Bản dịch
JA 499 — Chuyện Đại Vương Sivi (Tiền thân Sivi)
3. Sivijātaka
2379. Chính lão già, trong lúc (bị mù) không nhìn thấy, từ nơi xa xôi đã đi đến để cầu xin con mắt (nói rằng): “Chúng ta sẽ có (mỗi người) một con mắt. Được yêu cầu, xin bệ hạ hãy bố thí con mắt đến tôi.”
2380. “Này lão ăn mày, được ai chỉ bảo mà lão đã đi đến nơi này để cầu xin thị giác. Lão cầu xin phần cơ thể quý giá nhất, là vật khó dứt bỏ vô cùng. Người ta đã nói con mắt là vật khó dứt bỏ bởi con người.”
2381. “Người đã nói điều ấy là ‘Chồng của nàng Sujā’ ở cõi Trời. Người ở trần gian đã gọi vị ấy là ‘Maghavā.’ Được vị ấy chỉ bảo nên lão ăn mày tôi đã đi đến nơi này để cầu xin thị giác.
2382. Trong khi lão đang van nài điều cầu xin tột đỉnh, xin bệ hạ hãy bố thí thị giác đến lão; được cầu xin, xin bệ hạ hãy bố thí thị giác cao quý đến lão; người ta đã nói con mắt là vật khó dứt bỏ bởi con người.”
2383. “Trong khi mong mỏi mục đích gì thì người ta đã đi đến vì mục đích ấy. Hãy để cho các ý định ấy của lão được thành tựu. Này Bà-la-môn, lão hãy nhận lấy hai con mắt.
2384. Trong khi lão cầu xin một, trẫm cho lão cả hai. Có mắt rồi, lão hãy đi cho dân chúng chiêm ngưỡng. Điều nào mà lão mong muốn, mong rằng điều ấy hãy được thành tựu trọn vẹn cho lão”
2385. “Tâu bệ hạ, bệ hạ chớ bố thí con mắt cho chúng thần, chớ dứt bỏ tất cả cho chúng thần. Tâu đại vương, đại vương hãy bố thí tài sản, con cái, và nhiều ngọc bích.
2386. Tâu bệ hạ, bệ hạ hãy bố thí các cỗ xe đã được thắng ngựa thuần chủng và đã được trang hoàng. Tâu đại vương, đại vương hãy bố thí những con voi được nai nịt và phục sức bằng vàng.
2387. Tâu đấng thủ lãnh xa binh, giống như tất cả dân chúng xứ Sivi cùng với các cỗ xe kéo, và các cỗ xe ngựa luôn luôn hộ tống xung quanh bệ hạ, bệ hạ hãy bố thí (tài sản và các vật ngoại thân) như thế ấy.”
2388. “Thật vậy, người nào sau khi nói rằng: ‘Tôi sẽ bố thí,’ rồi có ý định không bố thí nữa, người ấy tự máng vào cổ cái bẫy đã được cài đặt ở mặt đất.
2389. Thật vậy, người nào sau khi nói rằng: ‘Tôi sẽ bố thí,’ rồi có ý định không bố thí nữa, người ấy còn xấu xa hơn cả kẻ xấu xa, bị đọa vào chốn đọa đày của Diêm Vương.
2390. Nên bố thí vật mà người ta cầu xin. không nên bố thí vật mà người ta không cầu xin. Trẫm đây sẽ bố thí vật mà người Bà-la-môn cầu xin trẫm.”
2391. “Tâu vị chúa của loài người, trong khi ước nguyện điều gì mà bệ hạ bố thí? Có phải là tuổi thọ, sắc đẹp, hạnh phúc, hay sức mạnh? Tại sao đức vua vô thượng của xứ Sivi lại bố thí hai con mắt vì nguyên nhân là thế giới (tái sanh) khác?”
2392. “Ta bố thí vật ấy không vì danh tiếng, không vì ước muốn con trai, không vì tài sản, không vì vương quốc. Đây là pháp đã được thực hành thời xa xưa của các bậc thiện nhân, chính vì như thế mà tâm ý của trẫm vui thích trong việc bố thí.”
2393. “Hai con mắt không có bị ta ghét bỏ, bản thân không có bị ta ghét bỏ; đối với ta quả vị Toàn Giác là yêu quý, vì thế ta đã bố thí con mắt.
