Bản dịch
JA 493 — Chuyện vị đại thương nhân (Tiền thân Mahà-Vànija)
10. Mahāvāṇijajātaka
2112. “Các thương buôn đi đến từ nhiều quốc độ khác nhau, sau khi lập thành đoàn và bầu lên một người thủ lãnh, họ đã khởi hành mang theo tài sản và lương thực.
2113. Sau khi đi đến khu rừng hoang vu ấy, bị thiếu thức ăn, không còn nước, họ đã nhìn thấy cây đa to lớn, có bóng mát, làm thích ý.
2114. Và họ đã ngồi xuống tại đó, ở bóng mát của cây đa ấy. Các thương buôn là những kẻ ngu dốt, bị bao trùm bởi si mê, đã suy nghĩ rằng:
2115. ‘Cây này bị ẩm ướt, và cũng có nước chảy. Nào, các vị thương buôn, chúng ta hãy chặt cành phía đông của cây này.’
2116. Và ngay khi được chặt đứt, cành cây ấy đã rỉ ra nước trong sạch, không bị vẩn đục. Các thương buôn ấy, tại đó, đã tắm rửa, đã uống nước cho đến khi đã thỏa ước muốn.
2117. Những kẻ ngu dốt, bị bao trùm bởi si mê, đã suy nghĩ lần thứ nhì rằng: ‘Nào, các vị thương buôn, chúng ta hãy chặt cành phía nam của cây này.’
2118. Và ngay khi được chặt đứt, cành cây ấy đã rỉ ra nhiều lúa sāli , thịt, cơm, cháo chua kiểu ít nước, mứt gừng, các loại xúp đậu.
2119. Các thương buôn ấy, tại đó, đã ăn, đã nhai cho đến khi đã thỏa ước muốn. Những kẻ ngu dốt, bị bao trùm bởi si mê, đã suy nghĩ lần thứ ba rằng:
2120. ‘Nào, các vị thương buôn, chúng ta hãy chặt cành phía tây của cây này.’ Và ngay khi được chặt đứt, cành cây ấy đã rỉ ra những nữ nhân đã được trang điểm.
2121. Các nàng có vải vóc và đồ trang sức đủ màu sắc rực rỡ, có các bông tai bằng ngọc trai và ngọc ma-ni. Mỗi thương buôn được một nữ nhân, và hai mươi lăm nữ nhân (thuộc về người thủ lãnh).
2122. Họ đã quây quần xung quanh, ở bóng râm của cây ấy. Các thương buôn ấy đã tiêu khiển với các nàng ấy cho đến khi đã thỏa ước muốn.
2123. Những kẻ ngu dốt, bị bao trùm bởi si mê, đã suy nghĩ lần thứ tư rằng: ‘Nào, các vị thương buôn, chúng ta hãy chặt cành phía bắc của cây này.’
2124. Và ngay khi được chặt đứt, cành cây ấy đã rỉ ra nhiều ngọc trai, ngọc bích, bạc, và vàng, các thảm lót và các tấm trải bằng sợi len.
2125. Các thương buôn ấy, tại đó, đã buộc các tấm vải xứ Kāsi và các tấm mền xứ Uddiya thành các kiện hàng cho đến khi đã thỏa ước muốn.
2126. Những kẻ ngu dốt, bị bao trùm bởi si mê, đã suy nghĩ lần thứ năm rằng: ‘Nào, các vị thương buôn, chúng ta hãy chặt gốc của cây này. Thậm chí chúng ta có thể nhận được nhiều hơn.’
2127. Khi ấy, vị trưởng đoàn đã đứng dậy, chắp tay yêu cầu rằng: ‘Các vị xúc phạm điều gì đến cây đa? Này các vị thương buôn, cầu mong có sự tốt lành cho quý vị.
2128. Cành cây phía đông cho nước, phía nam cho cơm nước, cành phía tây cho phụ nữ, và phía bắc cho tất cả các dục. Các vị xúc phạm điều gì đến cây đa? Này các vị thương buôn, cầu mong có sự tốt lành cho quý vị.’
2129. Người ngồi hoặc nằm ở bóng râm của cây nào thì không nên bẻ gãy cành lá của cây ấy, bởi vì kẻ hãm hại bạn bè là kẻ ác xấu.’
