Bản dịch
JA 504 — Chuyện Đại vương Bhallàtiya (Tiền thân Bhallàtiya)
8. Bhallātiyajātaka
8. BỔN SANH VUA BHALLĀṬIYA
2514. Xưa có vị vua tên là Bhallāṭiya. Vị vua ấy đã bỏ bê xứ sở đi săn thú. Đức vua đã đi đến ngọn núi cao quý Gandhamādana được trổ đầy hoa, được lui tới bởi loài nhân điểu.
2515. Và sau khi ngăn lại bầy chó săn, đức vua đã đặt cây cung và bó tên xuống. Với ý định thốt lên lời thăm hỏi, đức vua đã đi đến gần nơi có hai nhân điểu đang đứng.
2516. “Khi mùa đông đã qua đi, có phải hai ngươi thường đứng tâm sự ở đây, bên bờ sông Hemavatā? Ta hỏi hai ngươi, những kẻ có cơ thể và dáng vóc của con người, ở thế giới nhân loại, người ta nhận biết hai ngươi như thế nào?”
2517. “Thưa thợ săn, chúng tôi đi du ngoạn đến núi Malla, đến các con sông Paṇḍaraka và Tikūṭa có nước mát lạnh. Chúng tôi là loài thú, có bề ngoài và dáng vóc tựa như con người; người ta nhận biết chúng tôi là ‘loài nhân điểu.’”
2518. “Là người yêu được người yêu ôm ấp, mà hai ngươi than van có vẻ vô cùng khổ sở. Ta hỏi hai ngươi, những kẻ có cơ thể và dáng vóc của loài người, việc gì hai ngươi lại ủ rũ, khóc lóc ở đây, trong khu rừng?
2519. Là người yêu được người yêu ôm ấp, mà hai ngươi than van có vẻ vô cùng khổ sở. Ta hỏi hai ngươi, những kẻ có cơ thể và dáng vóc của loài người, việc gì hai ngươi lại ủ rũ, kể lể ở đây, trong khu rừng?
2520. Là người yêu được người yêu ôm ấp, mà hai ngươi than van có vẻ vô cùng khổ sở. Ta hỏi hai ngươi, những kẻ có cơ thể và dáng vóc của loài người, việc gì hai ngươi lại ủ rũ, sầu muộn ở đây, trong khu rừng?”
2521. “Thưa thợ săn, chúng tôi đã sống xa nhau một đêm một cách miễn cưỡng. Trong khi nhớ nhung lẫn nhau, trong khi hối tiếc một đêm ấy, chúng tôi sầu muộn (ước rằng): ‘Đêm ấy sẽ không xảy ra lần nữa.’”
2522. “Hai ngươi hối tiếc một đêm ấy tựa như hai ngươi tiếc nuối tài sản bị mất mát, hay tiếc nuối người cha đã qua đời. Ta hỏi hai ngươi, những kẻ có cơ thể và dáng vóc của loài người, như thế nào hai ngươi đã phải chịu cuộc sống xa cách?”
2523. “Ngài hãy nhìn xem con sông này, có dòng nước chảy xiết giữa hai bờ đá, có sự che khuất bởi nhiều loại cây cối. Vào lúc trời mưa, người yêu của thiếp đã vượt qua con sông ấy, trong lúc nghĩ về thiếp rằng: ‘Nàng ấy bước theo sau.’
2524. Còn thiếp bận thu hái các loại hoa aṅkolaka này, hoa atimuttaka , hoa sattali , và hoa yothika , (nghĩ rằng): ‘Người yêu của ta sẽ đeo tràng hoa, và ta cũng sẽ đeo tràng hoa rồi đi đến bên chàng.’
2525. Rồi thiếp thu hái các loại hoa kuravaka , hoa uddālakā , hoa pāṭali , hoa sinduvāraka , (nghĩ rằng): ‘Người yêu của ta sẽ đeo tràng hoa, và ta cũng sẽ đeo tràng hoa rồi đi đến bên chàng.’
