakāyo urago carātu, puññatthiko muñcatu bandhanasmā.
Release him righteously, without violence, with a village, with a nikkhā, and with a hundred cows. Let the serpent, with his body freed, go about. Let the one who seeks merit be released from bondage.
Xin hãy giải thoát ngài một cách hợp pháp, không dùng bạo lực, bằng một ngôi làng, một nén vàng, một trăm con bò. Mong rằng con rắn được thả tự do, có thể đi lại; mong rằng người tìm cầu công đức được giải thoát khỏi sự trói buộc.
249.
249.
249.
Dhammena mocemi asāhasena, gāmena nikkhena gavaṃ satena;
Ossaṭṭhakāyo urago carātu, puññatthiko muñcatu bandhanasmā.
I release him righteously, without violence, with a village, with a nikkhā, and with a hundred cows. Let the serpent, with his body freed, go about. Let the one who seeks merit be released from bondage.
Ta sẽ giải thoát ngài một cách hợp pháp, không dùng bạo lực, bằng một ngôi làng, một nén vàng, một trăm con bò. Mong rằng con rắn được thả tự do, có thể đi lại; mong rằng người tìm cầu công đức được giải thoát khỏi sự trói buộc.
250.
250.
250.
Dammi nikkhasataṃ ludda, thūlañca maṇikuṇḍalaṃ;
Catussadañca pallaṅkaṃ, umāpupphasarinnibhaṃ.
O hunter, I give you a hundred nikkhās, and a couch with four cushions, having the hue of the flax flower.
Này người thợ săn, ta cho ngươi một trăm nén vàng, một đôi hoa tai ngọc lớn, và một chiếc giường có bốn gối, màu sắc giống như hoa lanh.
251.
251.
251.
Dve ca sādisiyo bhariyā, usabhañca gavaṃ sataṃ;
Ossaṭṭhakāyo urago carātu, puññatthiko muñcatu bandhanasmā.
And I give two wives of like appearance, a bull, and a hundred cows. Let the serpent, with his body freed, go about. Let the one who seeks merit be released from bondage.
Ta cho ngươi hai người vợ tương xứng, một con bò đực và một trăm con bò cái. Mong rằng con rắn được thả tự do, có thể đi lại; mong rằng người tìm cầu công đức được giải thoát khỏi sự trói buộc.
252.
252.
252.
Vināpi dānā tava vacanaṃ janinda, muñcemu naṃ uragaṃ bandhanasmā;
Ossaṭṭhakāyo urago carātu, puññatthiko muñcatu bandhanasmā.
O lord of men, even without the gift, honoring your word, we shall release that serpent from bondage. Let the serpent, with his body freed, go about. Let the one who seeks merit be released from bondage.
Tâu nhân chủ, dù không có quà tặng, chỉ vì tôn trọng lời nói của ngài, chúng tôi sẽ giải thoát con rắn đó khỏi sự trói buộc. Mong rằng con rắn được thả tự do, có thể đi lại; mong rằng người tìm cầu công đức được giải thoát khỏi sự trói buộc.
253.
253.
253.
Mutto campeyyako nāgo, rājānaṃ etadabravi;
Namo te kāsirājatthu, namo te kāsivaḍḍhana;
Freed, the nāga Campeyyaka said this to the king: 'Homage to you, O king of Kāsī! Homage to you, O promoter of Kāsī!'
Rồng Campeyyaka, sau khi được giải thoát, đã nói điều này với đức vua: 'Xin kính lễ ngài, ôi vua xứ Kāsi! Xin kính lễ ngài, ôi đấng làm hưng thịnh xứ Kāsi!'
Añjaliṃ te paggaṇhāmi, passeyyaṃ me nivesanaṃ.
I raise my hands in reverence to you; pray, see my dwelling.
Con xin chắp tay lạy Ngài, xin Ngài hãy ngắm nhìn cung điện của con.
254.
254.
