Bản dịch
JA 498 — Chuyện Đôi Bạn Citta-Sambh ùta (Tiền thân Citta-Sambhùta)
2. Cittasambhūtajātaka
2351. “Mọi việc làm của con người đều có quả báo và khéo được tích lũy. Không có nghiệp nào là rỗng không (không có quả báo). Trẫm nhìn thấy Sambhūta có đại năng lực, đã được thành tựu quả phước do nghiệp của bản thân.
2352. Mọi việc làm của con người đều có quả báo và khéo được tích lũy. Không có nghiệp nào là rỗng không (không có quả báo). Phải chăng cũng tương tự y như thế đối với Citta? Phải chăng sự thành tựu thuộc về ý của người ấy cũng giống như của trẫm?”
2353. “Mọi việc làm của con người đều có quả báo và khéo được tích lũy. Không có nghiệp nào là rỗng không (không có quả báo). Tâu bệ hạ, xin bệ hạ hãy nhận biết về Citta là tương tự y như vậy. Sự thành tựu thuộc về ý của người ấy cũng giống như của bệ hạ.”
2354. “Phải chăng khanh là Citta? Khanh đã nghe từ chính vị ấy nói? Hay là người nào đó đã nói điều này về vị ấy với khanh? Câu kệ ngôn đã được ngâm nga khéo léo; không có sự hoài nghi đối với trẫm. Trẫm ban cho khanh ân huệ là một trăm ngôi làng.”
2355. “Thần không phải là Citta. Thần đã không nghe từ chính vị ấy nói. Một vị ẩn sĩ đã nói điều ấy cho thần rằng: ‘Ngươi hãy đi đến gặp và ngâm nga câu kệ ngôn cho đức vua nghe. Thậm chí được hoan hỷ, đức vua cũng có thể ban cho ngươi ân huệ.’”
2356. “Đúng vậy, hãy cho thắng ngựa vào cỗ vương xa đã khéo được kiến tạo, có các tấm thảm may nhiều màu sắc. Các khanh hãy buộc dây đai, hãy đeo vòng trang sức ở cổ cho các con voi.
2357. Hãy cho vỗ lên các trống lớn, trống nhỏ, và các tù và. Và hãy thắng ngựa cho những cỗ xe tốc hành. Ngay hôm nay, trẫm sẽ đi đến khu ẩn cư ấy, ngay tại nơi mà trẫm sẽ nhìn thấy vị ẩn sĩ ngồi.”
2358. “Quả thật, lợi ích khéo đạt được đã có cho trẫm! Câu kệ ngôn đã được ngâm nga khéo léo ở giữa hội chúng. Trẫm đây được hân hoan, sau khi nhìn thấy vị ẩn sĩ thành tựu về giới và phận sự; trẫm trở nên vui sướng.
2359. Xin bậc đạo hạnh hãy tiếp nhận chỗ ngồi, nước, dầu bôi chân của chúng tôi. Chúng tôi xin phép dâng bậc đạo hạnh các vật giá trị. Xin bậc đạo hạnh hãy thọ nhận vật giá trị của chúng tôi.
2360. Và hãy để cho bọn họ làm cho chỗ trú ngụ của ngài trở nên xinh xắn. Xin ngài hãy để cho đám phụ nữ hầu hạ. Xin ngài hãy tạo cho cơ hội, không có ngăn cản. Cả hai chúng ta hãy cai quản vương quốc này.”
2361. “Tâu bệ hạ, sau khi nhìn thấy kết quả của uế hạnh, rồi quả thành tựu lớn lao của việc hành thiện, tôi sẽ tự chế ngự bản thân như vậy, không cầu mong con cái, thú vật, hay tài sản.
2362. Đời sống của loài người ở thế gian này chỉ có mười giai đoạn mười năm này thôi. Khi giới hạn ấy vẫn còn chưa đạt đến, con người tựa như cây sậy đã bị đốn ngã, khô héo dần.
2363. Ở cuộc sống ấy, cái gì là sự vui vẻ, cái gì là sự chơi đùa, cái gì là sự khoái lạc, cái gì là sự tầm cầu tài sản? Đối với tôi, có việc gì với các con và những người vợ? Tâu bệ hạ, tôi đã thoát ra khỏi sự trói buộc.
