Bản dịch
JA 491 — Chuyện Đại Khổng Tước (Tiền thân Mahà-Mora)
8. Mahāmorajātaka
2075. “Quả thật, nếu ta đã bị ông bắt vì nguyên nhân tài sản, thì chớ gây thương tích cho ta sau khi đã bắt sống. Này ông bạn, ông hãy đưa ta về gặp đức vua. Ta nghĩ ông sẽ nhận được tài sản không phải là ít.”
2076. “Mũi tên này của tôi đã được đặt vào cây cung cao quý không phải để giết chết Công ngày hôm nay. Tôi sẽ phá vỡ cái bẫy ở chân Công. Này vua của loài công, Công hãy ra đi một cách thoải mái.”
2077. “Ông đã theo đuổi ta bảy năm, chịu đựng đói khát đêm ngày. Giờ ta đã bị rơi vào sự khống chế của cái bẫy thì ông lại muốn giải thoát khỏi sự trói buộc cho ta?
2078. Khi ta đã bị rơi vào sự khống chế của cái bẫy thì ông lại muốn giải thoát khỏi sự trói buộc cho ta. Phải chăng hôm nay ông kiêng cữ việc giết hại mạng sống? Phải chăng pháp không sợ hãi được ông ban phát cho tất cả chúng sanh?”
2079. “Xin Công hãy nói về người kiêng cữ việc giết hại mạng sống, là người ban phát pháp không sợ hãi cho tất cả chúng sanh. Này vua của loài công, tôi hỏi Công ý nghĩa này: Sau khi từ đây chết đi, người ấy đạt được sự an vui gì?
2080. “Ta nói về người kiêng cữ việc giết hại mạng sống, là người ban phát pháp không sợ hãi cho tất cả chúng sanh. Ngay trong kiếp hiện tại này, nhận được sự khen ngợi, và người ấy đi đến cõi trời khi cơ thể rã tan.”
2081. “Một số vị (Sa-môn và Bà-la-môn) đã nói rằng: ‘Chư Thiên không hiện hữu. Cuộc sống ở tại nơi này đi đến sự tiêu tan. Tương tự, quả báo của việc làm tốt và việc làm quấy cũng đi đến sự tiêu tan.’ Họ nói sự bố thí là trạng thái trí tuệ của người ngu si. Có sự tin tưởng vào lời nói của các bậc A-la-hán ấy, vì thế, tôi đánh bắt các con chim.”
2082. “Mặt trăng và mặt trời, cả hai đều dễ dàng nhìn thấy. Trong khi chiếu sáng, chúng di chuyển ở không trung. Chúng thuộc về thế giới này hay thế giới khác? Vậy ở thế giới nhân loại, người ta đã nói về chúng như thế nào?”
2083. “Mặt trăng và mặt trời, cả hai đều dễ dàng nhìn thấy. Trong khi chiếu sáng, chúng di chuyển ở không trung. Chúng thuộc về thế giới khác, không thuộc về thế giới này. Ở thế giới nhân loại, người ta đã nói về chúng là: ‘Chư Thiên.’”
2084. “Ngay ở nơi này, những vị (Sa-môn và Bà-la-môn) ấy là có học thuyết hạ liệt, bị đánh giá thấp. Những kẻ chủ trương vô nhân không nói về nghiệp. Tương tự, quả báo của việc làm tốt và việc làm quấy là không có.’ Và họ nói sự bố thí là trạng thái trí tuệ của người ngu si.”
2085. “Quả đúng vậy, lời nói ấy của ngài là sự thật. Bởi vì, làm sao có thể nói bố thí là không có quả báo? Tương tự, quả báo của việc làm tốt và việc làm quấy (làm sao lại không có). Và tại sao sự bố thí lại có thể là trạng thái trí tuệ của người ngu si?
2086. Làm như thế nào? Làm việc gì? Thực hành điều gì? Trong khi thân cận cái gì? Với loại khắc khổ gì? Này vua của loài công, xin Công hãy giải thích cho tôi để tôi không phải đọa vào địa ngục.”
2087. “Có những vị Sa- môn ở trái đất, các vị ấy mặc vải màu ca-sa, sống không nhà, đi khất thực đúng thời vào lúc sáng sớm, bởi vì các bậc an tịnh kiêng cử việc khất thực phi thời.
