Bản dịch
JA 490 — Chuyện n ăm vị h ành trì trai giới (Tiền thân Pancùposatha)
7. Pañcuposathikajātaka
2059. “Này chim bồ câu, giờ đây ngươi ít ham muốn. Này chim, phải chăng đối với ngươi không có nhu cầu về vật thực? Này bạn, vì sao chim bồ câu lại chịu đựng đói, khát và trở thành vị thực hành trai giới?”
2060. “Trước đây, tôi đã đi đến sự say đắm với chim bồ câu mái. Cả hai chúng tôi vui thú ở khu vực này. Rồi con diều hâu đã bắt đi chim bồ câu mái. Không có chim mái, tôi đã trở thành kẻ không còn ham muốn.
2061. Do trạng thái xa cách bởi sự tách rời của chim mái, tôi cảm nhận rằng cảm thọ được tạo thành bởi ý. Vì thế, tôi gìn giữ ngày trai giới, mong rằng sự luyến ái chớ quay lại với tôi.”
2062. “Này con vật có sự di chuyển ngoằn ngoèo, này con vật di chuyển bằng ngực, này con vật có hai lưỡi, này rắn, ngươi có răng nanh là vũ khí, có nọc độc dữ dội. Này bạn, vì sao rắn lại chịu đựng đói, khát và trở thành vị thực hành trai giới?”
2063. “Con bò mộng của chủ làng có sức mạnh, có cục bướu rung rinh, đã đạt được tướng mạo và sức vóc. Nó đã đạp lên tôi. Bị tức giận, tôi đã cắn nó. Bị giày vò bởi nỗi đau đớn, nó đã đi đến sự chết.
2064. Do đó, dân chúng đã đi ra khỏi ngôi làng, than van, khóc lóc, rồi đã bỏ đi. Vì thế, tôi gìn giữ ngày trai giới, mong rằng sự giận dữ chớ quay lại với tôi.”
2065. “Có nhiều thịt của những xác chết ở bãi tha ma. Thức ăn này có vẻ hợp ý đối với ngươi. Này bạn, vì sao chó rừng lại chịu đựng đói, khát và trở thành vị thực hành trai giới?”
2066. “Vui thích với xác chết, bị khởi tham đắm với thịt voi, tôi đã đi vào bụng của một con voi to lớn. Sức nóng, gió, và ánh nắng gay gắt, chúng đã làm khô héo hậu môn của con voi.
2067. Thưa bậc đáng kính, tôi trở nên gầy ốm và vàng vọt. Con đường trở ra của tôi đã không còn. Và có đám mây lớn đã đổ mưa dữ dội; nó đã làm ẩm ướt hậu môn của con voi.
2068. Thưa bậc đáng kính, do đó, tôi đã đi ra khỏi, giống như mặt trăng đã được thoát khỏi miệng của Rāhu (nguyệt thực). Vì thế, tôi gìn giữ ngày trai giới, mong rằng sự tham lam chớ quay lại với tôi.”
2069. “Trước đây, ngươi sống trong khi ăn các con mối ở gò mối. Này bạn, vì sao gấu lại chịu đựng đói, khát và trở thành vị thực hành trai giới?”
2070. “Trong khi nguyền rủa thậm tệ chỗ ở của mình, tôi đã đi đến Malatā vì cơn đói dữ dội. Do đó, dân chúng đã đi ra khỏi ngôi làng và đã đánh tôi tới tấp bằng gậy gộc, đùi cui.
2071. Với đầu bị vỡ, với thân thể bị lem luốc máu me, tôi đã đi về lại chỗ ở của mình. Vì thế, tôi gìn giữ ngày trai giới, mong rằng cơn đói dữ dội chớ quay lại với tôi.”
2072. “Thưa bậc đáng kính, việc mà ngài đã hỏi chúng tôi, tất cả chúng tôi đã trả lời theo sự hiểu biết. Thưa bậc đáng kính, chúng tôi cũng xin hỏi ngài. Thưa vị Bà-la-môn, vì sao ngài lại chịu đựng đói, khát và trở thành vị thực hành trai giới?”
2073. “Một vị Độc Giác Phật, bậc không bị ô nhiễm, đã ngồi chốc lát ở khu ẩn cư của ta. Vị ấy đã cho ta biết về nơi đi và nơi đến, danh tánh, dòng họ, và tất cả tánh hạnh (của ta trong tương lai).
2074. Dầu là như vậy, ta đã không sờ vào bàn chân của vị ấy, và ta cũng đã không hỏi ngài, bởi vì đã bị ngã mạn chế ngự. Vì thế, ta gìn giữ ngày trai giới, mong rằng ngã mạn chớ quay lại với ta.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Appossukko dāni tuvaṃ kapota, vihaṅgama na tava bhojanattho;
Khudaṃ † pipāsaṃ adhivāsayanto, kasmā bhavaṃposathiko kapota †.
O bird, O dove, you are now unconcerned; you have no need for food. Enduring hunger and thirst, why, O dove, are you observing the uposatha?