2130. Và chúng với số đông đã không nghe theo lời nói của vị ấy có một mình. Chúng đã khởi sự chặt cây đa ấy ở gốc bằng những cái rìu sắc bén.
2131. Sau đó, các con rồng đã tiến ra, hai mươi lăm con được vũ trang, ba trăm con cầm cung, và sáu ngàn con cầm tấm chắn.
2132. ‘Các ngươi hãy giết chết, hãy trói những kẻ này lại. Các ngươi chớ tha cho kẻ nào sống, ngoại trừ vị trưởng đoàn. Các người hãy làm cho tất cả bọn chúng biến thành tro.’
2133. Chính vì thế, con người sáng suốt, trong khi nhìn thấy lợi ích cho bản thân, không nên rơi vào quyền lực của tham, nên tiêu diệt ý nghĩ thù ngịch.
2134. Sau khi biết được điều ấy là bất lợi, (biết được) tham ái là nguồn sanh khởi của khổ, vị tỳ khưu có tham ái đã được xa lìa, không có nắm giữ, có niệm, nên sống hạnh du sĩ.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Vāṇijā samitiṃ katvā, nānāraṭṭhato āgatā;
Dhanāharā pakkamiṃsu, ekaṃ katvāna gāmaṇiṃ.
Merchants, having come from various lands, formed an assembly; having appointed one as their leader, they departed, bearing their wealth.
Các thương nhân đến từ nhiều xứ khác nhau, sau khi họp lại và chọn một người làm trưởng đoàn, đã khởi hành để mang về của cải.
181.
181.
181.
Te taṃ kantāramāgamma, appabhakkhaṃ anodakaṃ;
Mahānigrodhamaddakkhuṃ, sītacchāyaṃ manoramaṃ.
They, having come to that wilderness without food and without water, saw a great banyan tree, cool-shaded and delightful.
Họ, khi đến vùng hoang địa không có thức ăn, không có nước ấy, đã thấy một cây đa lớn có bóng mát và khả ái.
182.
182.
182.
Te ca tattha nisīditvā, tassa rukkhassa chāyayā †;
Vāṇijā samacintesuṃ, bālā mohena pārutā.
And having sat there in the shade of that tree, the merchants, fools enveloped by delusion, pondered together.
Và các thương nhân ấy, những kẻ ngu si bị vô minh bao phủ, sau khi ngồi xuống đó dưới bóng của cây ấy, đã cùng nhau suy nghĩ.
183.
183.
183.
Allāyate † ayaṃ rukkho, api vārīva † sandati;
Iṅghassa purimaṃ sākhaṃ, mayaṃ chindāma vāṇijā.
This tree appears moist, and it seems as if water flows; come, merchants, let us cut its eastern branch.
Cây này có vẻ ẩm ướt, và dường như có nước chảy ra. Nào, hỡi các thương nhân, chúng ta hãy chặt cành phía đông của nó đi.
184.
184.
184.
Sā ca chinnāva pagghari, acchaṃ vāriṃ anāvilaṃ;
Te tattha nhatvā pivitvā, yāvaticchiṃsu vāṇijā.
And as soon as it was cut, it poured forth clear, untroubled water; there the merchants bathed and drank as much as they desired.
Và cành cây ấy, vừa bị chặt, đã tuôn chảy dòng nước trong, không vẩn đục. Các thương nhân ở đó đã tắm và uống nhiều như họ muốn.
185.
185.
185.
Dutiyaṃ samacintesuṃ, bālā mohena pārutā;
Iṅghassa dakkhiṇaṃ sākhaṃ, mayaṃ chindāma vāṇijā.
A second time the fools, enveloped by delusion, pondered together: 'Come, merchants, let us cut its southern branch.'
Lần thứ hai, những kẻ ngu si bị si mê che lấp, cùng nhau suy nghĩ: "Nào! Chúng ta, những thương buôn, hãy chặt cành phía nam của cây này."
186.
186.
186.
Sā ca chinnāva pagghari, sālimaṃsodanaṃ bahuṃ;
Appodavaṇṇe kummāse, siṅgiṃ vidalasūpiyo †.
And as soon as it was cut, it poured forth much rice with meat, pale-colored gruel, dishes with ginger, and bean soup.
Và cành cây ấy, vừa mới bị chặt, đã tuôn chảy ra nhiều cơm gạo sāli nấu với thịt, bánh bột đậu đặc không nước, gừng và các món canh đậu.
187.