2088. Ông hãy đi đến gặp các vị ấy ở nơi ấy vào lúc hợp thời và hãy hỏi điều ông yêu thích ở trong tâm. Các vị ấy sẽ giải thích các điều ấy và ý nghĩa của thế gian này và thế gian khác theo sự hiểu biết.”
2089. “Tựa như con rắn (lột bỏ) lớp da cũ đã bị già cỗi, ví như cây còn xanh (giũ bỏ) chiếc lá úa vàng, cuộc đời thợ săn này của tôi đã được dứt bỏ. Hôm nay, tôi dứt bỏ cuộc đời thợ săn.
2090. Và luôn cả những con chim đã bị tôi giam giữ là có đến hàng trăm ở chỗ trú ngụ của tôi. Hôm nay, tôi ban tặng cuộc sống cho chúng, và tôi đã đạt được sự giải thoát, còn chúng bay về chỗ ở của mình.”
2091. “Người thợ săn đã đi lại ở trong khu rừng, tay cầm bẫy thú để bắt con chim công chúa có danh tiếng. Sau khi bắt được con chim công chúa có danh tiếng, người ấy đã được thoát khỏi khổ, giống như Ta đã được giải thoát.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Sace hi tyāhaṃ dhanahetu gāhito, mā maṃ vadhī jīvagāhaṃ gahetvā;
Rañño ca † maṃ samma upantikaṃ † nehi, maññe dhanaṃ lacchasinapparūpaṃ.
O friend hunter, if indeed you have caught me for the sake of wealth, do not kill me. Taking me as a living captive, lead me to the king's presence. I think you will obtain abundant wealth.
Nếu ngươi bắt ta vì của cải, xin đừng giết ta. Hãy bắt ta sống, này bạn, và dẫn ta đến trước mặt đức vua. Ta nghĩ rằng ngươi sẽ nhận được của cải không ít.
144.
144.
144.
Na me ayaṃ tuyha vadhāya ajja, samāhito cāpadhure † khurappo;
Pāsañca tyāhaṃ adhipātayissaṃ, yathāsukhaṃ gacchatu morarājā.
This arrow is not placed by me on the bow's end today for the purpose of killing you. I will cut your snare. May the peacock king go as he pleases.
Hôm nay, mũi tên này trên đầu cung của ta không phải được lắp vào để giết ngươi. Ta sẽ cắt đứt bẫy của ngươi. Xin vua công hãy đi đến nơi nào an lạc.
145.
145.
145.
Yaṃ satta vassāni mamānubandhi, rattindivaṃ khuppipāsaṃ sahanto;
Atha kissa maṃ pāsavasūpanītaṃ, pamuttave icchasi bandhanasmā.
Because for seven years you have followed me, enduring hunger and thirst day and night, for what reason now do you wish to release me from bondage, who have been brought into the power of your snare?
Ngươi đã theo dõi ta suốt bảy năm, chịu đựng đói khát cả ngày lẫn đêm. Vậy tại sao, khi ta đã sa vào bẫy, ngươi lại muốn giải thoát ta khỏi sự trói buộc?
146 .
146 .
146.
Pāṇātipātā virato nusajja, abhayaṃ nu te sabbabhūtesu dinnaṃ;
Yaṃ maṃ tuvaṃ pāsavasūpanītaṃ, pamuttave icchasi bandhanasmā.
Have you now refrained from the destruction of life? Has fearlessness been given by you to all beings, that you wish to release me from bondage, who have been brought into the power of your snare?
Phải chăng hôm nay ngươi đã từ bỏ việc sát sanh? Phải chăng ngươi đã ban sự không sợ hãi cho tất cả chúng sanh? (Vì thế mà) ngươi muốn giải thoát ta, kẻ đã sa vào bẫy, khỏi sự trói buộc?
147.
147.
147.
Pāṇātipātā viratassa brūhi, abhayañca yo sabbabhūtesu deti;
Pucchāmi taṃ morarājetamatthaṃ, ito cuto kiṃ labhate sukhaṃ so.
O peacock king, I ask you about this matter, please speak: of one who refrains from the destruction of life and who gives fearlessness to all beings, what happiness does such a person obtain, having passed away from this existence?