Này chim bồ câu, này loài chim bay, bây giờ ngươi có vẻ không bận tâm, không có nhu cầu về thức ăn. Trong khi chịu đựng cơn đói và cơn khát, này bồ câu, vì sao ngài lại thực hành ngày Bố-tát?
128.
128.
128.
Ahaṃ pure giddhigato kapotiyā, asmiṃ padesasmimubho ramāma;
Athaggahī sākuṇiko kapotiṃ, akāmako tāya vinā ahosiṃ.
Formerly, I was infatuated with a female dove, and in this place we both delighted. Then a fowler seized the female dove; unwillingly, I was without her.
Trước đây, tôi đã tham đắm một con bồ câu mái, cả hai chúng tôi đã vui đùa ở nơi này. Rồi một con diều hâu đã bắt con bồ câu mái ấy, và tôi đã phải xa lìa nó một cách không mong muốn.
129.
129.
129.
Nānābhavā vippayogena tassā, manomayaṃ vedana vedayāmi †;
Tasmā ahaṃposathaṃ pālayāmi, rāgo mamaṃ mā punarāgamāsi.
Because of separation from her, I experience mental pain. Therefore, I observe the uposatha, so that lust may not come to me again.
Do sự chia lìa với nó, tôi cảm nhận nỗi khổ đau về tinh thần. Vì vậy, tôi thực hành ngày Bố-tát, mong rằng tham ái sẽ không trở lại với tôi nữa.
130.
130.
130.
Anujjugāmī uragā dujivha †, dāṭhāvudho ghoravisosi sappa;
Khudaṃ pipāsaṃ adhivāsayanto, kasmā bhavaṃposathiko nu dīgha †.
You who go crookedly, O serpent with a forked tongue, you are armed with fangs and have terrible venom. Enduring hunger and thirst, why, O long one, are you observing the uposatha?
Này loài rắn đi khúc khuỷu, loài bò bằng ngực, có hai lưỡi, ngươi có nanh làm vũ khí, có nọc độc ghê gớm. Trong khi chịu đựng cơn đói và cơn khát, này loài thân dài, vì sao ngài lại thực hành ngày Bố-tát?
131.
131.
131.
Usabho ahū balavā gāmikassa, calakkakū vaṇṇabalūpapanno;
So maṃ akkami taṃ kupito aḍaṃsi, dukkhābhituṇṇo maraṇaṃ upāgā †.
There was a strong bull belonging to the village headman, endowed with beauty and strength. It trampled me. Angered, I bit it. That bull, overcome by pain, met its death.
Thưa ngài, có một con bò đực khỏe mạnh của người trưởng làng, có bướu lắc lư, đầy đủ sắc vóc và sức mạnh. Nó đã giẫm lên tôi, và do tức giận, tôi đã cắn nó. Bị khổ đau áp đảo, nó đã đi đến cái chết.
132.
132.
132.
Tato janā nikkhamitvāna gāmā, kanditvā roditvā † apakkamiṃsu;
Tasmā ahaṃposathaṃ pālayāmi, kodho mamaṃ mā punarāgamāsi.
Then the people, coming out from the village, lamenting and weeping, departed. Therefore, I observe the uposatha, so that anger may not come to me again.
Rồi dân chúng từ làng ấy đi ra, than khóc, kêu la rồi bỏ đi. Vì thế, tôi giữ ngày trai giới, (nguyện rằng) 'Mong cho sân hận đừng đến với ta nữa'.
133.
133.
133.
Matāna maṃsāni bahū susāne, manuññarūpaṃ tava bhojane taṃ;
Khudaṃ pipāsaṃ adhivāsayanto, kasmā bhavaṃposathiko siṅgāla †.
In the charnel ground, there is much flesh of the dead; that food of yours is of a pleasing nature. Enduring hunger and thirst, why, O jackal, are you observing the uposatha?
Này chó rừng, trong nghĩa địa có nhiều thịt của kẻ chết, thức ăn ấy thật hấp dẫn đối với ngươi. (Vậy mà) ngươi lại chịu đựng đói và khát, tại sao ngươi lại giữ ngày trai giới?
134.
134.
134.
Pavisi † kucchiṃ mahato gajassa, kuṇape rato hatthimaṃsesu giddho †;
Uṇho ca vāto tikhiṇā ca rasmiyo, te sosayuṃ tassa karīsamaggaṃ.
I entered the belly of a great elephant, delighting in the corpse, greedy for elephant flesh. The hot wind and the sharp rays dried up its anal passage.
Tôi đã chui vào bụng của một con voi lớn, thích thú với xác chết, tham đắm thịt voi. Gió nóng và những tia nắng gay gắt, chúng đã làm khô đường thoát phân của nó.
135.
135.
135.
Kiso ca paṇḍū ca ahaṃ bhadante, na me ahū nikkhamanāya maggo;
Mahā ca megho sahasā pavassi, so temayī tassa karīsamaggaṃ.
