Bản dịch
JA 505 — Chuyện vương tử hoan lạc (Tiền thân Somanassa)
9. Somanassajātaka
9. BỔN SANH HOÀNG TỬ SOMANASSA
2539. “Người nào hãm hại và xúc phạm ngài? Tại sao ngài lại có vẻ buồn bã, ủ rũ, và sầu muộn? Hôm nay, cha mẹ của người nào phải khóc lóc? Hôm nay, người nào bị đánh đập, phải nằm dài ở mặt đất?”
2540. “Tâu bệ hạ, thần được vui mừng do việc nhìn thấy bệ hạ. Tâu đấng hộ quốc, lâu nay thần không gặp bệ hạ. Tâu bệ hạ, thần là người không hãm hại, mà Reṇu, con trai của bệ hạ, đã đột nhập và xúc phạm thần.”
2541. “Các ngự lâm quân mang gươm hãy lại đây. Các đao phủ hãy đi đến hậu cung kia. Các ngươi hãy giết chết hoàng tử Somanassa ấy, hãy chặt đứt cái đầu cao quý rồi mang lại.”
2542. Các sứ giả của đức vua được phái đi đã nói điều này với vị hoàng tử: “Tâu vị Sát-đế -lỵ, ngài đã bị chúa thượng phế bỏ, ngài đã phạm tội chết.”
2543. Vị hoàng tử ấy, trong lúc than khóc, đã chắp lại mười ngón tay đưa lên (nói rằng): “Ta cũng muốn gặp vị chúa của loài người. Các ngươi hãy dẫn ta đi trong lúc ta còn sống. Các ngươi hãy để ta diện kiến phụ vương.”
2544. Sau khi nghe lời nói ấy của vị hoàng tử, họ đã để cho hoàng tử gặp đức vua. Và người con trai, sau khi nhìn thấy vua cha, từ đàng xa đã thưa rằng:
2545. “Các ngự lâm quân mang gươm và các đao phủ đã đi đến để giết chết con. Tâu vị chúa của loài người, được hỏi về sự việc này, xin cha hãy nói cho con. Hôm nay, con có lỗi lầm gì ở đây?”
2546. “Là người sáng và chiều lội xuống nước (rửa tội), luôn luôn thờ phượng ngọn lửa, không xao lãng, vì sao con lại gọi vị ấy, bậc đã thu thúc, có Phạm hạnh như thế ấy, là ‘gia chủ’?”
2547. “Tâu phụ vương, các rau cải, các rễ củ, và các trái cây là các vật sở hữu nhiều loại của người này. Gã bảo vệ, gìn giữ chúng, không xao lãng; vì việc ấy, vị Bà-la-môn trở thành người gia chủ.”
2548. “Này hoàng tử, điều con nói ấy quả là sự thật. Người này có các vật sở hữu nhiều loại. Gã bảo vệ, gìn giữ chúng, không xao lãng; vì việc ấy, vị Bà-la-môn trở thành người gia chủ.”
2549. “Này các đồ chúng đã tụ tập lại, cùng các thị dân, và tất cả dân chúng, các người hãy lắng nghe ta: ‘Người này là kẻ ngu; sau khi nghe theo lời nói của kẻ ngu, vị chúa của loài người ra lệnh giết hại không có nguyên nhân.
2550. Khi phần rễ được vững chắc, đã được lan rộng, đã được lớn mạnh, cây tre đã mọc nhánh thì khó dời đi. Tâu vị chúa của loài người, con xin đảnh lễ các bàn chân của người. Tâu bệ hạ, xin cha hãy cho phép con. Con sẽ xuất gia.”
2551. “Này hoàng tử, con hãy hưởng thụ các của cải có hiệu quả lớn lao, và trẫm ban cho con toàn bộ vương quyền. Ngay hôm nay, con hãy là đức vua của xứ Kuru. Con chớ có xuất gia, bởi vì xuất gia là khổ.”
2552. “Tâu bệ hạ, vậy có cái gì ở nơi này là vật hưởng thụ của bệ hạ? Trước đây, ở thế giới chư Thiên, con đã vui sướng với các sắc, với các thinh, rồi với các vị, với các hương, với các xúc, với các pháp làm thích ý.
2553. Tâu bệ hạ, con đã hưởng thụ ở cõi Trời các của cải được vây quanh bởi đoàn tiên nữ. Và sau khi biết được quyền lực của bệ hạ có thể bị người khác lèo lái, con không nên sống ở gia đình vua chúa như thế ấy.”
