Bản dịch
JA 494 — Chuyện đại vương S àdhìna (Tiền thân Sàdhìna)
11. Sādhinajātaka
2135. “Thật là phi thường ở thế gian, việc dựng đứng lông đã sanh khởi; Thiên xa đã hiện ra cho vị vua danh tiếng của xứ Videha!”
2136. Vị Thiên tử có đại thần lực Mātali, người điều khiển Thiên xa, đã thỉnh mời đức vua trị vì kinh thành Mithilā, xứ Videha.
2137. “Tâu vị vua hạng nhất, tâu vị chúa tể một phương, xin bệ hạ hãy đến, hãy bước lên cỗ xe này. Tâu bệ hạ, chư Thiên ở cõi Trời Tam Thập với cả Thiên Chủ Inda có ý muốn nhìn thấy bệ hạ. Bởi vì trong khi tưởng nhớ đến bệ hạ, chư Thiên ngồi chung ở giảng đường Sudhammā.”
2138. Và sau đó, đức vua Sādhīna, vị lãnh tụ, đã bước lên cỗ xe. Sau khi ngự lên cỗ xe thắng một ngàn ngựa, đức vua đã đi đến chỗ ngụ của chư Thiên. Sau khi nhìn thấy đức vua đang tiến đến, chư Thiên đã đón mừng ngài.
2139. “Tâu đại vương, chào mừng bệ hạ, và việc ngự đến không khó nhọc của bệ hạ. Tâu vị ẩn sĩ vương, giờ đây xin thỉnh bệ hạ ngồi xuống kề bên vị Thiên Vương.”
2140. Thiên Chủ Sakka cũng đã đón mừng vị vua trị vì kinh thành Mithilā, xứ Videha, và Thiên Chủ Vāsava đã thỉnh mời với các dục và chỗ ngồi.
2141. “Thật tốt đẹp thay bệ hạ đã ngự đến chỗ trú ngụ của những vị có quyền lực. Tâu vị ẩn sĩ vương, bệ hạ hãy sống giữa chư Thiên có sự thành đạt tất cả các dục. Bệ hạ hãy hưởng thụ các dục không thuộc về nhân loại giữa chư Thiên cõi Tam Thập.”
2142. “Trước đây, trẫm đã đi đến cõi Trời, vui thích với các điệu vũ, với các lời ca, và với các điệu nhạc. Giờ đây, hôm nay, trẫm đây không vui thích ở cõi Trời. Thưa vị chúa tối thượng của loài người. Phải chăng tuổi thọ của trẫm đã cạn kiệt, cái chết đã gần kề, hay là trẫm bị mê mờ?”
2143. “Tâu vị tinh tấn tối thượng của loài người, không phải tuổi thọ của bệ hạ đã cạn kiệt, cái chết của bệ hạ hãy còn xa, và cũng không phải bệ hạ bị mê mờ. Các phước báu của bệ hạ là ít ỏi, và bệ hạ đã thọ hưởng quả thành tựu của chúng ở nơi này.
2144. Tâu vị vua hạng nhất, tâu vị chúa tể một phương, bệ hạ hãy sống với năng lực của chư Thiên, hãy hưởng thụ các dục không thuộc về nhân loại giữa chư Thiên cõi Tam Thập.”
2145. “Cỗ xe giống như vật vay mượn, tài sản giống như vật vay mượn, tương tự như vậy, chính việc thành đạt này là do duyên ban phát từ người khác.
2146. Và trẫm không thích điều ấy, là việc do duyên ban phát từ người khác. Các phước báu đã được tự mình tạo ra, tài sản ấy là dành riêng cho trẫm.
2147. Trẫm đây, sau khi đi đến cõi người, sẽ làm nhiều việc thiện với việc bố thí, với việc thực hành bình đẳng, với việc tự chế ngự, và với việc rèn luyện. Sau khi làm điều ấy, trẫm được an lạc và sau này không bị ân hận.”
2148. “Những ruộng đồng này đây, con kênh đào khéo uốn quanh này, những đầm cỏ xanh mướt này đây, những con sông, những dòng suối này.
2149. Những hồ sen đáng yêu này đây với những con ngỗng đỏ kêu ríu rít, được bao phủ bởi những loài thủy thảo và bởi những hoa sen hồng sen xanh. Những người đã yêu mến những nơi này của trẫm, vậy họ đã đi đến phương trời nào?