I was thin and pale, venerable sir, and there was no way out for me. Then a great cloud suddenly rained down, and it soaked its anal passage.
Thưa ngài, tôi trở nên gầy gò và xanh xao, không có đường nào để thoát ra. Rồi một cơn mưa lớn chợt đổ xuống, làm ướt đường thoát phân của nó.
136.
136.
136.
Tato ahaṃ nikkhamisaṃ bhadante, cando yathā rāhumukhā pamutto;
Tasmā ahaṃposathaṃ pālayāmi, lobho mamaṃ mā punarāgamāsi.
Then I came out from there, venerable sir, like the moon freed from Rāhu's mouth. Therefore, I observe the uposatha, so that greed may not come to me again.
Thưa ngài, lúc đó tôi đã thoát ra, như mặt trăng được giải thoát khỏi miệng Rāhu. Vì thế, tôi giữ ngày trai giới, (nguyện rằng) 'Mong cho tham lam đừng đến với ta nữa'.
137.
137.
137.
Vammīkathūpasmiṃ kipillikāni, nippothayanto tuvaṃ pure carāsi;
Khudaṃ pipāsaṃ adhivāsayanto, kasmā bhavaṃposathiko nu accha †.
Formerly, on the top of anthills, you used to roam, crushing and eating ants and termites. Enduring hunger and thirst, why, O bear, are you observing the uposatha?
Này gấu, trước đây ngươi thường đi lại, đập phá và ăn kiến mối trên đỉnh gò mối. (Vậy mà) ngươi lại chịu đựng đói và khát, tại sao ngươi lại giữ ngày trai giới?
138.
138.
138.
Sakaṃ niketaṃ atihīḷayāno †, atricchatā † mallagāmaṃ † agacchiṃ;
Tato janā nikkhamitvāna gāmā, kodaṇḍakena paripothayiṃsu maṃ.
Disdaining my own dwelling, through excessive desire I went to the Malla country. Then the people, coming out from the village, beat me with bow-staffs and clubs.
Vì coi thường nơi ở của mình, vì quá tham lam, tôi đã đến làng của những người Malla. Rồi dân chúng từ làng ấy đi ra, đã đánh đập tôi bằng thân cung.
139.
139.
139.
So bhinnasīso ruhiramakkhitaṅgo, paccāgamāsiṃ sakaṃ † niketaṃ;
Tasmā ahaṃposathaṃ pālayāmi, atricchatā mā punarāgamāsi.
With a broken head and a body smeared with blood, I returned to my own dwelling. Therefore, I observe the uposatha, so that excessive desire may not come to me again.
Tôi, với đầu bị vỡ, thân mình đẫm máu, đã quay trở về nơi ở của mình. Vì thế, tôi giữ ngày trai giới, (nguyện rằng) 'Mong cho sự quá tham lam đừng đến với ta nữa'.
140.
140.
140.
Yaṃ no apucchittha tuvaṃ bhadante, sabbeva byākarimha yathā pajānaṃ;
Mayampi pucchāma tuvaṃ bhadante, kasmā bhavaṃposathiko nu brahme.
That which you asked us, venerable sir, we have all explained according to our understanding. We also ask you, venerable sir: why, O holy one, are you observing the uposatha?
Thưa ngài, điều mà ngài đã hỏi chúng tôi, tất cả chúng tôi đã giải thích theo sự hiểu biết của mình. Thưa ngài, chúng tôi cũng xin hỏi ngài, này vị Phạm hạnh, tại sao ngài lại giữ ngày trai giới?
141.
141.
141.
Anūpalitto mama assamamhi, paccekabuddho muhuttaṃ nisīdi;
So maṃ avedī gatimāgatiñca, nāmañca gottaṃ caraṇañca sabbaṃ.
In my hermitage, an unstained Paccekabuddha sat for a moment. He made known to me my destination and origin, my name and clan, and all my conduct.
Tại am thất của ta, một vị Phật Độc Giác không bị ô nhiễm đã ngồi trong chốc lát. Vị ấy đã cho ta biết tất cả: cõi đi và cõi đến, tên, dòng họ, và hạnh kiểm.
142.
142.
142.
Evampahaṃ vandi na † tassa pāde, na cāpi naṃ mānagatena pucchiṃ;
Tasmā ahaṃposathaṃ pālayāmi, māno mamaṃ mā punarāgamāsīti.
Even so, I did not pay homage to his feet, nor, being overcome by pride, did I question him. Therefore, I observe the uposatha, so that pride may not come to me again.
Dù vậy, tôi đã không đảnh lễ chân của vị ấy, và cũng không hỏi han vị ấy vì lòng kiêu mạn. Vì thế, tôi giữ ngày trai giới, (nguyện rằng) 'Mong cho kiêu mạn đừng đến với ta nữa'.
Pañcuposathikajātakaṃ sattamaṃ.
The Pañcuposathika Jātaka, the Seventh, is finished.
Chuyện Bổn Sanh Năm Vị Giữ Trai Giới, thứ bảy.