2554. “Nếu trẫm là kẻ ngu, nếu trẫm là có thể bị người khác lèo lái, này con trai, hãy tha thứ cho trẫm một lần lầm lỗi. Nếu việc như thế này xảy ra lần nữa, này Somanassa, con hãy làm theo ý nghĩ của con.”
2555. “Hành động đã được làm không suy xét trước, đã được suy nghĩ không cân nhắc, tựa như sự thất bại của phương thuốc, kết quả đạt được là xấu xa.
2556. Và hành động đã được làm sau khi suy xét, đã được suy nghĩ sau khi cân nhắc đúng đắn, tựa như sự thành công của phương thuốc, kết quả đạt được là tốt đẹp.
2557. Người tại gia biếng nhác có sự thọ hưởng các dục, là không tốt. Bậc xuất gia không tự chế ngự, là không tốt. Vị vua có hành động không suy xét, là không tốt. Người sáng suốt có sự phẫn nộ, việc ấy là không tốt.
2558. Vị Sát-đế-lỵ nên hành động sau khi suy xét. Bậc chúa tể một phương không thể không suy xét. Tâu bệ hạ, người hành động sau khi suy xét có danh vọng và tiếng tăm tăng trưởng.
2559. Tâu đấng hộ quốc, vị quân vương nên ấn định hình phạt sau khi đã suy xét. Việc đã được làm một cách vội vã làm cho bực bội. Và các quyết định đúng đắn vì lợi ích của con người sẽ không là các nỗi hối tiếc cho bệ hạ về sau này.
2560. Bởi vì những người nào, sau khi đã phân tích các loại nghiệp ở thế gian, rồi làm các việc không gây ra sự hối tiếc, các việc ấy được khen ngợi bởi những vị hiểu biết, là các nguồn tạo ra sự an lạc, được tán thành bởi các bậc trưởng thượng.
2561. Tâu vị chúa của loài người, các ngự lâm quân mang gươm và các đao phủ đã đi đến để giết chết con. Và tâu bệ hạ, con đang ngồi bên cạnh mẫu hậu thì đã bị bọn chúng lôi đi bằng bạo lực.
2562. Tâu bệ hạ, con đã gặp phải sự trở ngại cay đắng, vô cùng đau đớn, để đạt được mạng sống ngọt ngào, yêu quý. Hôm nay, con được thoát khỏi cái chết một cách khó khăn. Con có ý dứt khoát về việc xuất gia.”
2563. “Này hoàng hậu Sudhammā, người con trai này của nàng, hoàng tử Somanassa, còn trẻ, và có lòng thương xót. Hôm nay, trong khi nó cầu xin điều ấy, trẫm đây không chấp nhận. Nàng cũng thích hợp để thuyết phục con (bỏ ý định xuất gia).”
2564. “Này con trai, con hãy vui thích việc thực hành khất thực. Sau khi suy xét về các pháp, con hãy xuất gia. Sau khi dẹp bỏ hình phạt đối với tất cả chúng sanh, con không bị chê trách, con hãy tiến đến vị thế Phạm thiên.”
2565. “Điều như thế này có vẻ kỳ lạ thật đấy! Này hoàng hậu Sudhammā, trẫm đang khổ, nàng lại khiến cho trẫm phải khổ. Trong khi được nói rằng: ‘Nàng hãy thuyết phục con trai (bỏ ý định xuất gia),’ nàng còn khuyến khích hoàng tử thêm nữa.”
2566. “Các vị nào đã được giải thoát, có sự thọ hưởng không bị chê trách, đã được hoàn toàn diệt tắt, đang sống ở thế gian này, thiếp không ra sức để ngăn cản hoàng tử thực hành đạo lộ cao thượng của các vị ấy.
2567. Quả thật, đúng vậy, các bậc có trí tuệ, các bậc đa văn, các vị có những suy nghĩ thiết thực nên được thân cận. Sau khi lắng nghe những lời thiện thuyết của các vị này, thiếp đây ít ham muốn, không còn sầu muộn, có thiện pháp.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Ko taṃ hiṃsati heṭheti, kiṃ † dummano socasi appatīto;
Kassajja mātāpitaro rudantu, kvajja setu † nihato pathabyā.
Who harms you? Who reviles you? Why do you grieve, being disheartened and displeased? Whose mother and father shall weep today? Who, struck down, shall lie upon the earth today?
