Bản dịch
JA 502 — Chuyện Chúa Thiên Nga (Tiền thân Hamsa)
6. Cūḷahaṁsajātaka
2461. “Các con thiên nga ấy bay đi rồi, các con chim run rẩy vì sợ hãi. Này Sumukha có lông vàng, có sắc vàng, ngươi hãy bay đi như ý muốn.
2462. Đám thân quyến đã bỏ lại ta, ra đi không chờ đợi, khi một mình ta đã bị rơi vào bẫy, việc gì một mình ngươi còn ở lại?
2463. Này con chim cao cả, ngươi phải bay đi thôi! Không có tình bạn ở người bị giam cầm. Ngươi chớ bỏ lỡ cơ hội khi chưa bị nguy khốn. Này Sumukha, ngươi hãy bay đi như ý muốn.”
2464. “Thưa Dhataraṭṭha, (nghĩ rằng): ‘Ngài lâm cảnh khổ đau,’ tôi không thể bỏ rơi ngài. Tôi sẽ cùng sống hay cùng chết chung với ngài.”
2465. “Này Sumukha, điều ngươi nói là lời nói tốt lành của người thánh thiện. Và trong khi xem xét về ngươi, ta đã nói lời nói này: ‘Ngươi hãy bay đi.’”
2466. “Loài chim di chuyển ở không trung, tiến tới một bước không phải dùng chân. Ngươi là ưu tú nhất trong số các con chim thiên nga, tại sao từ đàng xa ngươi đã không phát hiện ra cái bẫy?”
2467. “Khi con người có sự tiêu vong, ở vào giai đoạn cuối của mạng sống, thậm chí đã đến gần bên lưới giăng và bẫy sập cũng không nhận biết.”
2468. “Các con thiên nga ấy bay đi rồi, các con chim run rẩy vì sợ hãi. Này chim có lông vàng, có sắc vàng, có phải ngươi ở lại với chim kia?
2469. Này chim, các con chim ấy, sau khi ăn và uống xong, bay đi không chờ đợi, chỉ còn một mình ngươi hầu cận.
2470. Vậy con chim này là gì đối với ngươi? Ngươi được tự do, sao lại hầu cận kẻ bị giam cầm? Các con chim đã bỏ lại rồi ra đi, tại sao một mình ngươi hầu cận?”
2471. “Chim ấy là vua, bạn bè, thân hữu của tôi, và sánh bằng mạng sống của tôi. Tôi sẽ không bao giờ rời bỏ chim ấy cho đến cuối cuộc đời.”
2472. “Vì nguyên nhân bạn bè mà ngươi đây muốn từ bỏ mạng sống, ta đây trả tự do cho bạn của ngươi. Chim thiên nga chúa hãy đi cùng với ngươi.”
2473. “Này thợ săn, mong rằng ông được vui mừng như vậy cùng với tất cả thân quyến, giống như ta hôm nay được vui mừng, sau khi nhìn thấy chim thủ lãnh được tự do.”
2474. “Bệ hạ có được an khang không? Bệ hạ có được khỏe mạnh không? Xứ sở này có được phồn thịnh không, và bệ hạ có trị vì một cách công minh không?”
2475. “Này chim thiên nga, trẫm được an khang. Và này chim thiên nga, trẫm được khỏe mạnh. Còn xứ sở này được phồn thịnh, và trẫm trị vì một cách công minh.”
2476. “Có phải bất cứ lỗi lầm nào đều không tìm thấy ở các quan đại thần của bệ hạ? Có phải các kẻ thù đều tránh xa bệ hạ, tựa như bóng nắng không chiếu về phía nam?”
2477. “Bất cứ lỗi lầm nào cũng đều không tìm thấy ở các quan đại thần của trẫm. Và các kẻ thù đều tránh xa trẫm, tựa như bóng nắng không chiếu về phía nam.”
2478. “Có phải người vợ tương xứng với bệ hạ có sự vâng lời, có lời nói đáng yêu, có được con trai, sắc đẹp, danh tiếng, và tuân theo ý muốn và quyền uy của bệ hạ?”
2479. “Còn người vợ tương xứng với trẫm có sự vâng lời, có lời nói đáng yêu, có được con trai, sắc đẹp, danh tiếng, và tuân theo ý muốn và quyền uy của trẫm.”