2364. Tôi đây nhận biết rõ điều ấy, Tử Thần không mê hoặc được tôi. Đối với người đã bị Thần Chết chế ngự, thì cái gì là sự khoái lạc, cái gì là sự tầm cầu tài sản?
2365. Tâu vị chúa của loài người, việc sanh ra ở loài người là thấp thỏi, dòng dõi của hạng người hạ tiện là kém cỏi nhất trong số các loài hai chân. Do các nghiệp vô cùng xấu xa của bản thân, chúng ta đã sanh vào bào thai của dòng dõi hạ tiện trong thời quá khứ.
2366. Chúng ta đã là những người dòng dõi hạ tiện ở xứ Avantī, là loài nai ở cạnh sông Nerañjarā, là chim ưng ở bờ sông Nammadā, chúng ta đây, hôm nay, là Bà-la-môn và Sát-đế-lỵ.
2367. Mạng sống này bị dẫn đi, có tuổi thọ ít ỏi. Đối với người bị dẫn đi bởi tuổi già, các nơi trú ẩn là không có. Này Pañcāla, bệ hạ hãy làm theo lời nói này của tôi. Chớ tạo các nghiệp đưa đến khổ đau.
2368. Mạng sống này bị dẫn đi, có tuổi thọ ít ỏi. Đối với người bị dẫn đi bởi tuổi già, các nơi trú ẩn là không có. Này Pañcāla, bệ hạ hãy làm theo lời nói này của tôi. Chớ tạo các nghiệp có kết quả khổ đau.
2369. Mạng sống này bị dẫn đi, có tuổi thọ ít ỏi. Đối với người bị dẫn đi bởi tuổi già, các nơi trú ẩn là không có. Này Pañcāla, bệ hạ hãy làm theo lời nói này của tôi. Chớ tạo các nghiệp khiến đầu bị lấm bụi (ô nhiễm).
2370. Mạng sống này bị dẫn đi, có tuổi thọ ít ỏi. Sự già tiêu hủy sắc đẹp của người đang bị già. Này Pañcāla, bệ hạ hãy làm theo lời nói này của tôi. Chớ tạo các nghiệp đưa đến việc sanh vào địa ngục.”
2371. “Quả đúng vậy, lời nói ấy của ngài là sự thật, giống như vị ẩn sĩ đã nói điều ấy như vậy. Thưa vị tỳ khưu, các dục của trẫm có vẻ không ít, chúng là khó dứt bỏ bởi người như trẫm.
2372. Giống như con voi bị lún xuống ở giữa bãi lầy, trong khi nhìn thấy đất bằng nhưng không có khả năng để đi đến; cũng tương tự như vậy, trẫm bị lún xuống ở bãi lầy dục vọng, không đi theo con đường của vị tỳ khưu được.
2373. Cũng giống như người mẹ và người cha chỉ dạy đứa con trai sao cho nó có thể có sự an lạc, thưa ngài, cũng tương tự như vậy, xin ngài hãy chỉ dạy trẫm cách thực hành nào để sau khi chết, trẫm có thể có sự an lạc.”
2374. “Tâu vị chúa của loài người, nếu bệ hạ không thể nỗ lực để dứt bỏ các dục này thuộc về loài người, tâu bệ hạ, bệ hạ hãy thiết lập luật pháp có đủ sức mạnh, và chớ để lối hành xử bất công xảy ra ở xứ sở của bệ hạ.
2375. Hãy cho các sứ giả đi khắp bốn phương thỉnh mời các vị Sa-môn và Bà-la-môn. Bệ hạ hãy hộ độ các vị ấy với cơm ăn và nước uống, với y phục và vật dụng nằm ngồi.
2376. Với tâm tịnh tín, bệ hạ hãy làm hài lòng các vị Sa-môn và Bà-la-môn với cơm ăn và nước uống. Sau khi bố thí và hưởng thụ tùy theo khả năng, là người không bị chê trách, bệ hạ sẽ đạt đến vị thế cõi trời.
2377. Tâu bệ hạ, nếu sự mê đắm khống chế bệ hạ trong khi bệ hạ đang tiêu khiển với đám phụ nữ, bệ hạ hãy chú tâm vào chính câu kệ ngôn này và hãy cho giảng giải nó ở giữa hội chúng.