Ai đã làm hại ngài, ai đã quấy nhiễu ngài? Vì sao ngài buồn lòng, sầu muộn, không vui? Hôm nay, cha mẹ của kẻ nào sẽ phải khóc than? Hôm nay, kẻ nào sẽ nằm chết gục trên mặt đất?
212.
212.
212.
Tuṭṭhosmi deva tava dassanena, cirassaṃ passāmi taṃ bhūmipāla;
Ahiṃsako reṇumanuppavissa, puttena te heṭhayitosmi † deva.
I am pleased, O King, by the sight of you. After a long time, I see you, O protector of the earth. I am harmless, O Reṇu. Yet, O King, I have been assaulted by your son who entered my grove.
Tâu Đại vương, tôi rất vui mừng khi được gặp ngài. Tâu Hộ pháp, đã lâu lắm rồi tôi mới được gặp ngài. Tôi là người không làm hại ai, tâu vua Reṇu, nhưng khi vào (vườn), tôi đã bị con trai của ngài quấy nhiễu, tâu Đại vương.
213.
213.
213.
Āyantu dovārikā khaggabandhā †, kāsāviyā yantu † antepurantaṃ;
Hantvāna taṃ somanassaṃ kumāraṃ, chetvāna sīsaṃ varamāharantu.
Let the sword-bearing gatekeepers come! Let the executioners go to the inner palace. Having killed that Prince Somanassa and having cut off his excellent head, let them bring it.
Hãy cho gọi những người lính gác mang gươm đến đây! Hãy cho đao phủ vào nội cung! Sau khi giết hoàng tử Somanassa đó, hãy chặt lấy cái đầu cao quý của nó và mang đến đây.
214.
214.
214.
Pesitā rājino dūtā, kumāraṃ etadabravuṃ;
Issarena vitiṇṇosi, vadhaṃ pattosi khattiya.
The messengers sent by the king said this to the prince: 'O Prince, you have been given up by the sovereign. You have come to be executed.'
Các sứ giả do nhà vua phái đi đã nói điều này với hoàng tử: 'Ngài đã bị đức vua từ bỏ. Hỡi vị Sát-đế-lỵ, ngài đã phải chịu án tử hình'.
215.
215.
215.
Sa rājaputto paridevayanto, dasaṅguliṃ añjaliṃ paggahetvā;
Ahampi icchāmi janinda daṭṭhuṃ, jīvaṃ maṃ netvā † paṭidassayetha.
That prince, lamenting, raised his hands with ten fingers joined in reverence and said: 'I too wish to see the king. Take me there alive and present me to him.'
Vị hoàng tử đó, trong khi than khóc, đã chắp tay (añjali) mười ngón và nói: 'Con cũng muốn được gặp phụ vương. Xin hãy đưa con đến gặp ngài khi con vẫn còn sống'.
216.
216.
216.
Tassa taṃ vacanaṃ sutvā, rañño puttaṃ adassayuṃ;
Putto ca pitaraṃ disvā, dūratovajjhabhāsatha.
Hearing his words, they presented the son to the king. And the son, seeing his father from afar, addressed him thus:
Sau khi nghe những lời ấy của hoàng tử, họ đã đưa con trai đến cho nhà vua. Và người con, khi nhìn thấy cha mình, đã nói từ xa.
217.
217.
217.
Āgacchuṃ † dovārikā khaggabandhā, kāsāviyā hantu mamaṃ janinda;
Akkhāhi me pucchito etamatthaṃ, aparādho ko nidha mamajja atthi.
O King, sword-bearing gatekeepers have come. Executioners have come to kill me. Being asked, please tell me this matter: what offense of mine is there here today?
Tâu phụ vương, những người lính gác mang gươm đã đến, các đao phủ đã đến để giết con. Xin phụ vương hãy cho con biết, khi được hỏi, rằng hôm nay con đã phạm tội gì ở đây?
218.
218.
218.
Sāyañca pāto udakaṃ sajāti, aggiṃ sadā pāricaratappamatto;
Taṃ tādisaṃ saṃyataṃ brahmacāriṃ, kasmā tuvaṃ brūsi gahappatīti.
In the evening and in the morning, he performs his water rites. He always diligently tends the fire. Why do you call such a restrained one who leads the holy life a 'householder'?
