Bản dịch
JA 503 — Chuyện anh vũ Sattigumba (Tiền thân Sattigumba)
7. Sattigumbajātaka
2487. Vị đại vương, đấng thủ lãnh xa binh của xứ Pañcāla, thích săn bắt nai, trong khi xuất hành cùng với đoàn quân, đã rời đám đông đi vào khu rừng.
2488. Ở nơi ấy, trong khu rừng, đức vua đã nhìn thấy căn chòi đã được dựng lên của bọn cướp. Từ trong căn chòi ấy, có con két bước ra và nói những lời hung dữ:
2489. “Người nam, còn trẻ tuổi, có cỗ xe hoàn hảo, có bông tai được đánh bóng, có khăn đội đầu màu đỏ, tỏa sáng, tựa như mặt trời chiếu sáng vào ban ngày.
2490. Bây giờ, vào lúc giữa trưa, vua với người đánh xe đã ngủ. Nào, chúng ta hãy dùng bạo lực đoạt lấy tất cả đồ trang sức của người này.
2491. Bây giờ vắng vẻ cũng như lúc nửa đêm, vua với người đánh xe đã ngủ. Chúng ta hãy lấy đi y phục và bông tai bằng ngọc ma-ni, rồi giết chết họ, và vùi lấp bằng những cành cây.”
2492. “Này chim két Sattigumba, ngươi nói cái gì như là kẻ bị điên khùng vậy? Bởi vì, các vị vua là khó lại gần, giống như ngọn lửa đã bùng cháy.”
2493. “Này Patikoḷamba, giờ ngươi lại say sưa, nói năng thô tháo. Trong khi mẹ của chúng ta bị thiếu thốn, vậy ngươi còn ghê tởm điều gì?
2494. “Này khanh, hãy mau dậy đi. Này xa phu, hãy thắng ngựa vào cỗ xe. Các con chim không làm ta vui thích. Chúng ta hãy đi đến chốn ẩn cư khác.”
2495. “Tâu đại vương, cỗ xe đã được thắng ngựa, phương tiện di chuyển có năng lực đã được sẵn sàng. Tâu đại vương, xin ngài bước lên. Chúng ta đi đến chốn ẩn cư khác.”
2496. “Những kẻ nào sống ở nơi này, tất cả bọn ấy đã đi đâu rồi? Vua xứ Pañcāla ấy ra đi tự do, thoát khỏi tầm nhìn của chúng rồi.
2497. Các ngươi hãy cầm lấy các cây cung, các gươm đao, và các cây giáo. Vua xứ Pañcāla ấy ra đi rồi. Chớ để gã thoát khỏi các ngươi, còn sống sót.”
2498. Rồi, một con chim két khác, có mỏ đỏ, đã vui mừng đón tiếp: ‘Tâu đại vương, chào mừng ngài đã đến, và hoan nghênh ngài đã đến! Là bậc quân vương, bệ hạ ngự đến nơi này có việc gì, xin bệ hạ cho biết.
2499. Tâu bệ hạ, xin ngài chọn lấy trái ngon nhất và hãy thưởng thức các trái cây ngọt như mật ong, các trái tinduka , piyāla , madhuka , kāsumārī .
2500. Tâu đại vương, còn đây là nước uống mát lạnh đã được mang lại từ hang núi. Sau đó, bệ hạ hãy uống nước, nếu ngài mong muốn.
2501. Những người sống ở nơi này đã đi vào rừng nhặt trái cây. Xin bệ hạ hãy tự mình đứng dậy và chọn lấy, thần không có tay để dâng lên.”
2502. “Con chim này quả thật là hiền thiện! Là con chim có đạo đức tuyệt vời. Còn con chim ấy ở nơi kia, con chim két nói những lời hung dữ rằng:
2503. ‘Các ngươi hãy giết chết gã ấy, hãy bắt lấy gã, Chớ để gã thoát khỏi các ngươi, còn sống sót.’ Trong khi nó lảm nhảm như vậy, trẫm đã đến được chốn ẩn cư này một cách an toàn.”