2394. Này Sīvaka, khanh là người cộng sự và là bạn bè của trẫm. Là người đã được học tập rành rẽ, khanh hãy thực hiện tốt đẹp lời nói của trẫm. Trẫm mong muốn khanh hãy móc ra hai con mắt của trẫm rồi đặt vào ở hai bàn tay của lão ăn mày.”
2395. “Được khuyến khích bởi đức vua Sivi, Sīvaka, người thực hiện lời nói, đã móc ra hai con mắt của đức vua rồi trao cho vị Bà-la-môn. Vị Bà-la-môn đã trở nên có mắt sáng, còn đức vua đã rơi vào cảnh mù lòa.”
2396. Sau đó vài ngày, khi hai con mắt đã được phục hồi, vị vua ấy, bậc làm hưng thịnh vương quốc Sivi, đã bảo người đánh xe rằng:
2397. “Này xa phu, khanh hãy thắng ngựa vào cỗ xe, và hãy thông báo khi đã làm xong. Chúng ta sẽ đi đến khu vườn giải trí, hồ sen, và các khu rừng.”
2398. Và đức vua đã đi đến bờ hồ bằng chiếc kiệu khiêng. Đấng Thiên Vương Sakka, chồng của nàng Sujā, đã hiện ra trước đức vua.
2399. “Ta là Sakka, chúa tể của chư Thiên, đã đi đến bên cạnh bệ hạ. Tâu vị ẩn sĩ vương, xin bệ hạ hãy chọn một ân huệ về bất cứ điều gì bệ hạ mong muốn ở trong tâm.”
2400. “Thưa Sakka, tài sản của trẫm có nhiều, sức mạnh và kho báu không phải là ít. Giờ đây, đối với trẫm, trong khi bị mù lòa, chỉ có cái chết là được ưa thích.”
2401. “Tâu chúa tể của loài người, những gì là sự thật, tâu vị Sát-đế-lỵ, xin bệ hạ hãy nói ra những điều ấy. Trong khi bệ hạ nói ra sự thật, con mắt sẽ có trở lại cho bệ hạ.”
2402. “Những người đi đến cầu xin trẫm là những kẻ ăn mày có dòng họ khác nhau. Kẻ nào cầu xin trẫm ở tại nơi ấy, trẫm đều có tâm yêu quý đối với kẻ ấy. Do lời nói chân thật này, mong rằng con mắt hãy sanh lên cho trẫm.
2403. Về việc lão Bà-la-môn ấy đã đi đến cầu xin trẫm rằng: ‘Xin bệ hạ hãy bố thí con mắt,’ trẫm đã ban cho lão Bà-la-môn ăn mày ấy hai con mắt.
2404. Sự hoan hỷ đã khởi lên ở trẫm nhiều hơn nữa, sự vui mừng đã sanh lên không phải là ít. Do lời nói chân thật này, mong rằng con mắt thứ hai hãy sanh lên cho trẫm.”
2405. “Thưa bậc làm hưng thịnh vương quốc Sivi, các kệ ngôn đã được nói đúng với bản thể. Cặp mắt thuộc cõi Trời này được hiện ra cho bệ hạ.
2406. Mong rằng bệ hạ đạt được việc nhìn thấy xuyên qua bức tường, xuyên qua tảng đá, băng qua núi non, và một trăm do-tuần ở xung quanh.”
2407. “Người nào ở thế gian này, khi không được cầu xin, mà có thể bố thí của cải, thậm chí là vật tuyệt vời nhất, thậm chí là vật vô cùng yêu quý đối với bản thân? Nào, tất cả dân chúng xứ Sivi đã tụ tập lại, các người hãy nhìn xem cặp mắt thuộc cõi Trời của trẫm.
2408. Trẫm đạt được việc nhìn thấy xuyên qua bức tường, xuyên qua tảng đá, băng qua núi non, và một trăm do-tuần ở xung quanh.
2409. Không có bất cứ việc gì cao hơn sự việc xả thí ở nơi này, ở cuộc sống của con người. Sau khi bố thí con mắt thuộc nhân loại, trẫm nhận được con mắt thuộc cõi Trời.
2410. Này các người dân xứ Sivi, sau khi nhìn thấy việc này, các người hãy bố thí các vật thí, các ngươi hãy thụ hưởng. Sau khi bố thí và thụ hưởng tùy theo khả năng, là những người không bị chê trách, các người sẽ đạt đến vị thế cõi Trời.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Dūre apassaṃ therova, cakkhuṃ yācitumāgato;
Ekanettā bhavissāma, cakkhuṃ me dehi yācito.