Vị ấy thực hành việc tắm gội vào buổi chiều và buổi sáng, luôn luôn siêng năng chăm sóc ngọn lửa. Một người tự chủ, sống đời phạm hạnh như vậy, tại sao con lại gọi ông ta là 'gia chủ'?
219.
219.
219.
Tālā ca mūlā ca phalā ca deva, pariggahā vividhā santimassa;
Te rakkhati gopayatappamatto, † tasmā ahaṃ brūmi gahappatīti †.
Young palm trees, roots, and fruits, O King—these are his various possessions. He guards them and diligently protects them. Therefore, I call him a 'householder'.
Tâu Đại vương, măng cọ, các loại củ và quả là những tài sản đa dạng của vị ấy. Vị ấy siêng năng bảo vệ, canh giữ chúng. Vì thế, con gọi ông ta là 'gia chủ'.
220.
220.
220.
Saccaṃ kho etaṃ vadasi kumāra, pariggahā vividhā santimassa;
Te rakkhati gopayatappamatto, sa † brāhmaṇo gahapati tena hoti.
Indeed, Prince, you speak the truth in this. He has various possessions. He guards them and diligently protects them. Because of that, that ascetic becomes a householder.
Này hoàng tử, con nói quả thật đúng. Vị ấy có những tài sản đa dạng. Vị ấy siêng năng bảo vệ, canh giữ chúng. Do đó, vị Bà-la-môn ấy trở thành một gia chủ.
221.
221.
221.
Suṇantu mayhaṃ parisā samāgatā, sanegamā jānapadā ca sabbe;
Bālāyaṃ bālassa vaco nisamma, ahetunā ghātayate maṃ † janindo.
Let the assembled company listen to me, all those from the towns and the countryside! This king, being a fool himself, having listened to the words of a fool, has me killed without reason.
Xin hội chúng đã tụ tập, tất cả những người từ thị trấn và thôn quê, hãy lắng nghe lời tôi! Vị vua này là kẻ ngu si, và sau khi nghe lời của một kẻ ngu si, nhà vua đã cho giết tôi một cách vô cớ.
222.
222.
222.
Daḷhasmi mūle visaṭe virūḷhe, dunnikkayo veḷu pasākhajāto;
Vandāmi pādāni tava † janinda, anujāna maṃ pabbajissāmi deva.
When its root is firm, spread out, and grown, a bamboo with many branches is hard to uproot. I pay homage to your feet, O King. Grant me permission, O lord, I will go forth into homelessness.
Khi gốc rễ đã chắc, lan rộng và phát triển, cây tre đã mọc cành nhánh thì khó mà nhổ lên được. Con xin đảnh lễ dưới chân phụ vương. Tâu Đại vương, xin hãy cho phép con, con sẽ đi xuất gia.
223.
223.
223.
Bhuñjassu bhoge vipule kumāra, sabbañca te issariyaṃ dadāmi;
Ajjeva tvaṃ kurūnaṃ hohi rājā, mā pabbajī pabbajjā hi dukkhā.
Enjoy abundant pleasures, Prince. I give you all sovereignty. This very day, become king of the Kurus. Do not go forth, for the homeless life is difficult.
Này hoàng tử, hãy hưởng thụ những tài sản to lớn. Ta trao cho con tất cả quyền bính. Ngay hôm nay, con hãy trở thành vua của xứ Kuru. Đừng xuất gia, vì đời sống xuất gia là khổ hạnh.
224.
224.
224.
Kinnūdha deva tavamatthi bhogā, pubbevahaṃ † devaloke ramissaṃ;
Rūpehi saddehi atho rasehi, gandhehi phassehi manoramehi.
O King, what is there to enjoy among your pleasures here? Previously, in the world of the devas, I delighted in enchanting forms, sounds, and also in tastes, smells, and touches.
Tâu Đại vương, ở đây có những tài sản gì của ngài? Trước đây, con đã từng vui hưởng ở cõi trời với những sắc, thanh, hương, vị, xúc làm say đắm lòng người.
225.
225.
225.
Bhuttā ca me † bhogā tidivasmiṃ deva, parivāritā † accharānaṃ gaṇena †;
Tuvañca † bālaṃ paraneyyaṃ viditvā, na tādise rājakule vaseyyaṃ.
I have enjoyed pleasures in the heavens, O King, attended by a host of celestial nymphs. Knowing you to be a fool, led by others, I would not wish to live in such a royal family.