2526. Và sau khi thu hái các bông hoa của cây sāla khéo được nở rộ, thiếp làm tràng hoa, (nghĩ rằng): ‘Người yêu của ta sẽ đeo tràng hoa, và ta cũng sẽ đeo tràng hoa rồi đi đến bên chàng.’
2527. Và sau khi thu hái các bông hoa của cây sāla khéo được nở rộ, thiếp làm thành đống (nghĩ rằng): ‘Cái này sẽ dùng làm tấm trải cho chúng ta, là nơi mà hôm nay chúng ta sẽ sống qua đêm này.’
2528. Và thiếp nghiền quế và trầm hương ở tảng đá cho đến khi nát vụn, (nghĩ rằng): ‘Người yêu của ta sẽ có thân thể được tẩm hương, và ta cũng sẽ được tẩm hương rồi đi đến bên chàng.’
2529. Sau đó, thiếp đã đi đến con sông có dòng nước chảy xiết, mang theo các loại bông hoa sāla , hoa salaḷa , hoa kaṇṇikāra . Trong khoảnh khắc ấy, con sông này đã tràn đầy; nó đã trở nên vô cùng khó vượt qua đối với thiếp.
2530. Khi ấy, cả hai chúng tôi đứng ở hai bên bờ sông, người này nhìn người kia. Thậm chí, chúng tôi đã cùng khóc, chúng tôi đã cùng cười. Đối với chúng tôi, đêm ấy đã qua đi một cách khó khăn.
2531. Rồi vào buổi sáng, khi mặt trời đã mọc lên, sau khi vượt qua con sông cạn khô, thưa thợ săn, cả hai chúng tôi đã ôm ấp lẫn nhau. Thậm chí, chúng tôi đã cùng khóc, chúng tôi đã cùng cười.
2532. Thưa thợ săn, thiếu ba năm nữa là đủ bảy trăm, ở nơi này, trước đây chúng tôi đã sống xa nhau. Tâu đấng hộ quốc , vậy người nào ở nơi đây có thể sống cuộc sống này thiếu vắng người vợ một năm?”
2533. “Này các bạn, vậy tuổi thọ của các bạn là bao nhiêu? Nếu các bạn biết, xin các bạn hãy nói về tuổi thọ (của các bạn) theo truyền thuyết, hay do sự truyền thừa từ bậc trưởng thượng. Xin các bạn hãy trả lời cho trẫm điều ấy, không phải run sợ.”
2534. “Thưa thợ săn, tuổi thọ của chúng tôi là một ngàn năm, trong khoảng thời gian ấy không có tai họa, không có bệnh hoạn, ít khổ đau, còn hạnh phúc thì vượt trội. Chúng tôi lìa bỏ mạng sống, với sự luyến ái còn chưa vơi.”
2535. Và sau khi nghe được điều này của hai phi nhân, đức vua Bhallāṭiya (nghĩ rằng): ‘Mạng sống là ngắn ngủi,’ rồi đã quay trở về, đã không đi săn thú, đã ban phát các vật thí, đã thọ hưởng các của cải.
2536. Và sau khi nghe được điều này của hai phi nhân, các vị hãy hòa thuận với nhau, chớ gây ra sự cãi cọ. Các vị chớ có sự hối tiếc, chớ có lỗi lầm ở hành động của bản thân. các vị cũng chớ có giống như câu chuyện một đêm (xa cách) của loài nhân điểu.
2537. Và sau khi nghe được điều này của hai phi nhân, các vị hãy hòa thuận với nhau, chớ gây ra sự tranh cãi. Các vị chớ có sự hối tiếc, chớ có lỗi lầm ở hành động của bản thân. các vị cũng chớ có giống như câu chuyện một đêm (xa cách) của loài nhân điểu.”
2538. “Thiếp chú tâm lắng nghe phương thức trình bày của Ngài, có tính đa dạng, liên hệ đến lợi ích. Trong khi cất lên giọng nói, Ngài đã xua đi nỗi lo lắng của thiếp. Thưa vị Sa-môn, thưa bậc đem lại sự an lạc cho thiếp, cầu mong Ngài sống lâu.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Sāḷūrasaṅghañca nisedhayitvā, dhanuṃ † kalāpañca so nikkhipitvā;
Upāgami vacanaṃ vattukāmo, yatthaṭṭhitā kimpurisā ahesuṃ.
