Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
JA 495

Bản dịch

JA 495Chuyện Mười Hạng Bà-La-Môn ( Tiền thân Dasa-Bràhmana)

12. Dasabrāhmaṇajātaka

2155. Đức vua yêu thích thiện pháp Yudhiṭṭhila đã nói với Vidhura rằng: “Này Vidhura, hãy tìm kiếm các vị Bà-la-môn có giới hạnh, có kiến thức, –

2156. –đã kiêng cử pháp đôi lứa, là những vị có thể thọ dụng vật thực của trẫm. Này khanh, chúng ta sẽ bố thí sự cúng dường ở nơi nào vật đã được bố thí là có quả báo lớn.”

2157. “Tâu bệ hạ, khó có được những vị Bà-la-môn có giới hạnh, có kiến thức, đã kiêng cử pháp đôi lứa, là những vị có thể thọ dụng vật thực của bệ hạ.

2158. Tâu đại vương, thật vậy, có mười hạng là dòng dõi Bà-la-môn. Xin bệ hạ hãy lắng nghe sự phân tích và xếp loại về họ một cách chi tiết của thần.

2159. Các vị mang các túi xách chứa đầy rễ cây được buộc lại, tổng hợp các phương thuốc, làm công việc tắm rửa, và lẩm nhẩm chú thuật.

2160. Tâu bệ hạ, các vị ấy, giống như các thầy thuốc, cũng được gọi là Bà-la-môn. Tâu đại vương, những vị ấy đã được kể ra; có phải chúng ta chọn các vị như thế ấy?”

2161. (Đức vua Koravya đã nói rằng): “Những kẻ ấy đã xa lìa phẩm hạnh Bà-la-môn, chúng không được gọi là Bà-la-môn. Này Vidhura, hãy tìm kiếm các vị khác cũng có giới hạnh, có kiến thức, –

2162. –đã kiêng cử pháp đôi lứa, là những vị có thể thọ dụng vật thực của trẫm. Này khanh, chúng ta sẽ bố thí sự cúng dường ở nơi nào vật đã được bố thí là có quả báo lớn.”

2163. Các vị ấy cầm lấy cái cồng và đi phía trước khua vang. Các vị còn chuyển tin nhắn, học tập về các cách điều khiển cỗ xe.

2164. Tâu bệ hạ, các vị ấy, giống như những người hầu, cũng được gọi là Bà-la-môn. Tâu đại vương, những vị ấy đã được kể ra; có phải chúng ta chọn các vị như thế ấy?”

2165. (Đức vua Koravya đã nói rằng): “Những kẻ ấy đã xa lìa phẩm hạnh Bà-la-môn, chúng không được gọi là Bà-la-môn. Này Vidhura, hãy tìm kiếm các vị khác có giới hạnh, có kiến thức, –

2166. –đã kiêng cử pháp đôi lứa, là những vị có thể thọ dụng vật thực của trẫm. Này khanh, chúng ta sẽ bố thí sự cúng dường ở nơi nào vật đã được bố thí là có quả báo lớn.”

2167. Các vị Bà-la-môn cầm lấy bầu nước uống và cây gậy cong, rồi tiếp cận các vị vua ở các thôn làng và các thị trấn (nói rằng): ‘Ở trong làng và ở trong rừng, khi chưa được bố thí, chúng tôi sẽ không đứng lên.’

2168. Tâu bệ hạ, các vị ấy, giống như những người thâu thuế, cũng được gọi là Bà-la-môn. Tâu đại vương, những vị ấy đã được kể ra; có phải chúng ta chọn các vị như thế ấy?”

2169. (Đức vua Koravya đã nói rằng): “Những kẻ ấy đã xa lìa phẩm hạnh Bà-la-môn, chúng không được gọi là Bà-la-môn. Này Vidhura, hãy tìm kiếm các vị khác có giới hạnh, có kiến thức, –

2170. –đã kiêng cử pháp đôi lứa, là những vị có thể thọ dụng vật thực của trẫm. Này khanh, chúng ta sẽ bố thí sự cúng dường ở nơi nào vật đã được bố thí là có quả báo lớn.”