Xin hãy nói về người từ bỏ sát sanh, và người ban sự không sợ hãi cho tất cả chúng sanh. Này vua công, tôi hỏi ngài về điều này: Sau khi chết ở đây, người ấy đạt được hạnh phúc gì?
148.
148.
148.
Pāṇātipātā viratassa brūmi, abhayañca yo sabbabhūtesu deti;
Diṭṭheva dhamme labhate pasaṃsaṃ, saggañca so yāti sarīrabhedā.
O friend hunter, I declare this: whoever refrains from the destruction of life and gives fearlessness to all beings, that person obtains praise in this very life, and after the breaking up of the body, goes to the heavenly realm.
Ta nói về người từ bỏ sát sanh, và người ban sự không sợ hãi cho tất cả chúng sanh: Ngay trong hiện tại, người ấy nhận được sự tán dương, và sau khi thân hoại, người ấy đi đến cõi trời.
149.
149.
149.
Na santi devā iti āhu † eke, idheva jīvo vibhavaṃ upeti;
Tathā phalaṃ sukatadukkaṭānaṃ, dattupaññattañca vadanti dānaṃ;
Tesaṃ vaco arahataṃ saddahāno, tasmā ahaṃ sakuṇe bādhayāmi.
Some say, 'There are no gods.' 'It is in this very life that a being goes to annihilation.' Likewise, 'There is no fruit of good and bad deeds,' and they say, 'Giving is a convention established by the foolish.' Believing the words of those 'arahants,' I therefore harm birds.
Một số người nói rằng: 'Không có chư thiên, chúng sanh chỉ ở đây rồi đi đến đoạn diệt. Cũng không có quả của nghiệp thiện và ác, và bố thí là do kẻ ngu đặt ra'. Tin theo lời của những vị 'A-la-hán' ấy, vì thế, tôi làm hại các loài chim.
150.
150.
150.
Cando ca suriyo ca ubho sudassanā, gacchanti obhāsayamantalikkhe;
Imassa lokassa parassa vā te, kathaṃ nu te āhu manussaloke.
The moon and the sun, both beautiful to see, travel through the sky, illuminating it. Are they of this world or of the other world? How, then, do they speak of them in the human world?
Cả mặt trăng và mặt trời, cả hai đều đẹp đẽ, di chuyển và chiếu sáng trên bầu trời. Chúng thuộc về thế giới này hay thế giới khác? Ở cõi người, người ta gọi chúng là gì?
151.
151.
151.
Cando ca suriyo ca ubho sudassanā, gacchanti obhāsayamantalikkhe;
Parassa lokassa na te imassa, devāti te āhu manussaloke.
The moon and the sun, both beautiful to see, travel through the sky, illuminating it. They belong to the other world, not this one. In the human world, they are called gods.
Cả mặt trăng và mặt trời, cả hai đều đẹp đẽ, di chuyển và chiếu sáng trên bầu trời. Chúng thuộc về thế giới khác, không phải thế giới này. Ở cõi người, người ta gọi chúng là chư thiên.
152.
152.
152.
Ettheva te nīhatā hīnavādā, ahetukā ye na vadanti kammaṃ;
Tathā phalaṃ sukatadukkaṭānaṃ, dattupaññattaṃ ye ca vadanti dānaṃ.
By this very explanation, your teachers of base views are refuted. Those who do not speak of kamma, and likewise do not speak of the fruit of good and bad deeds, and who say that giving is a convention established by the foolish—they are holders of the no-cause view.
Ngay tại điểm này, những kẻ có tà kiến đã bị đánh bại, những người theo thuyết vô nhân không nói về nghiệp, cũng như không nói về quả của nghiệp thiện và ác, và những người nói rằng bố thí là do kẻ ngu đặt ra.
153.
153.
153.
Addhā hi saccaṃ vacanaṃ tavedaṃ †, kathañhi dānaṃ aphalaṃ bhaveyya †;
Tathā phalaṃ sukatadukkaṭānaṃ, dattupaññattañca kathaṃ bhaveyya.
Truly, this saying of yours is indeed true. How indeed could giving be fruitless? And how could there be no fruit of good and bad deeds? And how could giving be a convention established by the foolish?
Chắc chắn lời nói này của ngài là sự thật. Làm sao bố thí lại có thể không có quả? Cũng vậy, làm sao lại không có quả của nghiệp thiện và ác, và làm sao bố thí lại là do kẻ ngu đặt ra được?