Having restrained the pack of dogs and having laid aside his bow and quiver, wishing to speak, he approached the place where the kimpurisas were standing.
Sau khi ngăn bầy chó săn, vị ấy đặt cung và ống tên xuống, rồi đến gần, muốn nói chuyện với các vị Khẩn-na-la đang đứng ở đó.
188.
188.
188.
Himaccaye hemavatāya tīre, kimidhaṭṭhitā mantayavho abhiṇhaṃ;
Pucchāmi vo mānusadehavaṇṇe, kathaṃ nu † jānanti manussaloke.
“When winter has passed, on the bank of the Himavantā, standing here, what do you constantly discuss? I ask you, who have the appearance of human bodies, how are you known in the human world?”
Khi mùa đông qua, trên bờ sông Himavā, các vị đứng đây thường bàn luận điều gì? Ta hỏi các vị, những vị có hình dáng thân thể như người, làm sao người ta ở cõi người biết đến các vị?
189.
189.
189.
Mallaṃ giriṃ paṇḍarakaṃ tikūṭaṃ, sītodakā † anuvicarāma najjo;
Migā manussāva nibhāsavaṇṇā, jānanti no kimpurisāti ludda.
“O hunter, we wander about the Malla, Paṇḍaraka, and Tikūṭa mountains, and these cool-watered rivers. We are a species of deer with an appearance like that of humans. Humans know us as kimpurisas.”
Chúng tôi đi lang thang dọc theo các con sông nước mát ở núi Malla, Paṇḍaraka, và Tikūṭa. Hỡi người thợ săn, chúng tôi là loài thú có hình dáng giống như người, và người ta biết chúng tôi là Khẩn-na-la.
190.
190.
190.
Sukiccharūpaṃ paridevayavho †, āliṅgito cāsi piyo piyāya;
Pucchāmi vo mānusadehavaṇṇe, kimidha vane rodatha appatītā.
“You lament in great distress, and the beloved husband is embraced by the beloved wife. I ask you, who have the appearance of human bodies, why do you weep here in this forest, being displeased?”
Các vị than khóc một cách rất đau khổ, người chồng thương yêu được người vợ thương yêu ôm lấy. Ta hỏi các vị, những vị có hình dáng thân thể như người, tại sao các vị lại khóc trong khu rừng này với vẻ không vui?
191.
191.
191.
Sukiccharūpaṃ paridevayavho, āliṅgito cāsi piyo piyāya;
Pucchāmi vo mānusadehavaṇṇe, kimidha vane vilapatha appatītā.
“You lament in great distress, and the beloved husband is embraced by the beloved wife. I ask you, who have the appearance of human bodies, why do you lament here in this forest, being displeased?”
Các vị kêu than một cách rất đau khổ, người chồng thương yêu được người vợ thương yêu ôm lấy. Ta hỏi các vị, những vị có hình dáng thân thể như người, tại sao các vị lại kêu than trong khu rừng này với vẻ không vui?
192.
192.
192.
Sukiccharūpaṃ paridevayavho, āliṅgito cāsi piyo piyāya;
Pucchāmi vo mānusadehavaṇṇe, kimidha vane socatha appatītā.
“You lament in great distress, and the beloved husband is embraced by the beloved wife. I ask you, who have the appearance of human bodies, why do you grieve here in this forest, being displeased?”
Các vị than khóc một cách rất đau khổ, người chồng thương yêu được người vợ thương yêu ôm lấy. Ta hỏi các vị, những vị có hình dáng thân thể như người, tại sao các vị lại sầu muộn trong khu rừng này với vẻ không vui?
193.
193.
193.
Mayekarattaṃ † vippavasimha ludda, akāmakā aññamaññaṃ sarantā;
Tamekarattaṃ anutappamānā, socāma ‘‘sā ratti punaṃ na hessati’’.