2480. “Tâu bậc làm hưng thịnh đất nước, có phải bệ hạ có nhiều con trai có dòng dõi cao sang, được thành tựu trí tuệ nhạy bén, và hòa hiếu ở mọi nơi?”
2481. “Này Dhataraṭṭha, trẫm có một trăm lẻ một người con trai, được nổi tiếng nhờ vào trẫm. Ngài hãy nói về phận sự của chúng, chúng không xao lãng lời nói của ngài.”
2482. “Dầu đã được sanh ra với dòng dõi hay tánh hạnh, mà thực hành việc rèn luyện chậm trễ thì sẽ đầu hàng khi có khó khăn, khi có các sự bất hạnh.
2483. Đối với người có trí tuệ bị suy giảm ấy, nghịch cảnh nảy sanh được quan trọng hóa, giống như người bị quáng gà, vào ban đêm nhìn thấy các hình thể được phóng đại.
2484. Người lầm tưởng cốt lõi ở điều không phải cốt lõi chẳng bao giờ đạt được sự hiểu biết, tựa như nai rừng gánh lấy tai họa ở khe núi hiểm trở.
2485. Dầu có dòng dõi thấp kém, mà là người cầu tiến, có nghị lực, đầy đủ hạnh kiểm và giới luật, vẫn tỏa sáng tựa như ngọn lửa trong bóng đêm.
2486. Hãy sử dụng ví dụ ấy của tôi và cho các con học tập các kiến thức. Người thông minh có thể trưởng thành, tựa như hạt giống ở thửa ruộng với cơn mưa.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Etadariyassa kalyāṇaṃ, yaṃ tvaṃ sumukha bhāsasi;
Tañca vīmaṃsamānohaṃ, ‘‘patatetaṃ’’ avassajiṃ.
O Sumukha, what you speak is the noble virtue of a righteous one. And I, wishing to test you, uttered the word, 'Fly.'
Này Sumukha, điều ngươi nói ra quả là thiện lành, xứng bậc Thánh. Ta chỉ vì muốn thử ngươi nên mới thốt ra lời 'hãy bay đi'.
138.
138.
138.
Apadena padaṃ yāti, antalikkhacaro † dijo;
Ārā pāsaṃ na bujjhi tvaṃ, haṃsānaṃ pavaruttama †.
The sky-faring bird travels, making a track in the trackless sky. O most excellent of geese, did you not perceive the snare from afar?
Loài chim bay trên không trung, đi trên đường không dấu vết. Này vị thiên nga tối thượng, sao ngài không nhận ra chiếc bẫy từ xa?
139.
139.
139.
Yadā parābhavo hoti, poso jīvitasaṅkhaye;
Atha jālañca pāsañca, āsajjāpi na bujjhati.
When ruin is to befall a being, when the end of life has come, then even upon encountering the net and the snare, he does not perceive them.
Khi một người đối mặt với sự suy vong, khi mạng sống sắp kết thúc, thì dù đến gần lưới và bẫy, người ấy cũng không nhận ra.
140.
140.
140.
Ete haṃsā pakkamanti, vakkaṅgā bhayameritā;
Harittaca hemavaṇṇa, tvaññeva † avahiyyasi.
These geese with crooked necks, agitated by fear, depart. O you of golden skin and golden hue, why are you alone left behind?
Những con thiên nga kia, cổ cong, bị nỗi sợ hãi thúc giục, đang bay đi. Này vị có da vàng, sắc vàng, chỉ một mình ngươi là ở lại phía sau.
141.
141.
141.
Ete bhutvā ca pitvā ca, pakkamanti vihaṅgamā;
Anapekkhamānā vakkaṅgā, tvaññeveko upāsasi.
Having eaten and drunk, these birds with crooked necks depart without looking back. Why do you alone attend upon him?
Những con chim này, sau khi ăn và uống, cổ cong, không ngoảnh lại, đã bay đi. Chỉ một mình ngươi là ở lại hầu cận.
142.
142.
142.
Kinnu tyāyaṃ † dijo hoti, mutto baddhaṃ upāsasi;
Ohāya sakuṇā yanti, kiṃ eko avahiyyasi.
What, then, is this bird to you, that you, who are free, attend upon the bound one? The other birds, having abandoned him, depart. Why do you alone remain behind?
Con chim này là gì của ngươi, mà ngươi được tự do lại hầu cận kẻ bị trói buộc? Bầy chim đã bỏ đi. Tại sao một mình ngươi lại ở lại phía sau?
143.
143.
143.