2171. Những vị có móng tay chân và lông nách mọc dài, có răng bị đóng bợn, có đầu lấm bụi, được phủ đầy những bụi bặm, các vị ấy là những hành khất đi lang thang.

2172. Tâu bệ hạ, các vị ấy, giống như những người đào bứng gốc cây, cũng được gọi là Bà-la-môn. Tâu đại vương, những vị ấy đã được kể ra; có phải chúng ta chọn các vị như thế ấy?”

2173. (Đức vua Koravya đã nói rằng): “Những kẻ ấy đã xa lìa phẩm hạnh Bà-la-môn, chúng không được gọi là Bà-la-môn. Này Vidhura, hãy tìm kiếm các vị khác có giới hạnh, có kiến thức, –

2174. –đã kiêng cử pháp đôi lứa, là những vị có thể thọ dụng vật thực của trẫm. Này khanh, chúng ta sẽ bố thí sự cúng dường ở nơi nào vật đã được bố thí là có quả báo lớn.”

2175. 2176. “Tâu quân vương, các vị bán các loại loại hàng hóa có giá trị cao thấp khác nhau như là: trái harīṭaka, trái āmalaka, trái xoài, trái mận đỏ, trái vibhīṭaka, trái sa-kê, các cây chà răng, trái beluva, các trái táo, trái rājāyatana, mía và mật đường, ống xông khói, mật ong và thuốc nhỏ mắt.

Thuốc cao, ván, điếu, đường, ong mật, Nhiều thứ còn kia, họ bán hàng.

2177. Tâu bệ hạ, các vị ấy, giống như các thương buôn, cũng được gọi là Bà-la-môn. Tâu đại vương, những vị ấy đã được kể ra; có phải chúng ta chọn các vị như thế ấy?”

2178. (Đức vua Koravya đã nói rằng): “Những kẻ ấy đã xa lìa phẩm hạnh Bà-la-môn, chúng không được gọi là Bà-la-môn. Này Vidhura, hãy tìm kiếm các vị khác có giới hạnh, có kiến thức, –

2179. –đã kiêng cử pháp đôi lứa, là những vị có thể thọ dụng vật thực của trẫm. Này khanh, chúng ta sẽ bố thí sự cúng dường ở nơi nào vật đã được bố thí là có quả báo lớn. ”

Ở các văn bản Pāḷi của Miến Điện, Thái Lan, và PTS của Anh Quốc còn có thêm một hạng Bà-la-môn nữa ở chỗ này; như thế thì số lượng các hạng Bà-la-môn sẽ là 11, thay vì 10 như ở Tạng của Sri Lanka. Phần Pāli ở bên cạnh được thêm vào từ Tạng Miến Điện (Tạng Thái và Tạng của PTS cũng tương tự như thế).

2180. Một số viên quan tế tự thọ dụng bữa ăn ngoại lệ ở các ngôi làng, Nhiều người hỏi các vị ấy (về chiêm tinh, bói toán). Các vị là những người thiến và đóng dấu các con thú. Tại nơi ấy, thậm chí các con thú như trâu, heo rừng, dê bị giết chết.

2181. Tâu bệ hạ, các vị ấy, có hành vi giống như các đồ tể, cũng được gọi là Bà-la-môn. Tâu đại vương, những vị ấy đã được kể ra; có phải chúng ta chọn các vị như thế ấy?”

2182. (Đức vua Koravya đã nói rằng): “Những kẻ ấy đã xa lìa phẩm hạnh Bà-la-môn, chúng không được gọi là Bà-la-môn. Này Vidhura, hãy tìm kiếm các vị khác có giới hạnh, có kiến thức, –

2183. –đã kiêng cử pháp đôi lứa, là những vị có thể thọ dụng vật thực của trẫm. Này khanh, chúng ta sẽ bố thí sự cúng dường ở nơi nào vật đã được bố thí là có quả báo lớn.”