“O hunter, we were separated for one night, unwillingly, remembering each other. Grieving over that one night, we sorrow, thinking: ‘May that night never come again!’”
Hỡi người thợ săn, chúng tôi đã phải xa nhau một đêm, dù không muốn, vẫn nhớ đến nhau. Hối tiếc về đêm đó, chúng tôi sầu muộn: ‘Mong rằng đêm ấy sẽ không xảy ra lần nữa’.
194.
194.
194.
Yamekarattaṃ anutappathetaṃ, dhanaṃ va naṭṭhaṃ pitaraṃ va petaṃ;
Pucchāmi vo mānusadehavaṇṇe, kathaṃ vinā vāsamakappayittha.
“That one night which you grieve over as if it were lost wealth or a deceased parent—I ask you, who have the appearance of human bodies, how did you come to live separately? Please tell me this.”
Cái đêm mà các vị hối tiếc, có phải như của cải bị mất hay cha mẹ đã qua đời? Ta hỏi các vị, những vị có hình dáng thân thể như người, làm thế nào mà các vị đã phải chịu cảnh sống xa nhau?
195.
195.
195.
Yamimaṃ † nadiṃ passasi sīghasotaṃ, nānādumacchādanaṃ selakūlaṃ †;
Taṃ me piyo uttari vassakāle, mamañca maññaṃ anubandhatīti.
“This river which you see, swift-flowing, covered by various trees, with rocky banks—my beloved crossed it during the rainy season, thinking, ‘She too is following me.’”
Con sông này mà ngài thấy, có dòng chảy xiết, bờ đá được che phủ bởi nhiều loại cây; người thương của tôi đã bơi qua con sông đó trong mùa mưa, nghĩ rằng tôi đang đi theo sau chàng.
196.
196.
196.
Ahañca aṅkolakamocināmi, atimuttakaṃ sattaliyothikañca;
‘‘Piyo ca me hehiti mālabhārī, ahañca naṃ mālinī ajjhupessaṃ’’.
“And I was picking aṅkola flowers, atimuttaka flowers, and sattali-yolikā flowers, thinking: ‘My beloved will be a wearer of garlands, and I, also adorned with flowers, will approach him.’”
Còn tôi thì hái hoa aṅkola, hoa atimuttaka, và hoa sattali, (nghĩ rằng): ‘Người thương của tôi sẽ mang vòng hoa, và tôi, người đeo hoa, sẽ đến gần chàng’.
197.
197.
197.
Ahañcidaṃ kuravakamocināmi, uddālakā pāṭalisindhuvārakā †;
‘‘Piyo ca me hehiti mālabhārī, ahañca naṃ mālinī ajjhupessaṃ’’.
“I was picking these kuravaka flowers, and also uddālaka, pāṭali, and sinduvāritā flowers, thinking: ‘My beloved will be a wearer of garlands, and I, also adorned with flowers, will approach him.’”
Còn tôi thì hái hoa kuravaka này, hoa uddālaka, pāṭali, và sindhuvāraka, (nghĩ rằng): ‘Người thương của tôi sẽ mang vòng hoa, và tôi, người đeo hoa, sẽ đến gần chàng’.
198.
198.
198.
Ahañca sālassa supupphitassa, oceyya pupphāni karomi mālaṃ;
‘‘Piyo ca me hehiti mālabhārī, ahañca naṃ mālinī ajjhupessaṃ’’.
“And having plucked flowers from the well-flowered sāla tree, I am making a garland, thinking: ‘My beloved will be a wearer of garlands, and I, also adorned with flowers, will approach him.’”
Và em, hái những đóa hoa của cây Sāla đang nở rộ, để kết thành một vòng hoa. 'Người yêu của em sẽ là người đeo vòng hoa, và em, cũng đeo vòng hoa, sẽ đến gần bên chàng'.
199.
199.
199.
Ahañca sālassa supupphitassa, oceyya pupphāni karomi bhāraṃ;
Idañca no hehiti santharatthaṃ, yatthajjimaṃ † viharissāma † rattiṃ.