Rājā me so dijo mitto, sakhā pāṇasamo ca me;
Neva naṃ vijahissāmi, yāva kālassa pariyāyaṃ.
That bird is my king, my friend, and a companion equal to my own life. I will never abandon him, until the end of my time.
Vị chim ấy là vua của tôi, là bạn của tôi, và là người bạn thân thiết như mạng sống. Tôi sẽ không bao giờ từ bỏ vị ấy, cho đến khi nào thời gian còn chưa kết thúc.
144.
144.
144.
Yo ca tvaṃ sakhino hetu, pāṇaṃ cajitumicchasi;
So te sahāyaṃ muñcāmi, hotu rājā tavānugo.
Since you wish to give up your life for the sake of your friend, I release your companion. Let the king go according to your wish.
Bởi vì ngươi, vì cớ bạn bè, mà muốn từ bỏ mạng sống; nên ta sẽ thả người bạn của ngươi. Mong rằng vị vua (ngỗng) sẽ đi theo ý muốn của ngươi.
145.
145.
145.
Evaṃ luddaka nandassu, saha sabbehi ñātibhi;
Yathāhamajja nandāmi, disvā muttaṃ dijādhipaṃ.
Thus, O hunter, may you rejoice together with all your kinsmen, just as I rejoice today, having seen the lord of birds freed.
Này người thợ săn, mong ngươi hãy hoan hỷ cùng với tất cả quyến thuộc, cũng giống như ta hôm nay đang hoan hỷ, khi nhìn thấy vị vua của loài chim được giải thoát.
146.
146.
146.
Kaccinnu bhoto kusalaṃ, kacci bhoto anāmayaṃ;
Kacci raṭṭhamidaṃ phītaṃ, dhammena manusāsasi.
I trust that your majesty is well? I trust that your majesty is free from illness? I trust that this kingdom is prosperous, and that you rule in accordance with the Dhamma?
Tâu Đại vương, ngài có được an lành chăng? Tâu Đại vương, ngài có được vô bệnh chăng? Xứ sở này có được phồn thịnh chăng? Ngài có cai trị đúng theo Chánh pháp chăng?
147.
147.
147.
Kusalañceva me haṃsa, atho haṃsa anāmayaṃ;
Atho raṭṭhamidaṃ phītaṃ, dhammena manusāsahaṃ.
I am indeed well, O goose, and furthermore, O goose, I am free from illness. Furthermore, this kingdom is prosperous, and I rule it in accordance with the Dhamma.
Này ngỗng chúa, ta được an lành, và này ngỗng chúa, ta cũng được vô bệnh. Hơn nữa, xứ sở này được phồn thịnh, và ta cai trị đúng theo Chánh pháp.
148.
148.
148.
Kacci bhoto amaccesu, doso koci na vijjati;
Kacci ārā amittā te, chāyā dakkhiṇatoriva.
I trust that no fault whatsoever is found among your majesty's ministers? I trust that your enemies are far off, like a shadow from the south?
Tâu Đại vương, trong các vị bộ trưởng của ngài, có lỗi lầm nào được tìm thấy chăng? Kẻ thù của ngài có ở xa lánh, giống như bóng nắng về hướng nam (lúc giữa trưa) chăng?
149.
149.
149.
Athopi me amaccesu, doso koci na vijjati;
Atho ārā amittā me, chāyā dakkhiṇatoriva.
Indeed, no fault whatsoever is found among my ministers. Furthermore, my enemies are far off, like a shadow from the south.
Này ngỗng chúa, trong các vị bộ trưởng của ta, không có lỗi lầm nào được tìm thấy. Hơn nữa, kẻ thù của ta cũng ở xa lánh, giống như bóng nắng về hướng nam.
150.
150.
150.
Kacci te sādisī bhariyā, assavā piyabhāṇinī;
Puttarūpayasūpetā, tava chandavasānugā.
I trust that your wife is of equal standing, obedient, pleasant-spoken, endowed with sons, beauty, and fame, and follows your will?
Tâu Đại vương, hiền thê của ngài có tương xứng (về dòng dõi), có vâng lời, có nói lời ái ngữ, có đầy đủ con cái, sắc đẹp, danh tiếng, và có thuận theo ý muốn của ngài chăng?
151.
151.
151.
Atho me sādisī bhariyā, assavā piyabhāṇinī;
Puttarūpayasūpetā, mama chandavasānugā.