Not seeing from afar, like an old elder, I have come to beg for an eye. O you who are begged, give me an eye; thus, we shall each have one eye.
Giống như một trưởng lão không thấy được ở xa, tôi đã đến để xin con mắt. Chúng ta sẽ là những người mỗi người một mắt, hỡi người được yêu cầu, hãy cho tôi một con mắt.
53.
53.
53.
Kenānusiṭṭho idha māgatosi, vanibbaka † cakkhupathāni yācituṃ;
Suduccajaṃ yācasi uttamaṅgaṃ, yamāhu nettaṃ purisena duccajaṃ.
O beggar, instructed by whom have you come here to beg for the means of sight? You beg for the supreme limb, which they say is most difficult for a person to give away—the eye.
Hỡi người ăn xin, được ai chỉ dạy mà ngươi đã đến đây để xin những con mắt? Ngươi xin một bộ phận cao quý nhất rất khó từ bỏ, cái mà họ nói là con mắt, khó từ bỏ bởi một người.
54.
54.
54.
Yamāhu devesu sujampatīti, maghavāti naṃ āhu manussaloke;
Tenānusiṭṭho idha māgatosmi, vanibbako cakkhupathāni yācituṃ.
He whom they call Sujampati among the devas, and whom they call Maghavā in the world of humans—instructed by him, I, a beggar, have come here to beg for the means of sight.
Người mà họ gọi là Sujampati giữa các vị trời, và họ gọi vị ấy là Maghavā trong thế giới loài người; được vị ấy chỉ dạy, tôi, người ăn xin, đã đến đây để xin những con mắt.
55.
55.
55.
Vanibbato † mayha vaniṃ † anuttaraṃ, dadāhi te cakkhupathāni yācito;
Dadāhi me cakkhupathaṃ anuttaraṃ, yamāhu nettaṃ purisena duccajaṃ.
To me, the beggar, give the supreme object of my request; O you who are begged, give your means of sight. Give me that supreme means of sight, which they say is difficult for a person to give away—the eye.
Hỡi người được yêu cầu, hãy cho tôi, người ăn xin, vật bố thí vô song; hãy cho những con mắt của ngài. Hãy cho tôi con mắt vô song, cái mà họ nói là con mắt, khó từ bỏ bởi một người.
56.
56.
56.
Yena atthena āgacchi †, yamatthamabhipatthayaṃ;
Te te ijjhantu saṅkappā, labha cakkhūni brāhmaṇa.
For whatever purpose you have come, desiring whatever object, may those intentions of yours be fulfilled. Receive the eyes, O brahmin.
Hỡi người Bà-la-môn, với mục đích nào ngươi đã đến, đang mong cầu mục đích nào, mong rằng những ý định ấy của ngươi sẽ được thành tựu. Hãy nhận lấy những con mắt.
57.
57.
57.
Ekaṃ te yācamānassa, ubhayāni dadāmahaṃ;
Sa cakkhumā gaccha janassa pekkhato, yadicchase tvaṃ tadate samijjhatu.
To you who beg for one, I shall give both. Go, possessed of sight, while the people look on. Whatever you desire, may that be fulfilled for you.
Ngươi chỉ xin một con mắt, nhưng ta cho ngươi cả hai. Ngươi hãy đi với đôi mắt sáng trong khi mọi người đang nhìn. Điều gì ngươi mong muốn, nguyện cho ngươi được thành tựu như ý.
58.
58.
58.
Mā no deva adā cakkhuṃ, mā no sabbe parākari †;
Dhanaṃ dehi mahārāja, muttā veḷuriyā bahū.
O lord, do not give away your eye! Do not abandon all of us! Give wealth, O great king—many pearls and beryl gems.
Tâu Thiên tử, xin Ngài đừng bố thí con mắt, xin đừng từ bỏ tất cả chúng thần. Tâu Đại vương, xin hãy bố thí tài sản, nhiều ngọc trai và lưu ly.
59.
59.
59.
Yutte deva rathe dehi, ājānīye calaṅkate;
Nāge dehi mahārāja, hemakappanavāsase.
O lord, give yoked chariots and adorned thoroughbred steeds. Give elephants with golden trappings, O great king.