2378. Con người (trước đây) có chỗ nằm ngủ ở ngoài trời, được mẹ cho bú sữa trong lúc mẹ đang phải di chuyển, bị bỏ rơi lăn lóc với những con chó, người ấy hôm nay được gọi là ‘đức vua.’”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Sabbaṃ narānaṃ saphalaṃ suciṇṇaṃ, na kammunā kiñcana moghamatthi;
Passāmi sambhūtaṃ mahānubhāvaṃ, sakammunā puññaphalūpapannaṃ.
For men, all that is well-practiced is fruitful; no action whatsoever is in vain. Behold me, Sambhūta, of great power, arisen from the fruit of merit through my own kamma.
Mọi việc làm tốt của con người đều có kết quả, không có hành động nào là vô ích; Ta thấy Sambhūta, người có quyền năng vĩ đại, đã đạt được quả phước từ chính hành động của mình.
25.
25.
25.
Sabbaṃ narānaṃ saphalaṃ suciṇṇaṃ, na kammunā kiñcana moghamatthi;
Kaccinnu cittassapi evamevaṃ, iddho mano tassa yathāpi mayhaṃ.
All that is well-practiced by men is fruitful; no action whatsoever is in vain. Is it indeed so for Citta as well? Is his mind as prosperous as mine?
Mọi việc làm tốt của con người đều có kết quả, không có hành động nào là vô ích; Liệu Citta có được như vậy không, tâm của anh ấy có thành tựu như của ta không?
26.
26.
26.
Sabbaṃ narānaṃ saphalaṃ suciṇṇaṃ, na kammunā kiñcana moghamatthi;
Cittampi jānāhi † tatheva deva, iddho mano tassa yathāpi tuyhaṃ.
All that is well-practiced by men is fruitful; no action whatsoever is in vain. Know, O King, that it is just so for Citta; his mind is as prosperous as yours.
Mọi việc làm tốt của con người đều có kết quả, không có hành động nào là vô ích; Tâu đại vương, xin hãy biết rằng Citta cũng như vậy, tâm của ngài ấy cũng thành tựu như của ngài.
27.
27.
27.
Bhavaṃ nu citto sutamaññato te, udāhu te koci naṃ etadakkhā;
Gāthā sugītā na mamatthi kaṅkhā, dadāmi te gāmavaraṃ satañca.
Are you Citta? Or was this heard by you from another? Or did someone tell you this matter? The verse is well-sung; I have no doubt. I give you a hundred excellent villages.
Ngươi có phải là Citta không, hay ngươi nghe điều này từ người khác? Hay có ai đã nói cho ngươi biết điều đó? Kệ này được hát rất hay, ta không còn nghi ngờ gì nữa. Ta ban cho ngươi một trăm ngôi làng tốt nhất.
28.
28.
28.
Na cāhaṃ citto sutamaññato me, isī ca me etamatthaṃ asaṃsi;
‘‘Gantvāna rañño paṭigāhi † gāthaṃ, api te varaṃ attamano dadeyya’’ †.
I am not Citta; it was heard by me from another. A sage told me this matter, saying: ‘Go and recite the verse to the king; perhaps, being pleased, he might give you a boon.’
Tôi không phải là Citta, tôi nghe điều này từ người khác. Một vị ẩn sĩ đã nói với tôi điều này: 'Hãy đến hát lại bài kệ này cho nhà vua, có thể ngài sẽ vui lòng và ban thưởng cho ngươi'.
29.
29.
29.
Yojentu ve rājarathe, sukate cittasibbane;
Kacchaṃ nāgānaṃ bandhatha, gīveyyaṃ paṭimuñcatha.
Let them yoke the royal chariots, well-made and wondrously adorned. Bind the girths of the elephants; put on their neck-ornaments.
Hãy thắng những cỗ xe hoàng gia được chế tác tinh xảo và trang trí lộng lẫy; Hãy buộc yên cho voi, và đeo trang sức cổ cho chúng.
30.
30.
30.
Āhaññantu † bherimudiṅgasaṅkhe †, sīghāni yānāni ca yojayantu;
Ajjevahaṃ assamaṃ taṃ gamissaṃ, yattheva dakkhissamisiṃ nisinnaṃ.
Let the kettledrums, tabors, and conches be sounded; let them yoke the swift vehicles. This very day I will go to that hermitage where I shall see the seated sage.
Hãy cho đánh trống bheri, trống mudiṅga và thổi tù và; Hãy thắng những cỗ xe tốc hành; Ngay hôm nay ta sẽ đến am thất ấy, nơi ta sẽ được thấy vị ẩn sĩ đang ngồi.