154.
154.
154.
Kathaṃkaro kintikaro kimācaraṃ, kiṃ sevamāno kena tapoguṇena;
Akkhāhi † me morarājetamatthaṃ, yathā ahaṃ no nirayaṃ pateyyaṃ.
By doing what action, acting in what way, with what conduct, associating with what, and by what quality of austerity may I not fall into hell? O peacock king, please declare this matter to me.
Phải làm như thế nào, hành động ra sao, có hạnh kiểm gì, phải thực hành điều gì, với phẩm chất khổ hạnh nào? Này vua công, xin hãy nói cho tôi biết điều này, để tôi không phải rơi vào địa ngục.
155.
155.
155.
Ye keci atthi samaṇā pathabyā, kāsāyavatthā anagāriyā te;
Pātova piṇḍāya caranti kāle, vikālacariyā viratā hi santo.
O friend hunter, whatever ascetics there are on earth, they are wearers of ochre robes, living the homeless life. At the proper time, in the morning, they wander for alms-food. Indeed, being the virtuous, they refrain from wandering at the wrong time.
Bất kỳ vị sa-môn nào có mặt trên trái đất, các vị ấy mặc y cà-sa, sống không gia đình. Vào buổi sáng, đúng thời, các vị ấy đi khất thực. Quả thật, các bậc thiện nhân từ bỏ việc đi (khất thực) phi thời.
156.
156.
156.
Te tattha kālenupasaṅkamitvā, pucchāhi yaṃ te manaso piyaṃ siyā;
Te te pavakkhanti yathāpajānaṃ, imassa lokassa parassa catthaṃ.
Having approached them there at the proper time, you should ask whatever question is dear to your mind. They will explain to you, according to their knowledge, the meaning concerning this world and the next.
Ngươi hãy thỉnh thoảng đến gần các vị ấy ở nơi đó, hãy hỏi điều gì mà tâm ngươi ưa thích. Các vị ấy sẽ nói rõ cho ngươi theo như sự hiểu biết của các vị ấy, về nguyên nhân của thế gian này và của thế gian khác.
157.
157.
157.
Tacaṃva jiṇṇaṃ urago purāṇaṃ, paṇḍūpalāsaṃ harito dumova;
Esappahīno mama luddabhāvo, jahāmahaṃ luddakabhāvamajja.
Just as a snake sheds its old, worn-out skin, and as a green tree sheds its yellowed leaf, so today I abandon the state of a hunter. This hunter-nature of mine is cast off.
Giống như con rắn lột bỏ lớp da cũ kỹ, xưa cũ, giống như cây xanh tươi trút bỏ lá vàng úa, bản chất thợ săn này của ta đã được từ bỏ, hôm nay ta từ bỏ bản chất thợ săn.
158.
158.
158.
Ye cāpi me sakuṇā atthi baddhā, satāninekāni nivesanasmiṃ;
Tesampahaṃ † jīvitamajja dammi, mokkhañca te pattā † sakaṃ niketaṃ.
And whatever birds I have bound in my home, many hundreds of them, to them I give their lives today. May they, having attained freedom, go to their own abodes.
Và những con chim nào của ta, vô số hàng trăm con, đang bị trói buộc trong nhà, hôm nay ta ban cho chúng sự sống, và mong chúng được giải thoát, trở về nơi ở của mình.
159.
159.
159.
Luddo carī pāsahattho araññe, bādhetu morādhipatiṃ yasassiṃ;
Bandhitvā † morādhipatiṃ yasassiṃ, dukkhā sa pamucci † yathāhaṃ pamuttoti.
The hunter, with snare in hand, wandered in the forest to harm the glorious lord of peacocks. Having bound the glorious lord of peacocks, he was freed from suffering, just as I am freed.
Người thợ săn tay cầm bẫy đã đi lang thang trong rừng, để giết hại vua công có nhiều tùy tùng. Sau khi bắt được vua công có nhiều tùy tùng, người ấy đã được giải thoát khỏi khổ đau, giống như ta đã được giải thoát.
Mahāmorajātakaṃ aṭṭhamaṃ.
The Great Peacock Jātaka, the Eighth.
Chuyện Bổn Sanh Đại Khổng Tước là (phẩm) thứ tám.