Tâu Đại vương, con đã hưởng thụ các dục lạc ở cõi trời, được vây quanh bởi đoàn tiên nữ. Và khi biết rằng ngài là người ngu si, dễ bị người khác dẫn dắt, con không muốn sống trong một hoàng tộc như vậy.
226.
226.
226.
Sacāhaṃ bālo paraneyyo asmi, ekāparādhaṃ † khama putta mayhaṃ;
Punapi ce edisakaṃ bhaveyya, yathāmatiṃ somanassa karohi.
If I am a fool, if I am one led by others, forgive me this one offense, my son. And if such a thing should happen again, O Somanassa, do as you see fit.
Này con trai, nếu ta là kẻ ngu si, dễ bị người khác dẫn dắt, xin con hãy tha thứ lỗi lầm này của ta. Nếu lại có lỗi lầm như vậy nữa, này Somanassa, con hãy làm theo ý con.
227.
227.
227.
Anisamma kataṃ kammaṃ, anavatthāya cintitaṃ;
Bhesajjasseva vebhaṅgo, vipāko hoti pāpako.
A deed done without reflection, a plan conceived without due consideration, like the failure of a medicine, has an evil result.
Việc làm được thực hiện không suy xét, ý định được suy nghĩ không xác định rõ ràng, thì kết quả trở nên xấu xa, giống như sự thất bại của thuốc men.
228.
228.
228.
Nisamma ca kataṃ kammaṃ, sammāvatthāya cintitaṃ;
Bhesajjasseva sampatti, vipāko hoti bhadrako.
But a deed done with reflection, a plan conceived with right consideration, like the success of a medicine, has a good result.
Và việc làm được thực hiện sau khi suy xét, ý định được suy nghĩ một cách đúng đắn, thì kết quả trở nên tốt đẹp, giống như sự thành công của thuốc men.
229.
229.
229.
Alaso gihī kāmabhogī na sādhu, asaññato pabbajito na sādhu;
Rājā na sādhu anisammakārī, yo paṇḍito kodhano taṃ na sādhu.
A lazy householder who enjoys sensual pleasures is not good; an unrestrained one who has gone forth is not good; a king who acts without reflection is not good; a wise person who is angry—that is not good.
Người tại gia hưởng thụ dục lạc mà lười biếng thì không tốt, người xuất gia không tự chế ngự thì không tốt; vị vua hành động không suy xét thì không tốt, bậc trí giả nào hay sân giận, điều đó không tốt.
230.
230.
230.
Nisamma khattiyo kayirā, nānisamma disampati;
Nisammakārino rāja, yaso kitti ca vaḍḍhati.
A king should act with reflection; a ruler of the land should not act without reflection. O King, for one who acts with reflection, fame and glory increase.
Bậc Sát-đế-lỵ nên hành động sau khi suy xét, bậc chúa tể các phương không nên hành động mà không suy xét. Này đức vua, đối với người hành động có suy xét, danh vọng và tiếng tăm đều tăng trưởng.
231.
231.
231.
Nisamma daṇḍaṃ paṇayeyya issaro, vegā kataṃ tappati bhūmipāla;
Sammāpaṇīdhī ca narassa atthā, anānutappā te bhavanti pacchā.
A sovereign should impose punishment with reflection. O protector of the earth, a deed done in haste causes later remorse. A person's well-directed actions do not cause remorse afterwards.
Bậc chúa tể nên áp đặt hình phạt sau khi suy xét. Tâu hộ quốc vương, việc làm vội vàng sẽ gây ra hối hận. Và những mục đích của con người được định hướng đúng đắn, về sau sẽ không gây ra hối hận.
232.
232.
232.
Anānutappāni hi ye karonti, vibhajja kammāyatanāni loke;
Viññuppasatthāni sukhudrayāni, bhavanti buddhānumatāni † tāni.
Those who, having analyzed the fields of action in the world, perform deeds that do not cause later remorse—those actions are praised by the intelligent, result in happiness, and are approved by the wise.
Những ai, sau khi phân biệt các lĩnh vực hành động ở trên đời, làm những việc không gây hối hận, những việc ấy được người trí tán thán, mang lại an lạc, và được các bậc Giác Ngộ chấp thuận.
233.
233.
233.
Āgacchuṃ dovārikā khaggabandhā, kāsāviyā hantu mamaṃ janinda;
Mātuñca † aṅkasmimahaṃ nisinno, ākaḍḍhito sahasā tehi deva.
O King, sword-bearing gatekeepers and executioners came to kill me. And while I was sitting on my mother's lap, O lord, I was suddenly dragged away by them.