2184. Sau khi cầm lấy thanh gươm và mộc che, các vị Bà-la-môn đã giơ cao thanh kiếm, đứng ở các con đường của thương buôn, rồi còn hộ tống đoàn xe nữa.

2185. Tâu bệ hạ, các vị ấy, tương đương với những kẻ giữ bò hay những người man rợ, cũng được gọi là Bà-la-môn. Tâu đại vương, những vị ấy đã được kể ra; có phải chúng ta chọn các vị như thế ấy?”

2186. (Đức vua Koravya đã nói rằng): “Những kẻ ấy đã xa lìa phẩm hạnh Bà-la-môn, chúng không được gọi là Bà-la-môn. Này Vidhura, hãy tìm kiếm các vị khác có giới hạnh, có kiến thức, –

2187. –đã kiêng cử pháp đôi lứa, là những vị có thể thọ dụng vật thực của trẫm. Này khanh, chúng ta sẽ bố thí sự cúng dường ở nơi nào vật đã được bố thí là có quả báo lớn.”

2188. “Sau khi làm căn chòi nhỏ ở trong rừng, họ cho làm những cái bẫy và đánh bắt các con thỏ, mèo rừng, kỳ đà, cá, và rùa.

2189. Tâu bệ hạ, họ là những người thợ săn, các vị ấy cũng được gọi là Bà-la-môn. Tâu đại vương, những vị ấy đã được kể ra; có phải chúng ta chọn các vị như thế ấy?”

2190. (Đức vua Koravya đã nói rằng): “Những kẻ ấy đã xa lìa phẩm hạnh Bà-la-môn, chúng không được gọi là Bà-la-môn. Này Vidhura, hãy tìm kiếm các vị khác có giới hạnh, có kiến thức, –

2191. –đã kiêng cử pháp đôi lứa, là những vị có thể thọ dụng vật thực của trẫm. Này khanh, chúng ta sẽ bố thí sự cúng dường ở nơi nào vật đã được bố thí là có quả báo lớn.”

2192. Những vị khác với sự mong muốn về tài sản, đã nằm dài bên dưới gầm giường, và các vị vua tắm ở bên trên vào lúc lễ tế Soma được chuẩn bị.

2193. Tâu bệ hạ, các vị ấy, giống như các người thợ cạo, cũng được gọi là Bà-la-môn. Tâu đại vương, những vị ấy đã được kể ra; có phải chúng ta chọn các vị như thế ấy?”

2194. (Đức vua Koravya đã nói rằng): “Những kẻ ấy đã xa lìa phẩm hạnh Bà-la-môn, chúng không được gọi là Bà-la-môn. Này Vidhura, hãy tìm kiếm các vị khác có giới hạnh, có kiến thức, –

2195. –đã kiêng cử pháp đôi lứa, là những vị có thể thọ dụng vật thực của trẫm. Này khanh, chúng ta sẽ bố thí sự cúng dường ở nơi nào vật đã được bố thí là có quả báo lớn.”

2196. “Tâu bệ hạ, có những vị Bà-la-môn có giới hạnh, có kiến thức, đã kiêng cử pháp đôi lứa, những vị ấy có thể thọ dụng vật thực của bệ hạ.

2197. Các vị ấy ăn một bữa và không uống chất say. Tâu đại vương, những vị ấy đã được kể ra; có phải chúng ta chọn các vị như thế ấy?”

2198. “Này Vidhura, các vị Bà-la-môn này chắc chắn là có giới hạnh, có kiến thức. Này Vidhura, hãy tức tốc tìm kiếm các vị này và hãy thỉnh mời các vị ấy.”