254.
Addhā hi dubbissasametamāhu, yaṃ mānuso vissase amānusamhi;
Sace ca maṃ yācasi etamatthaṃ, dakkhemu te nāga nivesanāni.
Indeed, the wise say it is hard to trust when a human places trust in a non-human. And if you ask this of me, we would like to see your nāga dwellings.
Quả thật, các bậc hiền trí nói rằng điều này khó tin, ấy là việc con người tin tưởng vào loài phi nhân. Này Long vương, nếu ngài yêu cầu tôi về việc này, thì chúng tôi cũng muốn xem các cung điện của ngài.
255.
255.
255.
Sacepi † vāto girimāvaheyya, cando ca suriyo ca chamā pateyyuṃ;
Sabbā ca najjo paṭisotaṃ vajeyyuṃ, na tvevahaṃ rāja musā bhaṇeyyaṃ.
Even if the wind were to carry away a mountain, and the moon and the sun were to fall to the earth, even if all the rivers were to flow upstream, still, O king, I would never speak falsely.
Tâu Đại vương, dù cho gió có thể thổi bay núi, dù cho mặt trăng và mặt trời có thể rơi xuống đất, dù cho tất cả các dòng sông có thể chảy ngược dòng, thì tôi cũng quyết không nói lời dối trá.
256.
256.
256.
Nabhaṃ phaleyya udadhīpi susse, saṃvaṭṭaye † bhūtadharā vasundharā;
Siluccayo meru samūlamuppate †, na tvevahaṃ rāja musā bhaṇeyyaṃ.
O king, though the sky should split, and the ocean dry up; though the earth, bearer of beings, should roll up; though Meru, highest of mountains, be uprooted and fly up, I would never speak falsely.
Tâu Đại vương, dù cho bầu trời có thể vỡ tan, đại dương có thể khô cạn, đất mẹ nâng đỡ chúng sanh có thể cuộn lại, núi Tu-di, vua của các loài núi, có thể bị nhổ bật gốc bay lên, thì tôi cũng quyết không nói lời dối trá.
257.
257.
257.
Addhā hi dubbissasametamāhu, yaṃ mānuso vissase amānusamhi;
Sace ca maṃ yācasi etamatthaṃ, dakkhemu te nāga nivesanāni.
Indeed, the wise say it is hard to trust when a human places trust in a non-human. And if you ask this of me, we would like to see your nāga dwellings.
Quả thật, các bậc hiền trí nói rằng điều này khó tin, ấy là việc con người tin tưởng vào loài phi nhân. Này Long vương, nếu ngài yêu cầu tôi về việc này, thì chúng tôi cũng muốn xem các cung điện của ngài.
258.
258.
258.
Tumhe khottha ghoravisā uḷārā, mahātejā khippakopī ca hotha;
Maṃkāraṇā † bandhanasmā pamutto, arahasi no jānituye † katāni.
For you are of dreadful and abundant poison, of great power, and quick to anger. Freed from bondage on my account, you ought to recognize what we have done.
Quả thật, các ngài (loài rồng) có nọc độc kinh khủng và ghê gớm, có đại oai lực và cũng hay nóng giận. Vì cớ ta mà ngài được giải thoát khỏi sự trói buộc, ngài nên biết những việc làm (ơn) của chúng tôi.
259.
259.
259.
So paccataṃ niraye ghorarūpe, mā kāyikaṃ sātamalattha kiñci;
Peḷāya baddho maraṇaṃ upetu, yo tādisaṃ kammakataṃ na jāne.
Let him be cooked in a hell of dreadful form, may he not obtain any bodily pleasure; bound in a basket, let him go to his death—he who does not recognize such a benefactor.
Kẻ nào không biết đến ân huệ đã được ban cho như vậy, kẻ ấy hãy bị đọa đày trong địa ngục ghê rợn, nguyện cho y không có được chút lạc thú nào nơi thân, nguyện cho y bị trói trong giỏ và đi đến cái chết.