2150. Ở đây, những đồng ruộng ấy, khoảnh đất kia, những khu vườn nọ, các khu rừng ấy, những vùng phụ cận này, trẫm không nhìn thấy chính những người dân ấy của trẫm. Này Nārada, hướng này đối với trẫm hình như hoàn toàn rỗng không.
2151. Trẫm đã nhìn thấy các cung điện chiếu sáng bốn phương, đã diện kiến vị Thiên Vương, và đã diện kiến chư Thiên ở cõi Tam Thập.
2152. Trẫm đã sống ở cung Trời, đã được cung phụng các dục không thuộc về nhân loại, ở giữa chư Thiên cõi Tam Thập có sự thành đạt các dục tuyệt trần.
2153. Trẫm đây, sau khi đã nhìn thấy như thế, đã đi đến nơi này vì việc phước thiện. Trẫm sẽ thực hành mỗi thiện pháp, trẫm không có ham muốn với vương quyền.
2154. Trẫm sẽ thực hành đạo lộ đưa đến sự bình an, đạo lộ ấy đã được các bậc Chánh Đẳng Giác thuyết giảng, đạo lộ mà những vị có sự hành trì tốt đẹp đang đi.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Ahaṃ pure saggagato ramāmi, naccehi gītehi ca vāditehi;
So dāni ajja na ramāmi sagge, āyuṃ nu khīṇo † maraṇaṃ nu santike;
Udāhu mūḷhosmi janindaseṭṭha.
“Formerly, having come to heaven, I delighted in dancing, singing, and music. But now today, I do not delight in heaven. Is my lifespan exhausted? Is death near? Or am I deluded, O best of rulers?”
Hỡi bậc Thiên chủ cao quý, trước đây khi đến cõi trời, trẫm đã vui hưởng với ca, vũ, và nhạc. Nhưng trẫm ấy, bây giờ, hôm nay, không còn vui hưởng ở cõi trời này nữa. Phải chăng tuổi thọ đã cạn kiệt? Phải chăng cái chết đã đến gần? Hay là trẫm đã trở nên mê muội?
210.
210.
210.
Na tāyu † khīṇaṃ maraṇañca † dūre, na cāpi mūḷho naravīraseṭṭha;
Tuyhañca † puññāni parittakāni, yesaṃ vipākaṃ idha vedayittho †.
“Your lifespan is not exhausted, and death is far. Nor are you deluded, O best of heroic men. Your merits, the result of which you have experienced here, are but few.”
Hỡi bậc vua chúa anh hùng, tuổi thọ của ngài chưa cạn kiệt, và cái chết còn ở xa. Ngài cũng không hề mê muội. Nhưng những công đức của ngài, mà quả của chúng ngài đang hưởng thụ ở đây, đã trở nên ít ỏi.
211.
211.
211.
Vasa devānubhāvena, rājaseṭṭha disampati;
Tāvatiṃsesu devesu, bhuñja kāme amānuse.
“Dwell by the power of the devas, O best of kings, lord of the directions. Among the Tāvatiṃsa devas, enjoy the non-human sensual pleasures.”
Hỡi bậc vua chúa cao quý, chủ nhân của các phương, xin hãy ngự ở lại nhờ oai lực của chư thiên. Giữa các vị trời ở cõi Ba Mươi Ba, xin hãy hưởng thụ những dục lạc phi nhân.
212.
212.
212.
Yathā yācitakaṃ yānaṃ, yathā yācitakaṃ dhanaṃ;
Evaṃ sampadamevetaṃ, yaṃ parato dānapaccayā.
“Like a borrowed vehicle, like borrowed wealth, so too is this fortune which is obtained through the gift of another.”
Sự sung túc nào có được do sự ban cho của người khác, thì nên được xem giống như cỗ xe đi mượn, giống như của cải đi vay.
213.
213.
213.
Na cāhametamicchāmi, yaṃ parato dānapaccayā;
Sayaṃkatāni puññāni, taṃ me āveṇikaṃ † dhanaṃ.
“I do not desire that which is obtained through the gift of another. The merits made by myself—that is my own exclusive wealth.”
Ta không mong muốn tài sản có được do sự ban cho của người khác. Những phước báu do chính ta tạo ra, đó mới là tài sản riêng của ta.
214.
214.
214.
Sohaṃ gantvā manussesu, kāhāmi kusalaṃ bahuṃ;
Dānena samacariyāya, saṃyamena damena ca;
Yaṃ katvā sukhito hoti, na ca pacchānutappati.