“And having plucked flowers from the well-flowered sāla tree, I am making a couch of flowers. This will be for our bedding, where we will dwell tonight.”
Và em, hái những đóa hoa của cây Sāla đang nở rộ, để làm thành một tấm thảm hoa. Và đây sẽ là tấm trải cho chúng ta, nơi chúng ta sẽ ở lại đêm nay.
200.
200.
200.
Ahañca kho agaḷuṃ † candanañca, silāya piṃsāmi pamattarūpā;
‘‘Piyo ca me hehiti rositaṅgo, ahañca naṃ rositā ajjhupessaṃ’’.
“And I, being distracted, am grinding eaglewood and sandalwood on a stone slab, thinking: ‘My beloved will have his body anointed, and I, also anointed, will approach him.’”
Và em, trong dáng vẻ say đắm, đang mài trầm hương và chiên đàn trên phiến đá. 'Người yêu của em sẽ được xức hương thơm lên thân thể, và em, cũng được xức hương thơm, sẽ đến gần bên chàng'.
201.
201.
201.
Athāgamā salilaṃ sīghasotaṃ, nudaṃ sāle salaḷe kaṇṇikāre;
Āpūratha † tena muhuttakena, sāyaṃ nadī āsi mayā suduttarā.
“Then the swift-flowing water came, carrying away the sāla, salaḷa, and kaṇikāra flowers. In that moment, the river filled up. That river became very difficult for me to cross.”
Rồi dòng nước chảy xiết ập đến, cuốn trôi những đóa hoa Sāla, Salaḷa, và Kaṇṇikāra. Trong khoảnh khắc ấy, nước đã dâng đầy, và dòng sông đó trở nên rất khó để tôi vượt qua.
202.
202.
202.
Ubhosu tīresu mayaṃ tadā ṭhitā, sampassantā ubhayo aññamaññaṃ;
Sakimpi rodāma sakiṃ hasāma, kicchena no āgamā † saṃvarī sā.
“We both stood then on opposite banks, seeing each other. Sometimes we wept, sometimes we laughed. For us, that night passed with difficulty.”
Khi ấy, cả hai chúng tôi đứng trên hai bờ, nhìn nhau. Có lúc chúng tôi khóc, có lúc chúng tôi cười. Đêm đó đối với chúng tôi đã trôi qua trong khổ sở.
203.
203.
203.
Pātova † kho uggate sūriyamhi, catukkaṃ nadiṃ uttariyāna ludda;
Āliṅgiyā aññamaññaṃ mayaṃ ubho, sakimpi rodāma sakiṃ hasāma.
“Indeed, in the morning, O hunter, when the sun had risen, having crossed the shallow river, both of us embraced each other. Sometimes we wept, and sometimes we laughed.”
Này người thợ săn, quả thật, vào lúc sáng sớm, khi mặt trời vừa mọc, sau khi vượt qua dòng sông cạn, cả hai chúng tôi ôm chầm lấy nhau. Có lúc chúng tôi khóc, có lúc chúng tôi cười.
204.
204.
204.
Tīhūnakaṃ sattasatāni ludda, yamidha mayaṃ vippavasimha pubbe;
Vassekimaṃ † jīvitaṃ bhūmipāla, ko nīdha kantāya vinā vaseyya.
“O hunter, it has been seven hundred years less three since we previously lived apart here. O protector of the earth, this life is but a hundred years. Life being so short, who here could live without his beloved?”
Này người thợ săn, đã bảy trăm năm kém ba ngày kể từ khi chúng tôi phải xa cách nhau trước đây tại nơi này. Tâu hộ pháp, mạng sống này (của ngài) chỉ một trăm năm. Đời sống ngắn ngủi như vậy, ai ở đây lại có thể sống xa người mình yêu quý?
205.
205.
205.
Āyuñca vo kīvatako nu samma, sacepi jānātha vadetha āyuṃ;
Anussavā vuḍḍhato āgamā vā, akkhātha me taṃ avikampamānā.