187.
187.
Te tattha bhutvā khāditvā †, yāvaticchiṃsu vāṇijā;
Tatiyaṃ samacintesuṃ, bālā mohena pārutā;
Iṅghassa pacchimaṃ sākhaṃ, mayaṃ chindāma vāṇijā.
Having eaten and consumed there as much as they desired, the merchants, fools enveloped by delusion, pondered together a third time: 'Come, merchants, let us cut its western branch.'
Những thương buôn ấy, sau khi ăn uống ở nơi đó, đã lấy đi bao nhiêu tùy thích. Lần thứ ba, những kẻ ngu si bị si mê che lấp, cùng nhau suy nghĩ: "Nào! Chúng ta, những thương buôn, hãy chặt cành phía tây của cây này."
188.
188.
188.
Sā ca chinnāva pagghari, nāriyo samalaṅkatā;
Vicitravatthābharaṇā, āmuttamaṇikuṇḍalā.
And as soon as it was cut, it poured forth well-adorned women, with varied clothes and ornaments, wearing jeweled earrings.
Và cành cây ấy, vừa mới bị chặt, đã tuôn chảy ra những người phụ nữ được trang điểm lộng lẫy, mặc y phục và trang sức sặc sỡ, đeo bông tai bằng ngọc và đá quý.
189.
189.
189.
Api su vāṇijā ekā, nāriyo paṇṇavīsati;
Samantā parivāriṃsu †, tassa rukkhassa chāyayā †.
Indeed, for each merchant there was one woman, and for the caravan leader twenty-five; they surrounded them all around in the shade of that tree.
Hơn nữa, mỗi một thương buôn có một người phụ nữ, và vị trưởng đoàn có hai mươi lăm người phụ nữ; họ đã vây quanh từ mọi phía trong bóng mát của cây ấy.
190.
190.
190.
Te tāhi paricāretvā †, yāvaticchiṃsu vāṇijā;
Catutthaṃ samacintesuṃ, bālā mohena pārutā;
Iṅghassa uttaraṃ sākhaṃ, mayaṃ chindāma vāṇijā.
Having delighted with them as much as they desired, the merchants, fools enveloped by delusion, pondered together a fourth time: 'Come, merchants, let us cut its northern branch.'
Những thương buôn ấy, sau khi vui hưởng cùng những người phụ nữ đó, đã lấy đi bao nhiêu tùy thích. Lần thứ tư, những kẻ ngu si bị si mê che lấp, cùng nhau suy nghĩ: "Nào! Chúng ta, những thương buôn, hãy chặt cành phía bắc của cây này."
191.
191.
191.
Sā ca chinnāva pagghari, muttā veḷuriyā bahū;
Rajataṃ jātarūpañca, kuttiyo paṭiyāni ca.
And as soon as it was cut, it poured forth many pearls and beryl, silver and gold, and saddle-cloths and woolen rugs.
Và cành cây ấy, vừa mới bị chặt, đã tuôn chảy ra nhiều ngọc trai, ngọc lưu ly, bạc và vàng, cả những tấm thảm trải yên voi và những tấm thảm len.
192.
192.
192.
Kāsikāni ca vatthāni, uddiyāni ca kambalā †;
Te tattha bhāre bandhitvā, yāvaticchiṃsu vāṇijā.
And cloths from Kasi and Uddiyāna blankets poured forth. The merchants, having bound up loads there, took as much as they desired.
Cả những tấm vải xứ Kāsī và những tấm chăn len xứ Uddiyāna cũng tuôn ra. Những thương buôn ấy, sau khi đóng gói hàng hóa ở đó, đã lấy đi bao nhiêu tùy thích.
193.
193.
193.
Pañcamaṃ samacintesuṃ, bālā mohena pārutā;
Iṅghassa mūle † chindāma, api bhiyyo labhāmase.
A fifth time the fools, enveloped by delusion, pondered together: 'Come, let us cut its roots; perhaps we may obtain even more.'
Lần thứ năm, những kẻ ngu si bị si mê che lấp, cùng nhau suy nghĩ: "Nào! Chúng ta hãy chặt tận gốc rễ của cây này, biết đâu chúng ta sẽ nhận được nhiều hơn nữa."
194.
194.
194.
Athuṭṭhahi satthavāho, yācamāno katañjalī;
Nigrodho kiṃ parajjhati †, vāṇijā bhaddamatthu te.