260.
260.
260.
Saccappaṭiññā tavamesa hotu, akkodhano hohi anupanāhī;
Sabbañca te nāgakulaṃ supaṇṇā, aggiṃva gimhesu † vivajjayantu.
May this promise of yours be a true promise; be not given to anger, not bearing grudges. May the Garuḍas avoid all your nāga clan, as one avoids fire in the summer.
Nguyện cho lời hứa này của ngài là lời hứa chân thật. Ngài hãy không phẫn nộ, không oán hận. Và nguyện cho loài kim xí điểu (Garuda) tránh xa toàn thể long tộc của ngài, như người ta tránh lửa vào mùa hè.
261.
261.
261.
Anukampasī nāgakulaṃ janinda, mātā yathā suppiyaṃ ekaputtaṃ;
Ahañca te nāgakulena saddhiṃ, kāhāmi veyyāvaṭikaṃ uḷāraṃ.
O lord of men, you have compassion for the nāga clan, as a mother for her beloved only son. And I, together with the nāga clan, will perform great service for you.
Tâu nhân chủ, ngài thương xót long tộc, như người mẹ thương đứa con một yêu quý của mình. Và tôi, cùng với long tộc, sẽ hết lòng phụng sự ngài những công việc trọng đại.
262.
262.
262.
Yojentu ve rājarathe sucitte, kambojake assatare sudante;
Nāge ca yojentu suvaṇṇakappane, dakkhemu nāgassa nivesanāni.
Let them yoke to the well-adorned royal chariots the well-trained mules from Kamboja; and let them yoke the elephants with golden harnesses. We shall see the dwellings of the nāga.
Hãy thắng những con la thuần chủng xứ Kamboja vào cỗ xe hoàng gia được trang hoàng lộng lẫy. Và hãy thắng những con voi với bộ yên cương bằng vàng. Chúng ta hãy đi xem cung điện của Long vương.
263.
263.
263.
Bherī mudiṅgā † paṇavā ca saṅkhā, avajjayiṃsu uggasenassa rañño;
Pāyāsi rājā bahusobhamāno, purakkhato nārigaṇassa majjhe.
Kettledrums, tabors, small drums, and conches were sounded for King Uggasena. The king, shining greatly, set forth, placed at the fore in the midst of a company of women.
Trống bính-bà, trống mudiṅga, trống paṇava và tù và ốc được tấu lên cho vua Uggasena. Nhà vua khởi hành, trông vô cùng lộng lẫy, đi trước và ở giữa đoàn cung nữ.
264.
264.
264.
Suvaṇṇacitakaṃ bhūmiṃ, addakkhi kāsivaḍḍhano;
Sovaṇṇamayapāsāde, veḷuriyaphalakatthate.
The promoter of Kāsī saw a ground adorned with gold, and palaces made of gold, paved with slabs of beryl.
Vị vua làm hưng thịnh xứ Kāsī đã nhìn thấy mặt đất được trang hoàng bằng vàng, và những cung điện làm bằng vàng, được lát bằng những phiến ngọc lưu ly.
265.
265.
265.
Sa rājā pāvisi byamhaṃ, campeyyassa nivesanaṃ;
Ādiccavaṇṇasannibhaṃ, kaṃsavijju pabhassaraṃ.
That king entered the celestial mansion, Campeyya's dwelling, which resembled the color of the sun and was radiant like lightning from a bronze-colored cloud.
Nhà vua ấy đã bước vào lâu đài, cung điện của Long vương Campeyya, nơi có màu sắc tựa như mặt trời, rực rỡ như tia chớp.
266.
266.
266.
Nānārukkhehi sañchannaṃ, nānāgandhasamīritaṃ;
So pāvekkhi kāsirājā, campeyyassa nivesanaṃ.
Covered by various trees, wafted with diverse scents, that King of Kāsī entered the dwelling of Campeyya.
