Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
JA 497

Bản dịch

JA 497Chuyện bậc Hiền trí Màtanga (Tiền thân Màtanga)

1. Mātaṅgajātaka

2328. “Thế ngươi từ đâu đi đến mà ăn mặc dơ dáy, tồi tàn, tựa như loài yêu tinh ở đống rác? Ngươi là ai mà buộc mảnh vải lượm từ đống rác ở cổ? Ngươi sẽ không được cúng dường.”

2329. “Này người có danh vọng, vật thực này của ngài được chuẩn bị sẵn; mọi người nhai nó, ăn nó, và uống nó. Ngài biết rằng tôi có cuộc sống nương vào sự bố thí của người khác. Vậy hãy cho người hạ tiện nhận lãnh miếng ăn do đứng chầu chực.”

2330. “Vật thực này của ta được chuẩn bị sẵn cho các vị Bà-la-môn. Vật thực này là của ta, của người có đức tin, nhằm sự tấn hóa cho bản thân. Ngươi hãy tránh xa nơi này. Việc gì mà ngươi đứng ở đây? Này kẻ hèn hạ, những người như ta không bố thí cho ngươi.”

2331. “Những người mong mỏi về thành quả gieo hạt giống ở đất bằng, ở đất trũng, và ở cánh đồng đẫm nước. (Tương tự như thế ấy,) ngài hãy ban phát vật thí với niềm tin ấy, có lẽ ngài có thể có được các bậc xứng đáng cúng dường.”

2332. “Các thửa ruộng ở thế gian đã được ta biết đến, ta sẽ đặt các hạt giống ở những nơi ấy. Đó là các vị Bà-la-môn thành tựu về dòng dõi và các chú thuật; các thửa ruộng ấy, ở thế gian này, là vô cùng mầu mỡ.”

2333. “Sự kiêu hãnh về dòng dõi, sự ngã mạn thái quá, tham lam, sân hận, kiêu căng, và si mê, tất cả các đức tính xấu này hiện hữu ở những nơi nào, những thửa ruộng ấy, ở thế gian này, là không mầu mỡ.

2334. Sự kiêu hãnh về dòng dõi, sự ngã mạn thái quá, tham lam, sân hận, kiêu căng, và si mê, tất cả các đức tính xấu này không hiện hữu ở những nơi nào, những thửa ruộng ấy, ở thế gian này, là vô cùng mầu mỡ.”

2335. “Các người ở nơi này, Upajotiya, Upajjhāya, hay Bhaṇḍakucchi, đã đi đâu? Các ngươi hãy cho gã này một trận đòn và sự trừng phạt, hãy nắm lấy kẻ hèn hạ ở cổ và tống khứ gã đi.

2336. “Kẻ nào đã mắng nhiếc bậc ẩn sĩ, kẻ ấy đã đào bới ngọn núi bằng móng tay, đã nhai sắt cục bằng răng, đã nuốt vào ngọn lửa.”

2337. Sau khi nói điều này, Mātaṅga, vị ẩn sĩ có sự chân thật và nỗ lực, đã bước đi ở trên không trung để cho các vị Bà-la- môn chiêm ngưỡng.

2338. “Cái đầu đã bị vặn ngược về phía sau. Nó xuội cánh tay không còn hoạt động. Các con mắt trắng dã giống như của người chết. Kẻ nào đã làm cho đứa con trai này của ta trở nên như vậy?”

2339. “Có vị Sa-môn đã đi đến nơi này. Vị ấy ăn mặc dơ dáy, tồi tàn, tựa như loài yêu tinh ở đống rác, đã có buộc mảnh vải lượm từ đống rác ở cổ. Vị ấy đã làm cho đứa con trai này của bà trở nên như vậy.”

2340. “Bậc có trí tuệ uyên bác đã đi về hướng nào? Này các thanh niên Bà-la- môn, các ngươi hãy nói với ta về việc ấy . Chúng ta hãy đi đến (gặp vị ẩn sĩ) và sửa chữa lại lỗi lầm ấy, có lẽ chúng ta sẽ nhận được lại cuộc sống cho đứa con trai ấy của ta.”

2341. “Bậc có trí tuệ uyên bác đã đi theo đường hư không, tựa như mặt trăng ở vào giữa cuộc hành trình trong ngày rằm. Hơn nữa, vị ẩn sĩ có sự công nhận về pháp chân thật, có dáng vóc tốt đẹp ấy, đã đi về hướng đông.”

2342. “Cái đầu đã bị vặn ngược về phía sau. Nó xuội cánh tay không còn hoạt động. Các con mắt trắng dã giống như của người chết. Kẻ nào đã làm cho đứa con trai này của ta trở nên như vậy?”

2343. “Quả thật, có các Dạ-xoa có đại năng lực, đã đi đến tháp tùng theo các vị ẩn sĩ có vóc dáng tốt đẹp (đã thành tựu đức hạnh). Chính các Dạ-xoa ấy, sau khi biết được (con trai nàng có) tâm xấu xa, bực bội, đã làm cho con trai của nàng trở nên như vậy.”

2344. “Và các Dạ-xoa đã làm cho con trai của thiếp trở nên như vậy. Thưa bậc hành Phạm hạnh, riêng ngài xin chớ giận dữ với thiếp. Thiếp đi đến nương nhờ hai bàn chân của chính ngài. Thưa vị tỳ khưu, thiếp đã đi đến vì nỗi sầu muộn về đứa con trai.”

2345. “Đối với ta, đúng ngay vào lúc ấy và bây giờ, không có chút nào sân hận trong ý nghĩ của ta. Và con trai của nàng bị say sưa do sự kiêu hãnh về Kinh Vệ Đà; nó đã học thuộc Kinh Vệ Đà nhưng không hiểu biết ý nghĩa.”

2346. “Thật vậy, thưa vị tỳ khưu, đương nhiên sự nhận biết của con người cũng bị mê mờ trong chốc lát. Thưa bậc có trí tuệ uyên bác, xin ngài hãy tha thứ cho một sự sai trái. Các bậc sáng suốt không có năng lực của sự giận dữ.”

2347. “Và đây là miếng ăn do đứng chầu chực của ta. Hãy cho Maṇḍavya thiểu trí ăn vật ấy. Các Dạ-xoa sẽ không quấy nhiễu con trai của nàng, và đứa con trai ấy của nàng sẽ khỏi bệnh.”

2348. “Này Maṇḍavya, con thật là ngu si, thiểu trí, là kẻ không rành rẽ về các thửa ruộng phước. Con ban phát vật thí ở những kẻ có khuyết điểm lớn, ở những kẻ có hành động bị ô nhiễm, ở những kẻ đã không tự chế ngự.

2349. Những vị có tóc được bện lại, mặc y phục bằng da dê, râu mọc dài ở miệng tựa như cái giếng nước cũ kỹ. Con hãy nhìn xem người này, có sự ăn mặc dơ dáy. Không nên hộ độ kẻ tóc bện, mặc y da dê, nhưng thiểu trí.

2350. Đối với những vị nào có sự luyến ái, sân hận, và vô minh đã được dứt trừ, những bậc A-la- hán có các lậu hoặc đã được cạn kiệt, sự bố thí ở những vị ấy có quả báu lớn lao.”

xxxx. “Sau khi có tâm ý xấu xa với vị ẩn sĩ Mātaṅga có danh tiếng, vua xứ Mejjha cùng toàn bộ xứ sở đã bị tiêu diệt. Từ đó, đã có khu rừng Mejjha.”