31.
31.
31.
Suladdhalābho vata me ahosi, gāthā sugītā parisāya majjhe;
Svāhaṃ isiṃ sīlavatūpapannaṃ, disvā patīto sumanohamasmi.
Indeed, a gain was well-gained by me: a verse well-sung in the midst of the assembly. Having seen the sage endowed with virtue, I am delighted and joyful.
Ta quả đã được lợi ích lớn lao, bài kệ đã được hát rất hay giữa hội chúng; Và ta, sau khi được thấy vị ẩn sĩ đầy đủ giới hạnh, lòng ta vô cùng hoan hỷ và vui mừng.
32.
32.
32.
Āsanaṃ udakaṃ pajjaṃ, paṭiggaṇhātu no bhavaṃ;
Agghe bhavantaṃ pucchāma, agghaṃ kurutu no bhavaṃ.
May your reverence accept our seat, water, and water for the feet. We invite your reverence to accept our gift of hospitality; may your reverence accept our offering.
Xin ngài hãy nhận lấy chỗ ngồi, nước uống, và nước rửa chân của chúng tôi. Chúng tôi thỉnh mời ngài đến với vật cúng dường quý giá, xin ngài hãy nhận lấy vật cúng dường quý giá của chúng tôi.
33.
33.
33.
Rammañca te āvasathaṃ karontu, nārīgaṇehi paricārayassu;
Karohi okāsamanuggahāya, ubhopi maṃ issariyaṃ karoma.
Let them make a delightful dwelling for you; be attended by troops of women. Grant the opportunity for showing favor; let us both exercise this sovereignty.
Mong họ hãy xây dựng cho ngài một nơi ở đáng vui thích, ngài hãy vui hưởng với đoàn tùy nữ. Xin hãy ban cho cơ hội để chúng tôi được ban ân, cả hai chúng ta hãy cùng hưởng thụ sự giàu sang này.
34.
34.
34.
Disvā phalaṃ duccaritassa rāja, atho suciṇṇassa mahāvipākaṃ;
Attānameva paṭisaṃyamissaṃ, na patthaye putta † pasuṃ dhanaṃ vā.
Having seen the fruit of misconduct, O king, and also the great result of good conduct, I will restrain myself alone. I do not long for a son, cattle, or wealth.
Tâu đại vương, sau khi thấy quả của hành vi xấu, và cũng thấy quả báo lớn lao của hành vi tốt, tôi sẽ chỉ tự chế ngự chính bản thân mình, tôi không mong cầu con cái, gia súc, hay của cải.
35.
35.
35.
Dasevimā vassadasā, maccānaṃ idha jīvitaṃ;
Apattaññeva taṃ odhiṃ, naḷo chinnova sussati.
These ten are the decades of years for a mortal’s life here. Even before reaching that limit, one withers away like a cut reed.
Mạng sống của chúng sanh ở đây có mười thập niên này; chưa đạt đến giới hạn đó, nó đã khô héo đi giống như cây sậy bị cắt.
36.
36.
36.
Tattha kā nandi kā khiḍḍā, kā ratī kā dhanesanā;
Kiṃ me puttehi dārehi, rāja muttosmi bandhanā.
In that, what delight is there, what play, what pleasure, what seeking of wealth? What are sons and wives to me? O king, I am freed from bondage.
Trong đời sống như vậy, có sự vui thích nào, có sự vui đùa nào, có sự hoan lạc nào, có sự tìm cầu của cải nào? Con cái và vợ có ích gì cho ta? Tâu đại vương, ta đã được giải thoát khỏi sự trói buộc.
37.
37.
37.
Sohaṃ evaṃ pajānāmi †, maccu me nappamajjati;
Antakenādhipannassa, kā ratī kā dhanesanā.
Thus I understand: Death is not heedless of me. For one overcome by the Ender, what pleasure is there, what seeking of wealth?
Ta ấy biết rõ như vậy, cái chết không hề xao lãng đối với ta. Đối với người bị Thần Chết chinh phục, có sự hoan lạc nào, có sự tìm cầu của cải nào?
38.
38.
38.
Jāti narānaṃ adhamā janinda, caṇḍālayoni dvipadākaniṭṭhā †;
Sakehi kammehi supāpakehi, caṇḍālagabbhe † avasimha pubbe.