Vua xứ Kāsī ấy đã đi vào cung điện của Long vương Campeyya, một nơi được bao phủ bởi các loài cây khác nhau, và ngào ngạt các loại hương thơm do gió đưa tới.
267.
267.
267.
Paviṭṭhasmiṃ kāsiraññe, campeyyassa nivesanaṃ;
Dibbā tūriyā pavajjiṃsu, nāgakaññā ca naccisuṃ †.
When the King of Kāsī had entered Campeyya's dwelling, divine instruments played, and nāga maidens danced.
Khi vua xứ Kāsī bước vào cung điện của Long vương Campeyya, các nhạc cụ chư thiên được tấu lên, và các nàng rồng thiếu nữ liền múa hát.
268.
268.
268.
Taṃ nāgakaññā caritaṃ gaṇena, anvāruhī kāsirājā pasanno;
Nisīdi sovaṇṇamayamhi pīṭhe, sāpassaye † candanasāralitte.
The delighted King of Kāsī ascended to that place frequented by the host of nāga maidens; he sat on a golden seat with a backrest, anointed with the essence of sandalwood.
Vua xứ Kāsī, với lòng hoan hỷ, đã đi lên cung điện, nơi có đoàn thiếu nữ rồng đi lại. Ngài ngự trên một chiếc ghế bằng vàng, có chỗ tựa, được thoa bằng tinh chất gỗ đàn hương.
269.
269.
269.
So tattha bhutvā ca atho ramitvā, campeyyakaṃ kāsirājā avoca;
Vimānaseṭṭhāni imāni tuyhaṃ, ādiccavaṇṇāni pabhassarāni;
Netādisaṃ atthi manussaloke, kiṃ patthayaṃ † nāga tapo karosi.
Having eaten and enjoyed himself there, the King of Kāsī spoke to Campeyya: 'These excellent mansions of yours are the color of the sun, radiant. Such as these do not exist in the world of humans. Desiring what, O nāga, do you practice asceticism?'
Sau khi đã ăn uống và vui chơi ở đó, vua xứ Kāsī nói với Long vương Campeyya: 'Những cung điện tuyệt vời này của ngài có màu sắc như mặt trời, rực rỡ chói lòa. Ở cõi người không có nơi nào như vậy. Này Long vương, ngài tu khổ hạnh để mong cầu điều gì?'
270.
270.
270.
Tā kambukāyūradharā suvatthā, vaṭṭaṅgulī tambatalūpapannā;
Paggayha pāyenti anomavaṇṇā, netādisaṃ atthi manussaloke;
Kiṃ patthayaṃ nāga tapo karosi.
Those maidens of superior complexion, wearing golden armlets, well-dressed, with rounded fingers, and endowed with copper-red palms, lift up drink and serve you. Such as these do not exist in the world of humans. Desiring what, O nāga, do you practice asceticism?
Những nàng tiên nữ này, đeo vòng xuyến và vòng tay bằng vỏ ốc, y phục lộng lẫy, ngón tay tròn trịa, lòng bàn tay hồng hào, sắc đẹp tuyệt vời, nâng ly mời ngài uống. Ở cõi người không có ai như vậy. Này Long vương, ngài tu khổ hạnh để mong cầu điều gì?
271.
271.
271.
Najjo ca temā puthulomamacchā, āṭā † sakuntābhirudā sutitthā;
Netādisaṃ atthi manussaloke, kiṃ patthayaṃ nāga tapo karosi.
These rivers of yours abound in fish with broad scales, are resonant with the calls of water birds, and have pleasant fords. Such as these do not exist in the world of humans. Desiring what, O nāga, do you practice asceticism?
Những dòng sông này của ngài đầy những loài cá vây rộng, vang tiếng chim kêu, có bến nước xinh đẹp. Ở cõi người không có nơi nào như vậy. Này Long vương, ngài tu khổ hạnh để mong cầu điều gì?