Then the caravan leader arose and, with hands joined in reverence, pleaded: 'What offense does the banyan tree commit? O merchants, may there be good fortune for you!'
Khi ấy, vị trưởng đoàn đứng dậy, chắp tay van xin rằng: "Hỡi các thương buôn, mong các ông được an lành! Cây đa này đã làm hại gì các ông chăng?"
195.
195.
195.
Vāridā purimā sākhā, annapānañca dakkhiṇā;
Nāridā pacchimā sākhā, sabbakāme ca uttarā;
Nigrodho kiṃ parajjhati, vāṇijā bhaddamatthu te.
The eastern branch gave water, and the southern, food and drink; the western branch gave women, and the northern, all desired things. What offense does the banyan tree commit? O merchants, may there be good fortune for you!
Cành phía đông đã cho nước, cành phía nam cho đồ ăn thức uống. Cành phía tây đã cho những người phụ nữ, và cành phía bắc cho tất cả những vật dụng mong muốn. Hỡi các thương buôn, mong các ông được an lành! Cây đa này đã làm hại gì các ông chăng?
196.
196.
196.
Yassa rukkhassa chāyāya, nisīdeyya sayeyya vā;
Na tassa sākhaṃ bhañjeyya, mittadubbho hi pāpako.
In the shade of whichever tree one might sit or lie down, one should not break its branch; for a betrayer of a friend is indeed wicked.
Dù đã từng ngồi hay nằm trong bóng mát của cây nào, không nên bẻ gãy cành của cây ấy. Quả thật, kẻ phản bạn là kẻ xấu xa.
197.
197.
197.
Te ca tassānādiyitvā †, ekassa vacanaṃ bahū;
Nisitāhi kuṭhārīhi †, mūlato naṃ upakkamuṃ.
But the many, not heeding the words of that one man, set about cutting it from the root with sharpened axes.
Và nhiều thương buôn ấy đã không nghe theo lời nói của một người đó; bằng những chiếc rìu sắc bén, họ đã cố gắng chặt cây ấy từ gốc.
198.
198.
198.
Tato nāgā nikkhamiṃsu, sannaddhā paṇṇavīsati;
Dhanuggahānaṃ tisatā, chasahassā ca vammino.
Then Nāgas issued forth, twenty-five fully armed, three hundred bowmen, and six thousand clad in mail.
Khi ấy, hai mươi lăm vị rồng được trang bị vũ khí đã xuất hiện; ba trăm chiến binh rồng cầm cung đã xuất hiện; và sáu ngàn chiến binh rồng mặc áo giáp cũng đã xuất hiện.
199.
199.
199.
Ete hanatha bandhatha, mā vo muñcittha † jīvitaṃ;
Ṭhapetvā satthavāhaṃva, sabbe bhasmaṃ † karotha ne.
'Slay them, bind them, let none of them escape with their lives! Setting aside only the caravan leader, reduce them all to ashes.'
Hãy giết chúng, hãy trói chúng, đừng tha mạng cho chúng! Ngoại trừ vị trưởng đoàn, hãy biến tất cả chúng thành tro bụi.
200.
200.
200.
Tasmā hi paṇḍito poso, sampassaṃ atthamattano;
Lobhassa na vasaṃ gacche, haneyyārisakaṃ † manaṃ.
Therefore, a wise person, clearly seeing their own welfare, should not fall under the power of greed; they should destroy that hostile mind.
Vì vậy, người có trí, khi thấy rõ lợi ích của chính mình, không nên đi vào sự kiểm soát của lòng tham; nên hủy diệt tâm tham, vốn là kẻ thù.
201.
201.
201.
Eva † mādīnavaṃ ñatvā, taṇhā dukkhassa sambhavaṃ;
Vītataṇho anādāno, sato bhikkhu paribbajeti.
Thus, having known the danger and that craving is the origin of suffering, a monk should wander forth free from craving, without grasping, and mindful.
Sau khi biết như vậy về sự nguy hại, rằng ái dục là nguồn gốc của khổ đau, vị Tỳ khưu, không còn ái dục, không còn chấp thủ, có chánh niệm, nên du hành (tu tập).
Mahāvāṇijajātakaṃ dasamaṃ.
The Great Merchant Jātaka, the Tenth.
Chuyện Bổn sanh Đại Thương Buôn, thứ mười.