Bản dịch
JA 492 — Chuyện lợn rừng của thợ mộc (Tiền thân Taccha-Sùkara)
9. Tacchasūkarajātaka
2092. “Chúng tôi đã đi lang thang tìm kiếm ở các ngọn núi và các khu rừng, tôi đã đi lang thang tìm kiếm các thân quyến, những vị này đây đã đi đến với tôi.
2093. Rễ và trái cây này có nhiều, thức ăn này không phải là ít, ngọn núi và các con sông này là đáng yêu; việc cư ngụ sẽ là thoải mái.
2094. Tôi sẽ trú ngụ ở tại nơi này với tất cả thân quyến. Tôi không năng nỗ, không ngờ vực, không sầu muộn, không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu.”
2095. “Bạn nên tìm kiếm chỗ trú khác đi. Kẻ thù của chúng ta có mặt ở nơi này. Này heo Taccha, gã ấy đi đến nơi này và giết chết những con heo rừng mập nhất, ngon nhất.”
2096. “Vậy ai là kẻ thù của chúng ta ở nơi này? Kẻ nào quấy nhiễu các thân quyến đã khéo tụ tập lại, còn chưa bị quấy nhiễu? Được hỏi, xin các vị hãy giải thích điều ấy cho tôi.”
2097. “Là con thú có các đường sọc đứng ở thân, chúa của loài thú, có sức mạnh, có răng nanh là vũ khí. Này heo Taccha, kẻ ấy đi đến nơi này và giết chết những con heo rừng mập nhất, ngon nhất.”
2098. “Không phải các răng nanh của chúng ta không có, không phải sức mạnh của chúng ta ở cơ thể bị tiêu hoại. Tất cả chúng ta, sau khi hợp nhất lại, sẽ tạo thành một sức mạnh duy nhất.
2099. “Này heo Taccha, ông nói lời nói thấm vào trái tim, thoải mái lỗ tai. Thậm chí kẻ nào trốn chạy ở chiến trận, sau này chúng ta sẽ giết chết kẻ ấy.”
2100. “Phải chăng hôm nay ngươi kiêng cữ việc giết hại mạng sống? Phải chăng pháp không sợ hãi được ngươi ban phát cho tất cả chúng sanh? Này con thú, phải chăng các răng nanh của ngươi không có sự nỗ lực? Là kẻ đã đạt được bầy heo mà ngươi lại trầm tư như là kẻ ăn mày?”
2101. “Không phải các răng nanh của tôi không có, không phải sức mạnh của tôi ở cơ thể bị tiêu hoại. Nhưng sau khi nhìn thấy các thân quyến có sự chiếm cứ phía bên kia, vì thế, tôi trầm tư ở khu rừng, phía bên này.
2102. Trước đây, những con heo này chạy tứ tán. Bị khốn khổ vì sợ hãi, chúng tìm kiếm nơi nương náu một cách riêng rẽ. Giờ đây, chúng kết hợp lại, sống thành một khối. Hôm nay, tôi khó áp chế được chúng ở nơi chúng sinh sống.
2103. Đã đạt được người lãnh đạo, đã kết hợp lại, chung một lập trường, có sự hợp nhất, chúng có thể hãm hại tôi; vì thế, đối với chúng, tôi không màng.”
2104. “Chỉ một vị thần Inda chiến thắng các A-tu-la. Chỉ một chim điều hâu giết chết các con chim bằng võ lực. Chỉ một con cọp đạt được bầy thú rồi giết chết con mập nhất, ngon nhất, bởi vì sức mạnh của nó là như thế ấy.”
2105. “Tuy nhiên, không phải vị thần Inda, không phải chim điều hâu, cũng không phải con cọp chúa tể loài thú, mà là các thân quyến, khi có sự hợp nhất, khi đã kết hợp lại, có thể tạo ra quyền lực đối với con cọp.”
2106. “Những con chim nhỏ kumbhilaka sống theo bầy, di chuyển theo nhóm, vui vẻ cùng nhau nhảy nhót và bay lượn.
2107. Và trong khi chúng đang bay lượn, một con nào trong số đó tách khỏi bầy, chim diều hâu chộp lấy con chim ấy; đường lối ấy phù hợp với cọp.”
2108. “Được khích lệ bởi gã đạo sĩ bện tóc hung bạo, quan tâm vật chất, con thú có răng nanh đã nhảy bổ vào những con thú có răng nanh, nghĩ rằng giống như trước đây.”
2109. “Thật là tốt đẹp có nhiều thân quyến, luôn cả các cây cối mọc trong rừng! Con cọp đã bị giết chết ở cái hố bởi những con heo rừng có sự hợp nhất.”
2110. “Sau khi giết chết cả hai là người Bà-la-môn và con cọp, các con heo rừng trở nên hoan hỷ, vui mừng, và chúng đã rống lên tiếng rống lớn.