2504. “Tâu đại vương, cả hai chúng tôi là anh em, có cùng xuất xứ, có chung một mẹ, đã được lớn lên ở cùng một thân cây, rồi đã đi đến hai mảnh đất khác nhau.
2505. Sattigumba ở với bọn cướp, còn thần ở nơi này với các vị ẩn sĩ. Nó ở giữa những kẻ xấu, thần giữa những người tốt, nên không thể không bị ảnh hưởng bởi tư cách của những người ấy.
2506. Tại nơi ấy, có sự giết chóc, sự bắt bớ, sự tráo trở, và các sự gian lận, sự cướp giựt và các biểu hiện bạo lực; Sattigumba học theo các điều ấy ở nơi ấy.
2507. Ở nơi này, có sự chân thật, có thiện pháp, và sự không hãm hại, có sự thu thúc, có sự rèn luyện. Tâu đức vua, thần đã được lớn lên trong sự bảo bọc của những người có thói quen bố thí chỗ ngồi và nước uống cho khách lạ.
2508. Tâu bệ hạ, bởi vì khi thân cận người nào, người ấy tốt hay xấu, có giới hạnh hay không có giới hạnh, ta sẽ chịu sự ảnh hưởng của chính người ấy.
2509. Khi kết bạn với người như thế nào, và thân cận với người như thế nào, ta đây cũng trở thành người như thế ấy; bởi vì sự cộng trú là như thế.
2510. Người được hầu cận làm ô nhiễm người đang hầu cận mình, người được tiếp xúc làm ô nhiễm người khác đang tiếp xúc với mình, ví như mũi tên tẩm độc làm ô nhiễm túi tên còn chưa bị nhiễm độc. Do nỗi sợ hãi sự ô nhiễm, bậc sáng trí không bao giờ có bạn bè xấu xa.
2511. Người nào bao bọc con cá thối bằng ngọn cỏ, các ngọn cỏ cũng toát ra mùi hôi thối; tương tự như vậy, do việc thân cận với những kẻ ngu dốt (sẽ bị tổn hại danh tiếng).
2512. Người nào bao bọc gỗ thơm bằng lá cây, các chiếc lá cũng tỏa ra mùi thơm; tương tự như vậy, do việc thân cận với các bậc sáng trí (sẽ đạt được tiếng tốt).
2513. Vì thế, sau khi biết được hậu quả dành cho bản thân tương tự như kết quả của chiếc lá và vật chứa đựng, người sáng suốt không nên hầu cận những kẻ ác nhân, nên thân cận các bậc thiện nhân. Những kẻ ác nhân dẫn lối vào địa ngục, các bậc thiện nhân giúp cho đạt được cảnh giới an vui.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Tatthaddasā araññasmiṃ, takkarānaṃ kuṭiṃ kataṃ;
Tassā † kuṭiyā nikkhamma, suvo luddāni bhāsati.
There in the forest he saw a hut made by thieves. Emerging from that hut, a parrot spoke cruel words.
Ở trong khu rừng ấy, vị ấy đã nhìn thấy một túp lều được dựng lên của bọn trộm cướp. Từ túp lều ấy đi ra, một con vẹt đã nói lên những lời hung ác.
161.
161.
161.
Sampannavāhano poso, yuvā sammaṭṭhakuṇḍalo †;
Sobhati lohituṇhīso, divā sūriyova bhāsati.
A man with a complete chariot, a youth with well-polished earrings, adorned with a red turban, is splendid; he shines like the sun by day.
Người đàn ông có cỗ xe hoàn hảo, trẻ trung, đeo đôi bông tai được đánh bóng, quấn khăn màu đỏ, trông thật rực rỡ, tỏa sáng như mặt trời ban ngày.
162.
162.
162.
Majjhanhike † sampatike, sutto rājā sasārathi;
Handassābharaṇaṃ sabbaṃ, gaṇhāma sāhasā † mayaṃ.
Now at midday, the king is asleep with his charioteer. Come, let us seize all his ornaments by force!
Vào lúc giữa trưa, ngay bây giờ, đức vua cùng với người đánh xe đang ngủ. Nào! Chúng ta hãy dùng vũ lực mà chiếm lấy tất cả đồ trang sức của ông ta.