272.
272.
272.
Koñcā mayūrā diviyā ca haṃsā, vaggussarā kokilā sampatanti;
Netādisaṃ atthi manussaloke, kiṃ patthayaṃ nāga tapo karosi.
Curlews, peacocks, and divine swans, and cuckoos with beautiful voices, all assemble here. Such as these do not exist in the world of humans. Desiring what, O nāga, do you practice asceticism?
Hạc, công, và thiên nga thần thánh, cùng chim cu với giọng hót du dương bay lượn khắp nơi. Ở cõi người không có cảnh nào như vậy. Này Long vương, ngài tu khổ hạnh để mong cầu điều gì?
273.
273.
273.
Ambā ca sālā tilakā ca jambuyo, uddālakā pāṭaliyo ca phullā;
Netādisaṃ atthi manussaloke, kiṃ patthayaṃ nāga tapo karosi.
Mango, sāl, tilaka, and jambu trees, uddālakas and pāṭalis are all in bloom. Such as these do not exist in the world of humans. Desiring what, O nāga, do you practice asceticism?
Những cây xoài, cây sala, cây tilaka và cây trâm, cây uddālaka và cây pāṭali đều nở hoa rực rỡ. Ở cõi người không có cảnh nào như vậy. Này Long vương, ngài tu khổ hạnh để mong cầu điều gì?
274.
274.
274.
Imā ca te pokkharañño samantato, dibbā † ca gandhā satataṃ pavāyanti;
Netādisaṃ atthi manussaloke, kiṃ patthayaṃ nāga tapo karosi.
And all around you are these lotus ponds, from which divine fragrances constantly waft. Such as these do not exist in the world of humans. Desiring what, O nāga, do you practice asceticism?
Và những hồ sen này của ngài ở khắp mọi nơi, luôn tỏa ra hương thơm của chư thiên. Ở cõi người không có cảnh nào như vậy. Này Long vương, ngài tu khổ hạnh để mong cầu điều gì?
275.
275.
275.
Na puttahetu na dhanassa hetu, na āyuno cāpi † janinda hetu;
Manussayoniṃ abhipatthayāno, tasmā parakkamma tapo karomi.
O lord of men, it is not for the sake of a son, nor for the sake of wealth, nor for the sake of longevity. Desiring a human birth, I therefore strive and practice asceticism.
Tâu nhân chủ, không phải vì con cái, không phải vì của cải, cũng không phải vì tuổi thọ. Con tu khổ hạnh và nỗ lực tinh tấn là vì mong cầu được tái sanh vào cõi người.
276.
276.
276.
Tvaṃ lohitakkho vihatantaraṃso, alaṅkato kappitakesamassu;
Surosito lohitacandanena, gandhabbarājāva disā pabhāsasi.
You have red eyes and broad shoulders; you are adorned, with hair and beard well-trimmed. Anointed with red sandalwood, you illuminate the directions like a king of the Gandharvas.
Ngài có đôi mắt đỏ, vai rộng, được trang điểm, râu tóc được cắt tỉa. Thân được thoa bằng gỗ đàn hương đỏ, ngài tỏa sáng khắp các phương trời như một vị vua Càn-thát-bà.
277.
277.
277.
Deviddhipattosi mahānubhāvo, sabbehi kāmehi samaṅgibhūto;
Pucchāmi taṃ nāgarājetamatthaṃ, seyyo ito kena manussaloko.
You have attained divine psychic power and are of great might, endowed with all sensual pleasures. I ask you this, O king of Nāgas: In what way is the human world superior to this?
Ngài đã đạt được thần thông của chư thiên, có đại oai lực, đầy đủ tất cả các dục lạc. Này Long vương, tôi xin hỏi ngài về việc này: vì lý do gì mà cõi người lại ưu việt hơn nơi đây?
278.
278.
278.