Indeed, my wife is of equal standing, obedient, pleasant-spoken, endowed with sons, beauty, and fame, and follows my will.
Này ngỗng chúa, hiền thê của ta cũng tương xứng, vâng lời, nói lời ái ngữ, đầy đủ con cái, sắc đẹp, danh tiếng, và thuận theo ý muốn của ta.
152.
152.
152.
Kacci te bahavo puttā, sujātā raṭṭhavaḍḍhana;
Paññājavena sampannā, sammodanti tato tato.
O increaser of the kingdom, I trust that you have many well-born sons? That they are endowed with swift wisdom, and that they joyfully undertake their duties wherever they are appointed?
Tâu ngài, bậc làm cho quốc độ phồn vinh, ngài có nhiều hoàng tử, dòng dõi cao quý chăng? Các vị ấy có đầy đủ trí tuệ nhanh nhạy, và có hoan hỷ (trong công việc) ở mọi nơi chăng?
153.
153.
153.
Satameko ca me puttā, dhataraṭṭha mayā sutā;
Tesaṃ tvaṃ kiccamakkhāhi, nāvarujjhanti † te vaco.
O Dhataraṭṭha, I have one hundred and one sons, born of me. You should declare their duty to them; they will not oppose your word.
Này ngỗng chúa Dhataraṭṭha, ta có một trăm lẻ một người con, họ đều nổi danh. Ngươi hãy chỉ dạy cho họ về phận sự, họ sẽ không chống lại lời nói của ngươi.
154.
154.
154.
Upapannopi ce hoti, jātiyā vinayena vā;
Atha pacchā kurute yogaṃ, kicche † āpāsu † sīdati.
Even if one is endowed with noble birth or with discipline, if he applies himself to learning only later in life, he sinks amid hardship and misfortune.
Tâu Đại vương, dẫu cho người nào có được sự đầy đủ về dòng dõi hay về giới hạnh, nhưng về sau mới nỗ lực (học hỏi), thì người ấy sẽ bị chìm đắm trong sự khó khăn và tai họa.
155.
155.
155.
Tassa saṃhīrapaññassa, vivaro jāyate mahā;
Rattimandhova † rūpāni, thūlāni manupassati.
For that one of constricted wisdom, a great vulnerability arises. Like one who is blind at night, he perceives only coarse forms.
Đối với người có trí tuệ co rút ấy, sự thiếu sót lớn lao sẽ phát sanh. Giống như người bị quáng gà ban đêm, người ấy chỉ nhìn thấy được những hình sắc thô thiển.
156.
156.
156.
Asāre sārayogaññū, matiṃ na tveva vindati;
Sarabhova giriduggasmiṃ, antarāyeva sīdati.
One who perceives essence in the unessential does not truly find wisdom. Like a Sarabha deer on a treacherous mountain path, he sinks midway.
Người nhận thức điều cốt lõi ở trong điều không cốt lõi, người ấy chắc chắn không tìm thấy được trí tuệ. Giống như con nai Sarabha ở trên đường núi hiểm trở, nó bị chìm đắm ở giữa chừng.
157.
157.
157.
Hīnajaccopi ce hoti, uṭṭhātā dhitimā naro;
Ācārasīlasampanno, nise aggīva bhāsati.
Even if a person is of low birth, if he is energetic and resolute, accomplished in conduct and virtue, he shines in the night like a fire.
Dầu cho người có sanh ra trong dòng dõi thấp kém, nhưng là người siêng năng, kiên định, đầy đủ tư cách và giới hạnh, thì người ấy vẫn tỏa sáng trong đêm tối, giống như ngọn lửa.
158.
158.
158.
Etaṃ me upamaṃ katvā, putte vijjāsu vācaya †;
Saṃvirūḷhetha medhāvī, khette bījaṃva † vuṭṭhiyāti.
Taking this as my simile, have your sons instructed in the sciences. May the wise one thereby flourish, like a seed in a field with rain.
Tâu Đại vương, sau khi đã lấy ví dụ này của tôi, xin ngài hãy dạy dỗ các hoàng tử về các môn học. Người có trí tuệ sẽ được tăng trưởng, giống như hạt giống ở trong ruộng nhờ có cơn mưa.
Cūḷahaṃsajātakaṃ chaṭṭhaṃ.
The Cūḷahaṃsa Jātaka, the Sixth.
Chuyện Bổn sanh Cūḷahaṃsa, phần thứ sáu.