“And what, friend, is the measure of your lifespan? If you know your lifespan, whether from hearsay or from the tradition of your elders, please tell it to me without wavering.”
Này bạn, vậy tuổi thọ của các bạn là bao nhiêu? Nếu các bạn biết, hãy nói về tuổi thọ ấy. Dù là do nghe truyền lại hay do được biết từ các bậc trưởng thượng, hãy nói cho tôi biết điều đó mà không do dự.
206.
206.
206.
Āyuñca no vassasahassaṃ ludda, na cantarā pāpako atthi rogo;
Appañca † dukkhaṃ sukhameva bhiyyo, avītarāgā vijahāma jīvitaṃ.
“O hunter, our lifespan is a thousand years. In the interim, there is no evil disease. Suffering is little, and happiness is indeed much more. With our passion for each other unfaded, we give up this life.”
Này người thợ săn, tuổi thọ của chúng tôi là một ngàn năm. Trong khoảng thời gian đó, không có bệnh tật hiểm nghèo nào. Khổ đau thì ít, mà hạnh phúc lại rất nhiều. Chúng tôi từ bỏ sự sống khi tình yêu vẫn chưa phai nhạt.
207.
207.
207.
Idañca sutvāna amānusānaṃ, bhallātiyo ittara jīvitanti;
Nivattatha na migavaṃ acari, adāsi dānāni abhuñji bhoge.
And having heard this from the non-humans, Bhallātiya reflected, ‘Life is short.’ He returned and went no more to the deer forest. He gave gifts and enjoyed his wealth.
Và sau khi nghe điều này từ các vị phi nhân, vua Bhallātiya (nghĩ rằng): 'Mạng sống thật ngắn ngủi!' Vua đã quay trở về, không đi săn hươu nữa, đã thực hành bố thí và hưởng thụ tài sản.
208.
208.
208.
Idañca sutvāna amānusānaṃ, sammodatha mā kalahaṃ akattha;
Mā vo tapī attakammāparādho, yathāpi te kimpurisekarattaṃ.
Having heard this word of the non-humans, rejoice together and do not make quarrels. Let not the fault of your own actions torment you, just as it tormented those kimpurisas for one night of separation.
Và sau khi nghe điều này từ các vị phi nhân, các vị hãy hoan hỷ với nhau, chớ có cãi cọ. Mong rằng lỗi lầm do hành động của chính mình không làm các vị dằn vặt, cũng như đã làm dằn vặt các vị Kimpurisa kia trong một đêm.
209.
209.
209.
Idañca sutvāna amānusānaṃ, sammodatha mā vivādaṃ akattha;
Mā vo tapī attakammāparādho, yathāpi te kimpurisekarattaṃ.
Having heard this word of the non-humans, rejoice together and do not make disputes. Let not the fault of your own actions torment you, just as it tormented those kimpurisas for one night of separation.
Và sau khi nghe điều này từ các vị phi nhân, các vị hãy hoan hỷ với nhau, chớ có tranh luận. Mong rằng lỗi lầm do hành động của chính mình không làm các vị dằn vặt, cũng như đã làm dằn vặt các vị Kimpurisa kia trong một đêm.
210.
210.
210.
Vividhaṃ † adhimanā suṇomahaṃ, vacanapathaṃ tava atthasaṃhitaṃ;
Muñcaṃ † giraṃ nudaseva me daraṃ, samaṇa sukhāvaha jīva me ciranti.
Venerable Sir, with a devoted mind I listen to your path of speech, so varied and beneficial. Uttering your voice, you have indeed dispelled my distress. O recluse, bringer of happiness, may you live long!
Với tâm thành kính, con lắng nghe những lời dạy đa dạng, đầy lợi ích của ngài. Khi thốt ra lời nói, ngài quả đã xua tan phiền muộn của con. Hỡi vị Sa-môn, người mang lại an lạc, mong ngài được trường thọ!
Bhallātiyajātakaṃ aṭṭhamaṃ.
The Bhallātiya Jātaka, the Eighth.
Chuyện Bổn Sanh Bhallātiya, phần thứ tám.