Tâu Thiên tử, xin hãy bố thí những cỗ xe đã thắng ngựa, những con tuấn mã được trang hoàng. Tâu Đại vương, xin hãy bố thí những con voi với yên cương và bộ đồ bằng vàng.
60.
60.
60.
Yathā taṃ sivayo † sabbe, sayoggā sarathā sadā;
Samantā parikireyyuṃ †, evaṃ dehi rathesabha.
O bull among charioteers, give in such a way that all the Sivis, with their teams and chariots, may always surround you.
Hỡi bậc tối thắng trong các vị vua! Như thế nào tất cả dân chúng xứ Sivi, cùng với voi ngựa và xe cộ, luôn luôn vây quanh ngài từ khắp bốn phương, cũng như vậy, xin ngài hãy bố thí.
61.
61.
61.
Yo ve dassanti vatvāna, adāne kurute mano;
Bhūmyaṃ † so patitaṃ pāsaṃ, gīvāyaṃ paṭimuñcati.
Whoever, having said, 'I will give,' then sets his mind on not giving, fastens around his own neck a snare that has fallen to the ground.
Người nào, sau khi nói rằng: 'Tôi sẽ cho', lại khởi tâm không cho, người ấy giống như tự đeo vào cổ mình cái thòng lọng đã được giăng sẵn trên mặt đất.
62.
62.
62.
Yo ve dassanti vatvāna, adāne kurute mano;
Pāpā pāpataro hoti, sampatto yamasādhanaṃ.
Whoever, having said, 'I will give,' then sets his mind on not giving, becomes more wicked than the wicked; he has arrived at the domain of Yama.
Người nào, sau khi nói rằng: 'Tôi sẽ cho', lại khởi tâm không cho, người ấy còn xấu xa hơn cả kẻ xấu xa, và sẽ phải đến nơi hành tội của vua Yama.
63.
63.
63.
Yañhi yāce tañhi dade, yaṃ na yāce na taṃ dade;
Svāhaṃ tameva dassāmi, yaṃ maṃ yācati brāhmaṇo.
Indeed, what one is asked for, that one should give; what one is not asked for, that one should not give. Therefore, I shall give that very thing which the brahmin begs of me.
Vật gì được xin thì nên cho vật ấy, vật gì không được xin thì không nên cho. Ta sẽ cho chính vật mà vị Bà-la-môn ấy xin ta.
64.
64.
64.
Āyuṃ nu vaṇṇaṃ nu sukhaṃ balaṃ nu, kiṃ patthayāno nu janinda desi;
Kathañhi rājā sivinaṃ anuttaro, cakkhūni dajjā paralokahetu.
O lord of men, is it longevity, beauty, happiness, or strength you desire in giving? For what do you give? How indeed could the king, supreme among the Sivis, give his eyes for the sake of the next world?
Thưa đức vua, ngài bố thí vì mong cầu điều gì? Là tuổi thọ, sắc đẹp, hạnh phúc hay sức mạnh? Cớ sao bậc quân vương vô song của xứ Sivi lại có thể vì đời sau mà bố thí đôi mắt của mình?
65.
65.
65.
Na vāhametaṃ yasasā dadāmi, na puttamicche na dhanaṃ na raṭṭhaṃ;
Satañca dhammo carito purāṇo, icceva dāne ramate mano mama †.
Indeed, I do not give this for fame; I desire not a son, nor wealth, nor a kingdom. Rather, it is the ancient practice of the good, and for this very reason my mind delights in giving.
Ta không bố thí vật này vì danh vọng, không mong cầu con cái, của cải hay vương quốc. Nhưng đây là pháp hạnh của các bậc hiền trí từ xưa đã thực hành, vì thế nên tâm ta chỉ hoan hỷ trong sự bố thí.
66.
66.
66.
Sakhā ca mitto ca mamāsi sīvika †, susikkhito sādhu karohi me vaco;
Uddharitvā † cakkhūni mamaṃ jigīsato, hatthesu ṭhapehi † vanibbakassa.
O Sivika, you are my companion and my friend. You are well-trained; heed my words well. Pluck out my eyes while I am still living and place them in the beggar's hands.
Hỡi Sivika, ngươi là bạn thân và bằng hữu của ta, là một thầy thuốc giỏi, hãy làm theo lời ta. Hãy lấy đôi mắt của ta khi ta còn sống, và đặt vào tay của người hành khất.
67.
67.
67.
