Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
JA 496

Bản dịch

JA 496Chuyện cúng thực phẩm đúng cấp bậc (Tiền thân Bhikkhà-Parampara)

13. Bhikkhāparamparajātaka

2199. “Tôi đã nhìn thấy vị có vóc dáng thanh tao, từ vương quốc đã đi đến vùng đất khô cằn, là người được sở hữu ngôi nhà mái nhọn cao quý, được cung phụng giường nằm cao sang.

2200. Vì lòng yêu mến bệ hạ đây, thần đã dâng bệ hạ bữa cơm thượng hạng, được nấu với gạo sālī đã đãi sạch, tinh khiết, có trộn lẫn thịt.

2201. Sau khi tiếp nhận bữa ăn ấy, bệ hạ đã bảo trao đến vị Bà-la-môn. Bệ hạ đã không ăn cho mình. Đây là pháp gì mà có được sự tôn kính của bệ hạ?”

2202. “Vị Bà-la-môn là thầy dạy học của trẫm, quán xuyến các công việc lớn nhỏ. Và vị thầy là nên được mời thỉnh; trẫm nên dâng bữa ăn (đến vị thầy).”

2203. “Giờ đây, tôi xin hỏi Bà-la-môn Gotama, vị được đức vua tôn vinh. Đức vua đã ban đến ngài bữa ăn tinh khiết, có trộn lẫn thịt.

2204. Sau khi tiếp nhận bữa ăn ấy, ngài đã dâng bữa ăn đến vị ẩn sĩ. Ngài là người nhận biết bản thân không phải là thửa ruộng cho sự bố thí. Đây là pháp gì mà có được sự tôn kính của ngài?”

2205. “Ta cưu mang các con và các người vợ. Ta bị trói buộc vào các căn nhà. Ta có thể hưởng thụ các dục của con người. Ta chỉ dạy cho các vị vua.

2206. Ta nên dâng bữa ăn đến bậc ẩn sĩ sống ở rừng, vị có sự khắc khổ thời gian dài, bậc trưởng thượng, có bản thân đã được tu tập.”

2207. “Và giờ đây, tôi xin hỏi bậc ẩn sĩ gầy ốm, nổi đầy gân, có móng tay chân và lông nách mọc dài, có răng bị đóng bợn, có đầu lấm bụi.

2208. Ngài sống một mình trong rừng, không mong mỏi về cuộc sống. Vị tỳ khưu là tốt hơn ngài về điều gì mà ngài đã dâng bữa ăn đến vị ấy?”

2209. “Ta đào các khoai mỡ và củ cải, các củ biḷālī và củ takkaḷa . Ta đập giũ các hạt kê, lúa dại, gom lại rồi trải ra phơi khô.

2210. Về rau cải, củ sen, mật ong, thịt thừa của thú rừng, táo rừng, và trái āmalaka , ta mang về các thứ ấy và thọ dụng. Đối với ta, có sự bám víu ấy.

2211. Là người nấu thức ăn, có vật sở hữu, còn chấp thủ, ta nên dâng bữa ăn đến vị không nấu, không có trạng thái chấp là của ta, không còn chấp thủ.”

2212. “Và giờ đây, tôi xin hỏi vị tỳ khưu đang ngồi im lặng, là bậc có sự hành trì tốt đẹp. Vị ẩn sĩ đã dâng đến ngài bữa ăn tinh khiết, có trộn lẫn thịt.

2213. Sau khi tiếp nhận bữa ăn ấy, ngài im lặng thọ dụng một mình. Ngài không mời mọc bất cứ người nào khác. Đây là pháp gì mà có được sự tôn kính của ngài?”

2214. “Ta không nấu, không bảo người khác nấu, ta không cắt gọt, không bảo người khác cắt gọt; ta đã nhận biết ta đây không còn bất cứ ô nhiễm nào, đã được lánh xa tất cả các điều ác xấu.

2215. Sau khi cầm vật thực bằng tay trái, bình nước bằng tay phải, vị ẩn sĩ đã dâng đến ta bữa ăn tinh khiết, có trộn lẫn thịt.

2216. Chính những vị này nên bố thí, những người có trạng thái chấp là của ta, có sở hữu. Ta nghĩ rằng người nào mời thỉnh thí chủ là việc làm trái khuấy.”

2217. “Quả thật vì lợi ích của ta mà hôm nay đấng thủ lãnh xa binh đã đi đến nơi này. Trước đây, ta không biết được vật đã được bố thí ở nơi nào có quả báo lớn.

2218. Các vị vua bị tham đắm vào các quốc độ, các vị Bà-la-môn vào các công việc lớn nhỏ, các vị ẩn sĩ bị tham đắm vào các rễ và trái cây, còn các vị tỳ khưu được giải thoát hoàn toàn.”