163.
163.
163.
Nisīthepi raho dāni, sutto rājā sasārathi;
Ādāya vatthaṃ maṇikuṇḍalañca, hantvāna sākhāhi avattharāma.
Now it is midnight and secluded; the king is asleep with his charioteer. Taking his clothes and jeweled earrings, and having killed them, let us cover them with branches.
Bây giờ, vào lúc nửa đêm, nơi đây vắng vẻ, đức vua cùng với người đánh xe đang ngủ. Sau khi lấy y phục và đôi bông tai ngọc, chúng ta hãy giết họ rồi lấy cành cây che lại.
164.
164.
164.
Kinnu ummattarūpova, sattigumba pabhāsasi;
Durāsadā hi rājāno, aggi pajjalito yathā.
Why indeed do you speak like a madman, O Sattigumba? For kings are difficult to approach, like a blazing fire.
Này Sattigumba, tại sao ngươi lại nói năng như kẻ điên vậy? Vì rằng các vị vua thì khó tiếp cận, giống như ngọn lửa đang bùng cháy.
165.
165.
165.
Atha tvaṃ patikolamba, matto thullāni gajjasi;
Mātari mayhaṃ naggāya, kinnu tvaṃ vijigucchase.
Then you, Paṭikoḷumba, being drunk, made great boasts before my naked mother. Why now are you disgusted to commit the act of theft?
Vậy thì, này Patikolamba, ngươi say sưa rồi la hét những lời thô lỗ trước mặt người mẹ trần truồng của ta. Tại sao bây giờ ngươi lại ghê tởm (việc trộm cắp)?
166.
166.
166.
Uṭṭhehi samma taramāno, rathaṃ yojehi sārathi;
Sakuṇo me na ruccati, aññaṃ gacchāma assamaṃ.
Rise up, friend, quickly! Harness the chariot, charioteer! This bird does not please me; let us go to another hermitage.
Này bạn, hãy mau mắn đứng dậy. Này người đánh xe, hãy thắng yên vào cỗ xe. Ta không thích con chim này. Chúng ta hãy đi đến một tu viện khác.
167.
167.
167.
Yutto ratho mahārāja, yutto ca balavāhano;
Adhitiṭṭha mahārāja, aññaṃ gacchāma assamaṃ.
The chariot is yoked, great king, and the strong mount is yoked. Mount, great king, let us go to another hermitage.
Tâu Đại vương, cỗ xe đã được thắng yên. Tâu Đại vương, những con ngựa khỏe cũng đã được thắng yên. Xin Đại vương hãy lên xe. Chúng ta hãy đi đến một tu viện khác.
168.
168.
168.
Ko numeva gatā † sabbe, ye asmiṃ paricārakā;
Esa gacchati pañcālo, mutto tesaṃ adassanā.
Where have all the attendants here gone? This Pañcāla king is leaving, freed because they do not see him.
Tất cả những kẻ phục vụ ở đây đã đi đâu cả rồi? Vị vua xứ Pañcāla này đang đi mất, đã thoát khỏi tầm mắt của chúng.
169.
169.
169.
Kodaṇḍakāni gaṇhatha, sattiyo tomarāni ca;
Esa gacchati pañcālo, mā vo muñcittha jīvataṃ †.
Take up your bows, spears, and javelins! This Pañcāla king is leaving—do not let him escape alive!
Hãy cầm lấy cung, thương và lao! Vị vua xứ Pañcāla này đang đi mất. Chừng nào còn sống, các ngươi chớ có để cho ông ta thoát.
170.
170.
170.
Athāparo paṭinandittha, suvo lohitatuṇḍako;
Svāgataṃ te mahārāja, atho te adurāgataṃ;
Then another, a parrot with a red beak, welcomed him: “Welcome to you, great king! Indeed, your coming is a good one.
Khi ấy, một con vẹt khác, có mỏ màu đỏ, đã lên tiếng chào mừng: 'Tâu Đại vương, xin hoan nghênh ngài đã đến. Và chuyến đi đến đây của ngài thật là tốt đẹp.'