Codito sivirājena, siviko vacanaṅkaro;
Rañño cakkhūnuddharitvā †, brāhmaṇassūpanāmayi;
Sacakkhu brāhmaṇo āsi, andho rājā upāvisi.
Urged by King Sivi, Sivika, obedient to his word, plucked out the king’s eyes and presented them to the brahmin. The brahmin became possessed of sight; the king sat down, blind.
Được vua Sivi thúc giục, thầy thuốc Sivika vâng lời, đã lấy đôi mắt của nhà vua và dâng lên cho vị Bà-la-môn. Vị Bà-la-môn có được đôi mắt, còn nhà vua trở nên mù lòa.
68.
68.
68.
Tato so katipāhassa, uparūḷhesu cakkhusu;
Sūtaṃ āmantayī rājā, sivīnaṃ raṭṭhavaḍḍhano.
Then, after some days, when the flesh had grown over his eye sockets, the king, the promoter of the Sivi kingdom, addressed his charioteer.
Sau đó, vài ngày trôi qua, khi vết thương ở mắt đã lành, vị vua ấy, người làm cho xứ Sivi thịnh vượng, đã cho gọi người đánh xe.
69.
69.
69.
Yojehi sārathi yānaṃ, yuttañca paṭivedaya;
Uyyānabhūmiṃ gacchāma, pokkharañño vanāni ca.
O charioteer, yoke the chariot, and inform me when it is yoked. Let us go to the park-land and to the forests with their lotus ponds.
Hỡi người đánh xe, hãy thắng xe vào, và báo cho ta biết khi đã xong. Chúng ta sẽ đi đến ngự uyển và các khu rừng có hồ sen.
70.
70.
70.
So ca pokkharaṇītīre †, pallaṅkena upāvisi;
Tassa sakko pāturahu, devarājā sujampati.
And he sat cross-legged on the bank of the lotus pond. To him Sakka, the king of the devas, Sujampati, appeared.
Và ngài đã ngồi kiết già bên bờ hồ sen. Vua Sakka, vua của chư thiên, phu quân của nàng Sujā, đã hiện ra trước mặt ngài.
71.
71.
71.
Sakkohamasmi devindo, āgatosmi tavantike;
Varaṃ varassu rājīsi, yaṃ kiñci manasicchasi.
I am Sakka, the lord of devas; I have come into your presence. Choose a boon, O royal sage, whatever you desire in your mind.
Ta là Sakka, vua của chư thiên, đã đến đây nơi ngài. Hỡi bậc vua hiền triết, hãy chọn lấy một điều ước, bất cứ điều gì ngài mong muốn trong tâm.
72.
72.
72.
Pahūtaṃ me dhanaṃ sakka, balaṃ koso canappako;
Andhassa me sato dāni, maraṇaññeva ruccati.
O Sakka, my wealth is abundant, my army is vast, and my treasury is immense. Now, being blind, only death is pleasing to me.
Thưa vua Sakka, của cải của tôi rất nhiều, quân lực hùng hậu, và kho tàng vô lượng. Bây giờ, khi đã mù lòa, tôi chỉ mong muốn cái chết mà thôi.
73.
73.
73.
Yāni saccāni dvipadinda, tāni bhāsassu khattiya;
Saccaṃ te bhaṇamānassa, puna cakkhu bhavissati.
O lord of bipeds, whatever truths there are, speak them, O khattiya. As you are speaking the truth, your eye will reappear.
Hỡi bậc chúa tể của loài hai chân, hỡi vị vua Sát-đế-lỵ, những lời chân thật nào có, xin ngài hãy nói lên. Khi ngài nói lên lời chân thật, đôi mắt sẽ lại xuất hiện.
74.
74.
74.
Ye maṃ yācitumāyanti, nānāgottā vanibbakā;
Yopi maṃ yācate tattha, sopi me manaso piyo;
Etena saccavajjena, cakkhu me upapajjatha.
Those beggars of various clans who come to beg from me—whoever among them begs from me, he too is dear to my mind. By this declaration of truth, may my eye arise.
Những người hành khất thuộc nhiều dòng dõi khác nhau đến để xin tôi. Trong số họ, bất cứ ai đến xin, người ấy cũng đều thân thương đối với tâm tôi. Nhờ lời chân thật này, cầu mong đôi mắt của tôi hãy sinh khởi.
75.
75.
75.
Yaṃ maṃ so yācituṃ āgā, dehi cakkhunti brāhmaṇo;
Tassa cakkhūni pādāsiṃ, brāhmaṇassa vanibbato †.