The lowest birth for humans, O lord of men, is the caṇḍāla womb, the meanest of bipeds. Through our own exceedingly evil deeds, we formerly dwelt in a caṇḍāla’s womb.
Tâu đức vua, dòng dõi của loài người là thấp kém, dòng dõi Chiên-đà-la là thấp kém nhất trong loài hai chân. Do những nghiệp rất xấu ác của chính mình, trong quá khứ, chúng tôi đã từng ở trong bụng mẹ Chiên-đà-la.
39.
39.
39.
Caṇḍālāhumha avantīsu, migā nerañjaraṃ pati;
Ukkusā nammadātīre †, tyajja brāhmaṇakhattiyā.
We were caṇḍālas in Avanti, deer near the Nerañjarā, and ospreys on the bank of the Nammadā; today we are brahmins and khattiyas.
Chúng tôi đã là người Chiên-đà-la ở xứ Avantī, là những con nai bên bờ sông Nerañjarā, là những con chim ưng bên bờ sông Nammadā; hôm nay, chúng tôi ấy là Bà-la-môn và Sát-đế-lỵ.
40.
40.
40.
Upanīyati jīvitamappamāyu, jarūpanītassa na santi tāṇā;
Karohi pañcāla mameta † vākyaṃ, mākāsi kammāni dukkhudrayāni.
Life is led away, the lifespan is short; for one led on by old age, there are no shelters. Heed this word of mine, O Pañcāla: do not perform deeds that result in future suffering.
Mạng sống bị dẫn đi, tuổi thọ ngắn ngủi; đối với người bị tuổi già dẫn đi, không có nơi nương tựa. Hỡi vua Pañcāla, hãy làm theo lời này của ta, chớ có làm những nghiệp đem lại khổ đau.
41.
41.
41.
Upanīyati jīvitamappamāyu, jarūpanītassa na santi tāṇā;
Karohi pañcāla mameta vākyaṃ, mākāsi kammāni dukkhapphalāni.
Life is led away, the lifespan is short; for one led on by old age, there are no shelters. Heed this word of mine, O Pañcāla: do not perform deeds that have suffering as their fruit.
Mạng sống bị dẫn đi, tuổi thọ ngắn ngủi; đối với người bị tuổi già dẫn đi, không có nơi nương tựa. Hỡi vua Pañcāla, hãy làm theo lời này của ta, chớ có làm những nghiệp có quả là khổ đau.
42.
42.
42.
Upanīyati jīvitamappamāyu, jarūpanītassa na santi tāṇā;
Karohi pañcāla mameta vākyaṃ, mākāsi kammāni rajassirāni.
Life is led away, the lifespan is short; for one led on by old age, there are no shelters. Heed this word of mine, O Pañcāla: do not perform deeds that are defiled.
Mạng sống bị dẫn đi, tuổi thọ ngắn ngủi; đối với người bị tuổi già dẫn đi, không có nơi nương tựa. Hỡi vua Pañcāla, hãy làm theo lời này của ta, chớ có làm những nghiệp dính mắc phiền não.
43.
43.
43.
Upanīyati jīvitamappamāyu, vaṇṇaṃ jarā hanti narassa jiyyato;
Karohi pañcāla mameta vākyaṃ, mākāsi kammaṃ nirayūpapattiyā.
Life is led away, the lifespan is short; old age destroys the beauty of a man as he decays. Heed this word of mine, O Pañcāla: do not perform a deed that leads to rebirth in hell.
Mạng sống bị dẫn đi, tuổi thọ ngắn ngủi, tuổi già hủy hoại sắc đẹp của người đang già đi. Hỡi vua Pañcāla, hãy làm theo lời này của ta, chớ có làm nghiệp để sanh vào địa ngục.
44.
44.
44.
Addhā hi saccaṃ vacanaṃ tavetaṃ, yathā isī bhāsasi evametaṃ;
Kāmā ca me santi anapparūpā, te duccajā mādisakena bhikkhu.
Indeed, this word of yours is true; just as you speak, O sage, so it is. But I have sensual pleasures of no small measure, and they are hard to abandon for one like me, O monk.
Chắc chắn vậy, lời này của ngài là sự thật; hỡi vị ẩn sĩ, như ngài nói, nó là như vậy. Và tôi có rất nhiều dục lạc; hỡi vị khất sĩ, chúng khó từ bỏ bởi người như tôi.
45.
45.
45.