Issarosi anuppatto, yaṃ idhatthi pavedaya.
You have arrived as our lord. Declare whatever you desire that is here.”
Ngài là chúa tể đã đến nơi đây, có việc gì xin hãy cho biết.
171.
171.
171.
Tindukāni piyālāni, madhuke kāsumāriyo;
Phalāni khuddakappāni, bhuñja rāja varaṃ varaṃ.
There are tinduka fruits, piyāla fruits, madhūka and kāsumāri fruits. These fruits are like honey. O king, eat the very best of them.
Có những quả Tinduka, Piyāla, Madhuka, Kāsumāri; Tâu đại vương, những quả cây này có vị như mật ong, xin ngài hãy chọn dùng những quả tốt nhất.
172.
172.
172.
Idampi pānīyaṃ sītaṃ, ābhataṃ girigabbharā;
Tato piva mahārāja, sace tvaṃ abhikaṅkhasi.
This water, too, is cool, brought from a mountain gorge. Drink from it, great king, if you so desire.
Nước uống mát lạnh này được mang về từ khe núi. Tâu đại vương, nếu ngài mong muốn, xin hãy uống.
173.
173.
173.
Araññaṃ uñchāya gatā, ye asmiṃ paricārakā;
Sayaṃ uṭṭhāya gaṇhavho, hatthā me natthi dātave.
The hermits who are attendants here have gone to the forest to search for fruit. Please rise and take the fruits yourself, for I have no hands with which to give.
Những vị phục vụ ở đây đã vào rừng để lượm lặt. Tôi không có tay để dâng tặng, xin ngài hãy tự đứng dậy mà lấy.
174.
174.
174.
Bhaddako vatayaṃ pakkhī, dijo paramadhammiko;
Atheso itaro pakkhī, suvo luddāni bhāsati.
Excellent indeed is this bird, a twice-born one, supremely righteous; but that other bird, the parrot, speaks cruel words.
Con chim này, loài sinh hai lần này, thật là hiền thiện, rất đúng pháp. Còn con vẹt kia, con chim kia, lại nói những lời tàn nhẫn.
175.
175.
175.
‘‘Etaṃ hanatha bandhatha, mā vo muñcittha jīvataṃ’’;
Iccevaṃ vilapantassa, sotthiṃ † pattosmi assamaṃ.
‘Kill him! Bind him! Do not let him escape alive!’ While that parrot was thus crying out, I reached the hermitage safely.
‘Hãy giết, hãy trói người này, chớ có thả nó khi còn sống’. Trong khi nó kêu la như vậy, ta đã đến được am thất một cách an toàn.
176.
176.
176.
Bhātarosma mahārāja, sodariyā ekamātukā;
Ekarukkhasmiṃ saṃvaḍḍhā, nānākhettagatā ubho.
We are brothers, great king, from the same womb, of one mother. Reared in one tree, we both went to different regions.
Tâu đại vương, chúng tôi là anh em, cùng một mẹ, cùng một dạ. Cả hai đã lớn lên trên cùng một cây, rồi đi đến những nơi khác nhau.
177.
177.
177.
Sattigumbo ca corānaṃ, ahañca isīnaṃ idha;
Asataṃ so, sataṃ ahaṃ, tena dhammena no vinā.
Sattigumba was among thieves, and I here among sages. He associated with the wicked, I with the virtuous; by this conduct we differ.
Sattigumba ở với bọn trộm, còn tôi thì ở đây với các vị ẩn sĩ. Nó gần kẻ ác, tôi gần người thiện, do đó hạnh kiểm của chúng tôi khác nhau.
178.
178.
178.
Tattha vadho ca bandho ca, nikatī vañcanāni ca;
Ālopā sāhasākārā, tāni so tattha sikkhati.
There, killing and binding, deceit and fraud, plunder and violent acts are found; those things he learns there.
Ở đó có sự giết chóc và trói buộc, sự lừa đảo và gian dối, sự cướp bóc và hành vi bạo lực. Nó học hỏi những điều ấy ở đó.