That brahmin who came to beg of me, saying, 'Give your eye!'—to that begging brahmin, I gave my eyes.
Vị Bà-la-môn ấy đã đến xin tôi rằng: 'Xin hãy cho đôi mắt'. Tôi đã cho đôi mắt đến vị Bà-la-môn hành khất ấy.
76.
76.
76.
Bhiyyo maṃ āvisī pīti, somanassañcanappakaṃ;
Etena saccavajjena, dutiyaṃ me upapajjatha.
Even greater joy and immense gladness entered me. By this declaration of truth, may my second eye arise.
Hỷ lạc đã tràn ngập trong tôi, và niềm hân hoan vô lượng cũng vậy. Nhờ lời chân thật này, cầu mong con mắt thứ hai của tôi hãy sinh khởi.
77.
77.
77.
Dhammena bhāsitā gāthā, sivīnaṃ raṭṭhavaḍḍhana;
Etāni tava nettāni, dibbāni paṭidissare.
O promoter of the Sivi kingdom, you have spoken these verses in accordance with the Dhamma. Behold, these divine eyes of yours now appear.
Hỡi bậc quân vương làm cho xứ Sivi thịnh vượng, ngài đã nói lên những câu kệ đúng với Chánh pháp. Những đôi mắt này của ngài đang hiện ra, chính là thiên nhãn.
78.
78.
78.
Tirokuṭṭaṃ tiroselaṃ, samatiggayha pabbataṃ;
Samantā yojanasataṃ, dassanaṃ anubhontu te.
Penetrating beyond walls, beyond rocky mountains, and beyond mountains, may your eyes experience sight for a hundred yojanas in every direction.
Cầu mong đôi mắt của ngài có thể nhìn thấy xa một trăm do-tuần khắp bốn phương, xuyên qua tường, qua núi đá và các rặng núi.
79.
79.
79.
Ko nīdha vittaṃ na dadeyya yācito, api visiṭṭhaṃ supiyampi attano;
Tadiṅgha sabbe sivayo samāgatā, dibbāni nettāni mamajja passatha.
Who here, when asked, would not give wealth, even one's own most excellent and dearest possession? Come now, all you Sivis who are assembled, and behold my divine eyes today!
Trên đời này, khi được xin, ai lại không cho đi của cải? Thậm chí nên cho đi cả vật quý giá và thân thương nhất của mình. Vậy thì, hỡi tất cả dân chúng xứ Sivi đã hội họp nơi đây, hôm nay hãy nhìn xem đôi thiên nhãn của ta.
80.
80.
80.
Tirokuṭṭaṃ tiroselaṃ, samatiggayha pabbataṃ;
Samantā yojanasataṃ, dassanaṃ anubhonti me.
Penetrating beyond walls, beyond rocky mountains, and beyond mountains, my eyes experience sight for a hundred yojanas in every direction.
Đôi mắt này của ta có thể nhìn thấy xa một trăm do-tuần khắp bốn phương, xuyên qua tường, qua núi đá và các rặng núi.
81.
81.
81.
Na cāgamattā paramatthi kiñci, maccānaṃ idha jīvite;
Datvāna mānusaṃ † cakkhuṃ, laddhaṃ me † cakkhuṃ amānusaṃ.
For mortals in this life, there is nothing more excellent than the measure of generosity. Having given the human eye, I have obtained the non-human eye.
Trong cuộc đời này của chúng sanh, không có gì cao thượng hơn sự xả thí. Sau khi cho đi đôi mắt của người thường, ta đã nhận được đôi mắt phi nhân.
82.
82.
82.
Etampi disvā sivayo, detha dānāni bhuñjatha;
Datvā ca bhutvā ca yathānubhāvaṃ, aninditā saggamupetha ṭhānanti.
Seeing this also, O people of Sivi, give gifts and enjoy them. Having given and enjoyed according to your means, being blameless, attain the heavenly abode.
Hỡi dân chúng xứ Sivi, sau khi đã thấy điều này, các ngươi hãy bố thí và hưởng dụng. Sau khi đã bố thí và hưởng dụng tùy theo khả năng, không bị chê trách, các ngươi sẽ đi đến cõi trời.
Sivijātakaṃ tatiyaṃ.
The Sivi Jātaka, the Third.
Chuyện Bổn Sanh Vua Sivi, phần thứ ba.