2111. Rồi ở nơi gốc cây sung, các con heo rừng ấy đã làm lễ rưới nước đăng quang cho con heo rừng Taccha: ‘Ngài là đức vua, là chúa tể của chúng tôi.’”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Aññampi † leṇaṃ pariyesa, sattu no idha vijjati;
So taccha sūkare hanti, idhāgantvā varaṃ varaṃ.
O Tacchaka, seek another refuge. An enemy of ours is here. Coming here, he kills the very best boars.
Hãy tìm một nơi ẩn náu khác, kẻ thù của chúng ta có mặt ở đây. Này Tacchaka, khi đến đây, nó giết những con heo, con này đến con khác.
164.
164.
164.
Ko numhākaṃ † idha sattu, ko ñātī susamāgate;
Duppadhaṃse † padhaṃseti, taṃ me akkhātha pucchitā.
Who, then, is our enemy here? Who assails our well-assembled kinsfolk, who are so hard to overcome? You who are asked, tell me that.
Ai là kẻ thù của chúng ta ở đây? Ai tấn công bà con đã đoàn kết tốt đẹp, vốn khó bị tấn công? Khi được hỏi, hãy nói điều đó cho ta biết.
165.
165.
165.
Uddhaggarājī migarājā, balī dāṭhāvudho migo;
So taccha sūkare hanti, idhāgantvā varaṃ varaṃ.
O Tacchaka, the king of beasts with upright stripes, a mighty beast with fangs for a weapon; he comes here and kills the very best boars.
Vua của loài thú, có sọc vằn đứng, là loài thú mạnh mẽ, có nanh làm vũ khí. Này Tacchaka, khi đến đây, nó giết những con heo, con này đến con khác.
166.
166.
166.
Na no dāṭhā na vijjanti †, balaṃ kāye samohitaṃ;
Sabbe samaggā hutvāna, vasaṃ kāhāma ekakaṃ.
It is not that we lack fangs, and strength is established in our bodies. All of us, being united, shall bring that single one under our control.
Chẳng phải chúng ta không có nanh sao? Sức mạnh đã được tập trung trong thân. Tất cả chúng ta, sau khi đã đoàn kết, sẽ chế ngự được con thú đơn độc ấy.
167.
167.
167.
Hadayaṅgamaṃ kaṇṇasukhaṃ, vācaṃ bhāsasi tacchaka;
Yopi yuddhe palāyeyya, tampi pacchā hanāmase.
You speak words that go to the heart and are pleasant to the ear, O Tacchaka. Whoever should flee in battle, him too we shall kill afterwards.
Này Tacchaka, ngươi nói lời đi vào tim, êm dịu bên tai. Kẻ nào trốn chạy trong trận chiến, chúng ta cũng sẽ giết kẻ ấy sau đó.
168.
168.
168.
Pāṇātipātā virato nu ajja, abhayaṃ nu te sabbabhūtesu dinnaṃ;
Dāṭhā nu te migavadhāya † na santi, yo saṅghapatto kapaṇova jhāyasi.
Have you abstained from killing living beings today? Have you given safety to all creatures? Do you not have fangs for killing beasts, you who, having reached the herd, brood like a miserable one?
Hôm nay ngươi có từ bỏ sát sanh chăng? Ngươi có ban sự vô úy cho tất cả chúng sanh chăng? Phải chăng ngươi không có nanh để giết thú, mà khi đến gần bầy đàn, ngươi lại trầm tư như kẻ khốn cùng?
169.
169.
169.
Na me dāṭhā na vijjanti, balaṃ kāye samohitaṃ;
Ñātī ca disvāna sāmaggī ekato, tasmā ca jhāyāmi vanamhi ekako.
It is not that I lack fangs, and strength is established in my body. But having seen the kinsfolk united and in harmony, therefore I brood alone in the forest.
Chẳng phải ta không có nanh, và sức mạnh đã được tập trung trong thân. Nhưng vì thấy bà con đoàn kết cùng nhau, nên ta trầm tư một mình trong rừng.
170.
170.
170.
Imassudaṃ yanti disodisaṃ pure, bhayaṭṭitā leṇagavesino puthu;
Te dāni saṅgamma vasanti ekato, yatthaṭṭhitā duppasahajja te mayā.
Formerly, these boars would flee in all directions, afflicted by fear, seeking various hiding places. Now they have gathered and dwell together. Where they now stand, they are hard for me to overcome today.
Trước đây, chúng nó chạy tán loạn khắp nơi, bị sợ hãi áp bức, riêng rẽ tìm nơi ẩn náu. Bây giờ chúng nó tụ tập sống cùng nhau; nơi chúng đứng, hôm nay ta khó lòng chế ngự được.