Janinda nāññatra manussalokā, suddhī va saṃvijjati saṃyamo vā;
Ahañca laddhāna manussayoniṃ, kāhāmi jātimaraṇassa antaṃ.
O lord of men, except in the human world, purity and restraint are not to be found. And I, having obtained a human birth, will make an end of birth and death.
Tâu nhân chủ, ngoài cõi người ra, không nơi nào có được sự thanh tịnh hay sự tự chế. Và tôi, sau khi được sanh vào cõi người, sẽ đặt dấu chấm hết cho sanh và tử.
279.
279.
279.
Addhā have sevitabbā sapaññā, bahussutā ye bahuṭhānacintino;
Nāriyo ca disvāna tuvañca nāga, kāhāmi puññāni anappakāni.
Truly, one should associate with the wise, the learned, who reflect on many things. Having seen these ladies and you, O Nāga, I will perform abundant meritorious deeds.
Quả thật, nên thân cận với những người có trí tuệ, những bậc đa văn, những người suy xét nhiều vấn đề. Này Long vương, sau khi thấy các nàng tiên nữ và thấy cả ngài, tôi sẽ làm thật nhiều công đức.
280.
280.
280.
Addhā have sevitabbā sapaññā, bahussutā ye bahuṭhānacintino;
Nāriyo ca disvāna mamañca rāja, karohi puññāni anappakāni.
Truly, one should associate with the wise, the learned, who reflect on many things. Having seen these ladies and me, O king, you should perform abundant meritorious deeds.
Quả thật, nên thân cận với những người có trí tuệ, những bậc đa văn, những người suy xét nhiều vấn đề. Tâu Đại vương, sau khi thấy các nàng tiên nữ và thấy cả tôi, ngài hãy làm thật nhiều công đức.
281.
281.
281.
Idañca me jātarūpaṃ pahūtaṃ, rāsī suvaṇṇassa ca tālamattā;
† Ito haritvāna suvaṇṇagharāni, karassu rūpiyapākāraṃ karontu †.
This gold of mine is abundant, with heaps the size of a palm tree. Taking it from here, build golden houses, and let them build a silver rampart.
Chỗ tôi đây có rất nhiều vàng, những đống vàng cao bằng cây thốt nốt. Xin ngài hãy lấy vàng từ đây để xây những ngôi nhà bằng vàng, và hãy cho người xây những bức tường thành bằng bạc.
282.
282.
282.
Muttā ca † vāhasahassāni pañca, veḷuriyamissāni ito haritvā;
Antepure bhūmiyaṃ santharantu, nikkaddamā hehiti nīrajā ca.
And having taken from here five thousand loads of pearls mixed with beryl, let them be strewn upon the ground in the inner palace; thus it will be free from mud and dust.
Xin hãy lấy từ đây năm ngàn xe chở ngọc trai trộn lẫn với ngọc lưu ly, rồi cho người rải chúng trên mặt đất trong nội cung. Như vậy, nơi đó sẽ không còn bùn lầy và bụi bặm.
283.
283.
283.
Etādisaṃ āvasa rājaseṭṭha, vimānaseṭṭhaṃ bahu sobhamānaṃ;
Bārāṇasiṃ nagaraṃ iddhaṃ phītaṃ, rajjañca kārehi anomapaññāti.
O foremost king, O one of superior wisdom, dwell in the city of Bārāṇasī—a city of such splendor, with excellent and greatly shining mansions, prosperous and thriving—and rule your kingdom.
Hỡi bậc vua chúa tối thắng, bậc trí tuệ không suy giảm! Xin ngài hãy ngự tại thành phố Ba-la-nại này, một nơi thịnh vượng, phồn vinh, có những cung điện tuyệt vời, vô cùng tráng lệ. Và xin ngài hãy trị vì vương quốc.
Campeyyajātakaṃ dasamaṃ.
The Campeyya Jātaka, the Tenth.
Chuyện Bổn Sanh Campeyya, thứ mười.