Therefore, having gone among humans, I will perform much that is wholesome through giving, right conduct, restraint, and self-control; having done which, one is happy and does not regret it later.
Do vậy, ta sẽ đi đến cõi người, và sẽ làm nhiều điều thiện lành bằng sự bố thí, hành vi ngay chánh, sự tự chế, và sự điều phục. Việc làm ấy khiến ta được an lạc, và sau này không hối tiếc.
215.
215.
215.
Imāni tāni khettāni, imaṃ nikkhaṃ sukuṇḍalaṃ;
Imā tā haritānūpā, imā najjo savantiyo.
These are those fields; this is the water-channel like a fine earring; these are the green banks; these are the flowing rivers.
Đây là những cánh đồng ấy, đây là con kênh này tựa như chiếc khuyên tai. Đây là những bờ cỏ xanh tươi, đây là những dòng sông đang chảy.
216.
216.
216.
Imā tā pokkharaṇī rammā, cakkavākapakūjitā †;
Mandālakehi sañchannā, padumuppalakehi ca;
Yassimāni mamāyiṃsu, kiṃ nu te disataṃ gatā.
These are those delightful lotus ponds, resounding with the calls of cakkavāka birds, covered with Mandālaka creepers, and with red and blue lotuses. Those who cherished these things—to what direction have they gone?
Đây là những hồ sen khả ái, vang tiếng kêu của chim cakkavāka, được bao phủ bởi dây leo mandālaka và hoa sen hồng, sen xanh. Những người đã từng yêu mến những nơi này của ta, giờ họ đã đi về phương nào?
217.
217.
217.
Tānīdha khettāni so bhūmibhāgo, teyeva ārāmavanupacārā †;
Tameva mayhaṃ janataṃ apassato, suññaṃva me nārada khāyate disā.
Here are those fields, that portion of land, those very same parks and forest paths. But not seeing those people of mine, O Nārada, the directions appear empty to me.
Vẫn còn đây những cánh đồng, vùng đất ấy, vẫn còn đây những khu vườn, những lối đi trong rừng. Nhưng hỡi Nārada, vì không thấy những người dân của ta, đối với ta, mọi phương trời dường như trống rỗng.
218.
218.
218.
Diṭṭhā mayā vimānāni, obhāsentā catuddisā;
Sammukhā devarājassa, tidasānañca sammukhā.
I have seen the celestial mansions illuminating the four directions, in the presence of the king of the devas and in the presence of the Thirty-three.
Ta đã thấy những thiên cung, tỏa sáng khắp bốn phương, ngay trước sự hiện diện của Vua chư thiên, và trước sự hiện diện của chư vị trời Ba Mươi Ba.
219.
219.
219.
Vutthaṃ me bhavanaṃ dibyaṃ †, bhuttā kāmā amānusā;
Tāvatiṃsesu devesu, sabbakāmasamiddhisu.
I have dwelt in a divine mansion and enjoyed non-human sensual pleasures among the Tāvatiṃsa devas, who are endowed with all sensual pleasures.
Ta đã sống trong cung điện chư thiên, đã hưởng thụ những dục lạc phi nhân giữa các vị trời ở cõi Ba Mươi Ba, những vị được sung mãn mọi điều mong muốn.
220.
220.
220.
Sohaṃ etādisaṃ hitvā, puññāyamhi idhāgato;
Dhammameva carissāmi, nāhaṃ rajjena atthiko.
Therefore I, having abandoned such as this, have come here for the sake of merit. I will practice only the Dhamma; I have no need for the kingdom.
Ta, người đã từ bỏ những điều như vậy, đã đến đây để tạo phước báu. Ta sẽ chỉ thực hành Chánh pháp, ta không cần đến vương quốc.
221.
221.
221.
Adaṇḍāvacaraṃ maggaṃ, sammāsambuddhadesitaṃ;
Taṃ maggaṃ paṭipajjissaṃ, yena gacchanti subbatāti.
The path where weapons are laid aside, taught by the Perfectly Enlightened One—that is the path I will follow, by which the virtuous go.
Con đường không còn hình phạt, được bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thuyết giảng. Ta sẽ thực hành con đường ấy, con đường mà những bậc thiện hạnh đi theo.
Sādhinajātakaṃ † ekādasamaṃ.
The Sādhina Jātaka, the Eleventh.
Chuyện Bổn Sanh Sādhina, thứ mười một.