Nāgo yathā paṅkamajjhe byasanno, passaṃ thalaṃ nābhisambhoti gantuṃ;
Evampahaṃ † kāmapaṅke byasanno, na bhikkhuno maggamanubbajāmi.
Just as an elephant sunk in the middle of the mud, though seeing dry land, is unable to go there; so too am I sunk in the mud of sensual pleasure. I cannot follow the path of a monk.
Giống như con voi bị sa lầy giữa vũng bùn, dù thấy đất liền nhưng không thể đi đến; cũng vậy, tôi bị sa lầy trong vũng bùn dục lạc, không thể đi theo con đường của vị khất sĩ.
46.
46.
46.
Yathāpi mātā ca pitā ca puttaṃ, anusāsare kinti sukhī bhaveyya;
Evampi maṃ tvaṃ anusāsa bhante, yathā ciraṃ † pecca sukhī bhaveyyaṃ.
Just as a mother and father would instruct their child, thinking, ‘How might he be happy?’; so too, venerable sir, instruct me, so that after passing away I may be happy for a long time.
Giống như cha và mẹ khuyên dạy con: 'Làm sao con được an lạc?'; thưa ngài, cũng vậy, xin ngài hãy khuyên dạy tôi, để mà sau khi chết, tôi được an lạc lâu dài.
47.
47.
47.
No ce tuvaṃ ussahase janinda, kāme ime mānusake pahātuṃ;
Dhammiṃ † baliṃ paṭṭhapayassu rāja, adhammakāro tava † māhu raṭṭhe.
If you are not able, O lord of men, to abandon these human sensual pleasures, then establish a righteous tribute, O king. Let there be no unrighteous practice in your kingdom.
Tâu đức vua, nếu ngài không thể từ bỏ những dục lạc của con người này, thì tâu đại vương, hãy thiết lập việc thu thuế đúng pháp, chớ có hành vi phi pháp trong vương quốc của ngài.
48.
48.
48.
Dūtā vidhāvantu disā catasso, nimantakā samaṇabrāhmaṇānaṃ;
Te annapānena upaṭṭhahassu, vatthena senāsanapaccayena ca.
Let messengers run forth to the four directions to invite ascetics and brahmins. You should attend upon them with food and drink, and with robes, lodging, and requisites.
Mong các sứ giả hãy đi khắp bốn phương để thỉnh mời các vị Sa-môn và Bà-la-môn. Ngài hãy phục vụ các vị ấy với vật thực, đồ uống, y phục, và với thuốc men, chỗ ở.
49.
49.
49.
Annena pānena pasannacitto, santappaya samaṇabrāhmaṇe ca;
Datvā ca bhutvā ca yathānubhāvaṃ, anindito saggamupehi † ṭhānaṃ.
With a confident mind, satisfy the ascetics and brahmins with food and drink. Having given and having enjoyed according to your ability, go, being blameless, to the heavenly state.
Với tâm trong sạch, hãy làm cho các vị Sa-môn và Bà-la-môn được hài lòng với vật thực và đồ uống. Sau khi cho và sau khi hưởng thụ tùy theo khả năng, không bị chê trách, ngài hãy đi đến cảnh giới trời.
50.
50.
50.
Sace ca taṃ rāja mado saheyya, nārīgaṇehi paricārayantaṃ;
Imameva gāthaṃ manasī karohi, bhāsesi † cenaṃ parisāya majjhe.
And if, O king, pride should overcome you while being attended by troops of women, bear this very verse in mind, and speak it in the midst of the assembly.
Tâu đại vương, và nếu sự kiêu mạn chế ngự ngài trong khi đang vui hưởng với đoàn tùy nữ, hãy tác ý chính bài kệ này, và hãy đọc nó giữa hội chúng.
51.
51.
51.
Abbhokāsasayo jantu, vajantyā khīrapāyito;
Parikiṇṇo suvānehi †, svājja rājāti vuccatīti.
The creature who lay in the open air, suckled by a bitch when his mother went away, surrounded by dogs—he today is called ‘king’.
Sinh linh ấy đã ngủ ngoài trời, được chó mẹ cho bú sữa khi mẹ đi vắng, được bao quanh bởi những con chó; hôm nay, người ấy được gọi là vua.
Cittasambhūtajātakaṃ dutiyaṃ.
The Cittasambhūta Jātaka, the second.
Truyện Bổn sanh Cittasambhūta, thứ hai.