Tâu nhân chủ, những người lính gác cửa mang gươm, những đao phủ đã đến để giết con. Tâu thiên tử, khi con đang ngồi trong lòng mẹ, con đã bị họ lôi đi một cách đột ngột.
234.
234.
234.
Kaṭukañhi sambādhaṃ sukicchaṃ † patto, madhurampi yaṃ jīvitaṃ laddha rāja;
Kicchenahaṃ ajja vadhā pamutto, pabbajjamevābhimanohamasmi.
O King, I have reached a bitter, constricting, and very painful state. A sweet and dear life has now been obtained by me. Today, with difficulty, I am freed from execution. My mind is set only on going forth into homelessness.
Con đã trải qua sự hiểm nghèo, đau đớn, và khốn khổ. Tâu đức vua, con đã nhận lại được mạng sống ngọt ngào. Hôm nay, con đã khó khăn lắm mới thoát khỏi cái chết, tâm con chỉ hướng đến việc xuất gia mà thôi.
235.
235.
235.
Putto tavāyaṃ taruṇo sudhamme, anukampako somanasso kumāro;
Taṃ yācamāno na labhāmi svajja †, arahasi naṃ yācitave † tuvampi.
O Sudhammā, this son of yours, Prince Somanassa, is young and deserving of compassion. Though I beg him, I do not succeed today. You too should try to entreat him.
Này Sudhammā, đứa con này của nàng còn trẻ, hoàng tử Somanassa thật đáng thương. Hôm nay, ta van xin nó mà không được, nàng cũng nên van xin nó.
236.
236.
236.
Ramassu bhikkhācariyāya putta, nisamma dhammesu paribbajassu;
Sabbesu bhūtesu nidhāya daṇḍaṃ, anindito brahmamupehi ṭhānaṃ.
Delight in the life of an alms-mendicant, my son. Reflecting on the principles, go forth. Having laid down the rod towards all beings, being blameless, approach the supreme state.
Này con trai, hãy hoan hỷ với hạnh khất thực, hãy suy xét kỹ trong các pháp rồi hãy xuất gia. Hãy từ bỏ trừng phạt đối với tất cả chúng sanh, không bị chê trách, hãy đạt đến cảnh giới Phạm thiên.
237.
237.
237.
Acchera † rūpaṃ vata yādisañca, dukkhitaṃ maṃ dukkhāpayase sudhamme;
Yācassu puttaṃ iti vuccamānā, bhiyyova ussāhayase kumāraṃ.
How truly astonishing this is, Sudhammā! You cause me, who am already suffering, to suffer more. Though told, 'Entreat your son,' you instead greatly encourage the prince.
Thật là kỳ diệu thay! Này Sudhammā, nàng làm cho ta, người đang đau khổ, càng thêm đau khổ. Khi được bảo rằng: 'Hãy van xin con trai đi', nàng lại càng khuyến khích hoàng tử hơn nữa.
238.
238.
238.
Ye vippamuttā anavajjabhogino †, parinibbutā lokamimaṃ caranti;
Tamariyamaggaṃ paṭipajjamānaṃ, na ussahe vārayituṃ kumāraṃ.
Those who are liberated, of blameless livelihood, and fully extinguished wander in this world. As the prince is undertaking that noble path, I do not dare to prevent him.
Những vị đã giải thoát, hưởng thụ những vật dụng không bị chê trách, đã tịch tịnh, các vị ấy đi lại trong thế gian này. Thiếp không dám ngăn cản hoàng tử đang thực hành con đường Thánh đó.
239.
239.
239.
Addhā have sevitabbā sapaññā, bahussutā ye bahuṭhānacintino;
Yesāyaṃ sutvāna subhāsitāni, appossukkā vītasokā sudhammāti.
Truly, one should certainly associate with the wise, the learned, those who can reflect on many matters. It is by hearing their well-spoken words that this Sudhammā has become free from anxiety and devoid of sorrow.
Chắc chắn, thật vậy, nên thân cận những người có trí tuệ, những người đa văn, những người suy xét nhiều phương diện. Sau khi nghe những lời thiện thuyết của các vị ấy, nàng Sudhammā này đã trở nên không lo âu, hết sầu muộn.
Somanassajātakaṃ navamaṃ.
The Somanassa Jātaka, the Ninth.
Chuyện Bổn sanh Somanassa, thứ chín.