179.
179.
179.
Idha saccañca dhammo ca, ahiṃsā saṃyamo damo;
Āsanūdakadāyīnaṃ, aṅke vaddhosmi bhāradha †.
Here there is truth and righteousness, non-harming, restraint, and self-control. I grew up in the lap of those accustomed to giving seats and water.
Ở đây có sự thật và chánh pháp, bất hại, tự chế, và điều phục. Hỡi ngài Bhāradha, tôi đã lớn lên trong lòng của những vị thường cho chỗ ngồi và nước uống.
180.
180.
180.
Yaṃ yañhi rāja bhajati, santaṃ vā yadi vā asaṃ;
Sīlavantaṃ visīlaṃ vā, vasaṃ tasseva gacchati.
O king, whomever one associates with, whether a good person or a bad one, a virtuous person or one without virtue, one comes under the sway of that very person.
Tâu đại vương, một người kết giao với bất cứ ai, dù là người thiện hay kẻ ác, người có giới hay không có giới, người ấy sẽ đi vào ảnh hưởng của chính người đó.
181.
181.
181.
Yādisaṃ kurute mittaṃ, yādisaṃ cūpasevati;
Sopi tādisako hoti, sahavāso hi † tādiso.
Whatever kind of friend one makes, and whatever kind one associates with, one becomes just like them, for living together is of such a nature.
Người ta kết bạn như thế nào, và thân cận với người như thế nào, thì người ấy cũng trở nên như vậy; thật vậy, việc sống chung là như thế.
182.
182.
182.
Sevamāno sevamānaṃ, samphuṭṭho samphusaṃ paraṃ;
Saro diddho kalāpaṃva, alittamupalimpati;
Upalepabhayā † dhīro, neva pāpasakhā siyā.
One who associates defiles the one associated with; one who is in contact defiles another who is in contact. Like a poisoned arrow defiles the quiver, it taints the untainted. Fearing contamination, the wise person should not have an evil friend.
Người giao du làm lây nhiễm cho người được giao du, người tiếp xúc làm lây nhiễm cho người khác được tiếp xúc. Giống như mũi tên tẩm độc làm nhiễm độc ống tên chưa bị nhiễm độc. Vì sợ sự lây nhiễm, người trí không nên có bạn bè xấu ác.
183.
183.
183.
Pūtimacchaṃ kusaggena, yo naro upanayhati;
Kusāpi pūti † vāyanti, evaṃ bālūpasevanā.
The person who wraps a rotten fish with a blade of kusa grass—the kusa grass blades too emit a rotten smell. Such is association with fools.
Người nào dùng ngọn cỏ kusa để gói cá ươn, thì cỏ kusa cũng tỏa ra mùi hôi thối. Việc thân cận kẻ ngu cũng giống như vậy.
184.
184.
184.
Tagarañca palāsena, yo naro upanayhati;
Pattāpi surabhi † vāyanti, evaṃ dhīrūpasevanā.
The person who wraps tagara powder with a palāsa leaf—the leaves too emit a fragrant scent. Such is association with the wise.
Người nào dùng lá cây để gói bột thơm Tagara, thì lá cây cũng tỏa ra mùi thơm. Việc thân cận người trí cũng giống như vậy.
185.
185.
185.
Tasmā pattapuṭasseva †, ñatvā sampākamattano;
Asante nopaseveyya, sante seveyya paṇḍito;
Asanto nirayaṃ nenti, santo pāpenti suggatinti.
Therefore, like the leaf-packet, having known the ripening of oneself, a wise person should not associate with the wicked; one should associate with the virtuous. The wicked lead to hell; the virtuous cause one to reach a good destination.
Do đó, biết được kết quả của chính mình giống như cái gói bằng lá, người trí không nên thân cận kẻ ác, chỉ nên thân cận người thiện. Kẻ ác dẫn đến địa ngục, người thiện đưa đến cõi lành.
Sattigumbajātakaṃ sattamaṃ.
The Sattigumba Jātaka, the Seventh.
Bổn sanh Sattigumba, câu chuyện thứ bảy.