171.
171.
171.
Pariṇāyakasampannā, sahitā ekavādino;
Te maṃ samaggā hiṃseyyuṃ, tasmā nesaṃ na patthaye †.
Endowed with a leader, united, and of one accord, they might harm me in their unity. Therefore, I do not desire them.
Chúng có được người lãnh đạo, hợp nhất và cùng một tiếng nói. Chúng nó, khi đoàn kết, có thể hại ta; vì thế ta không mong muốn (đụng đến) chúng.
172.
172.
172.
Ekova indo asure jināti, ekova seno hanti dije pasayha;
Ekova byaggho migasaṅghapatto, varaṃ varaṃ hanti balañhi tādisaṃ.
Indra alone conquers the Asuras; the hawk alone forcibly slays the birds; the tiger alone, having reached a herd of beasts, kills the very best, for such is its strength.
Chỉ một mình vua trời Đế Thích chiến thắng A-tu-la, chỉ một mình chim ưng dùng sức mạnh giết các loài chim. Chỉ một mình con cọp khi đến gần bầy thú, giết con này đến con khác, vì sức mạnh là như vậy.
173.
173.
173.
Na heva indo na seno, napi byaggho migādhipo;
Samagge sahite ñātī, na byagghe † kurute vase.
Neither Indra, nor the hawk, nor even the tiger, the lord of beasts, can bring united and harmonious kinsfolk under their control.
Chẳng phải vua trời Đế Thích, chẳng phải chim ưng, cũng chẳng phải cọp, vua của loài thú, (có thể chế ngự được) bà con đoàn kết, hợp nhất. (Cọp) không thể chế ngự được những con (heo) như cọp.
174.
174.
174.
Kumbhīlakā sakuṇakā, saṅghino gaṇacārino;
Sammodamānā ekajjhaṃ, uppatanti ḍayanti ca.
The small Kumbhilaka birds, living in flocks and moving in groups, rejoicing together, fly up and soar about as one.
Những con chim nhỏ Kumbhīlaka, sống thành bầy, đi theo đàn, cùng nhau vui vẻ bay lên và bay lượn.
175.
175.
175.
Tesañca ḍayamānānaṃ, ekettha apasakkati †;
Tañca seno nitāḷeti, veyyagghiyeva sā gati.
And of them as they are flying, one among them strays; and that one the hawk strikes down. Such a fate is just like that caused by a tiger.
Và trong số chúng đang bay, một con ở đó tách ra. Và chim ưng vồ bắt con ấy. Tình cảnh ấy cũng giống như của con cọp.
176.
176.
176.
Ussāhito jaṭilena, luddenāmisacakkhunā;
Dāṭhī dāṭhīsu pakkhandi, maññamāno yathā pure.
Urged on by the cruel, matted-haired ascetic with an eye for flesh, the fanged one rushed upon the fanged ones, thinking it was as before.
Được khuyến khích bởi vị đạo sĩ bện tóc độc ác, mắt chỉ nhìn miếng mồi, con vật có nanh đã xông vào những con vật có nanh, nghĩ rằng chúng cũng giống như trước đây.
177.
177.
177.
Sādhu sambahulā ñātī, api rukkhā araññajā;
Sūkarehi samaggehi, byaggho ekāyane hato.
Good it is to have many kinsfolk; even trees born in the forest are good in great numbers. By the united boars, the tiger, being solitary, was slain.
Thật tốt thay có nhiều bà con, ngay cả những cây cối mọc trong rừng (cũng vậy). Bởi những con heo đã đoàn kết, con cọp đơn độc đã bị giết.
178.
178.
178.
Brāhmaṇañceva byagghañca, ubho hantvāna sūkarā.
Ānandino pamuditā, mahānādaṃ panādisuṃ.
Having slain both the Brahmin and the tiger, the boars, joyful and delighted, raised a great cry.
Sau khi đã giết cả vị Bà-la-môn và con cọp, những con heo, trong niềm vui mừng hoan hỷ, đã cất lên tiếng rống lớn.
179.
179.
179.
Te su udumbaramūlasmiṃ, sūkarā susamāgatā;
Tacchakaṃ abhisiñciṃsu, ‘‘tvaṃ no rājāsi issaro’’ti.
Those boars, well-assembled at the foot of an Udumbara tree, consecrated Tacchaka, saying, 'You are our king, our lord.'
Những con heo ấy, đã đoàn kết tốt đẹp, tại gốc cây sung, đã làm lễ quán đảnh cho Tacchaka, (nói rằng): 'Ngươi là vua, là chúa của chúng ta'.
Tacchasūkarajātakaṃ navamaṃ.
The Tacchaka the Boar Jātaka, the Ninth.
Chuyện Bổn Sanh Heo Rừng Tacchaka là (phẩm) thứ chín.