Bản dịch
JA 489 — Chuyện Đại Vương Huy Ho àng (Tiền thân Suruci)
6. Surucijātaka
2034. “Thiếp là chánh hậu của đức vua Ruci, người vợ đã được cưới về đầu tiên; đức vua Suruci đã cưới thiếp về được mười ngàn năm.
2035. Thưa vị Bà-la-môn, thiếp đây không biết rõ đức vua, người chủ quản kinh thành Mithilā, xứ Videha. Thiếp đã không khi dễ đức vua Suruci bằng thân, bằng lời, hay bằng ý, công khai hay kín đáo.
2036. Thưa bậc ẩn sĩ, với lời nói chân thật này, xin cho đứa con trai hãy được sanh ra. Nếu thiếp đang nói lời dối trá, thì cái đầu hãy vỡ tan thành bảy mảnh.
2037. Thưa vị Bà-la-môn, cha, mẹ, và luôn cả thầy của người chồng hợp ý, họ đã là những người hướng dẫn cho thiếp trong khi họ còn sống.
2038. Thiếp đây có sự ưa thích việc không hãm hại, có sự thực hành thiện pháp một cách tự nguyện. Thiếp đã hầu hạ cha mẹ chồng một cách nghiêm chỉnh, đêm ngày không biếng nhác.
2039. Thưa bậc ẩn sĩ, với lời nói chân thật này, xin cho đứa con trai hãy được sanh ra. Nếu thiếp đang nói lời dối trá, thì cái đầu hãy vỡ tan thành bảy mảnh.
2040. Thưa vị Bà-la-môn, có mười sáu ngàn vương phi. Thiếp đã không bao giờ có sự ganh tỵ hay giận dữ đối với các nàng ấy.
2041. Thiếp vui mừng với việc các nàng ấy có được điều tốt đẹp, và không nàng nào là không được thiếp yêu thương. Thiếp luôn luôn cảm thông với tất cả các cô vợ chung chồng tựa như với chính bản thân mình.
2042. Thưa bậc ẩn sĩ, với lời nói chân thật này, xin cho đứa con trai hãy được sanh ra. Nếu thiếp đang nói lời dối trá, thì cái đầu hãy vỡ tan thành bảy mảnh.
2043. Đối với các nô bộc, các người làm công, các người hầu, và những người khác có cuộc sống phụ thuộc, thiếp chu cấp cho họ một cách hợp lý, luôn luôn có thần thái vui vẻ.
2044. Thưa bậc ẩn sĩ, với lời nói chân thật này, xin cho đứa con trai hãy được sanh ra. Nếu thiếp đang nói lời dối trá, thì cái đầu hãy vỡ tan thành bảy mảnh.
2045. Đối với các vị Sa-môn, các vị Bà-la-môn, hoặc luôn cả những người nghèo khổ, thiếp làm cho họ toại ý với cơm ăn và nước uống, luôn luôn là người có bàn tay mở ra.
2046. Thưa bậc ẩn sĩ, với lời nói chân thật này, xin cho đứa con trai hãy được sanh ra. Nếu thiếp đang nói lời dối trá, thì cái đầu hãy vỡ tan thành bảy mảnh.
2047. Vào ngày mười bốn, ngày mười lăm, với cả ngày mồng tám của mỗi nửa tháng, và những ngày phụ trội của nửa tháng, thiếp hành trì ngày trai giới được tốt đẹp trọn vẹn tám điều, luôn luôn thu thúc trong các giới.
2048. Thưa bậc ẩn sĩ, với lời nói chân thật này, xin cho đứa con trai hãy được sanh ra. Nếu thiếp đang nói lời dối trá, thì cái đầu hãy vỡ tan thành bảy mảnh.”
2049. “Này nàng công chúa có danh tiếng, toàn bộ tất cả các đức hạnh mà nàng tán dương về bản thân, này người nữ hiền thục, các đức hạnh ấy được tìm thấy ở nàng.
2050. Một vị Sát-đế-lỵ thành tựu về dòng dõi, được sanh ra tốt đẹp, có danh tiếng, vị vua công chính của xứ sở Videha, sẽ là người con trai được sanh lên cho nàng.”
2051. “Dơ bẩn, mang theo bụi bặm và cáu ghét, đứng ở không trung trên bầu trời, ngài nói lời nói làm thích ý, có sự chạm đến trái tim của thiếp.
2052. Phải chăng ngài là vị Thiên nhân từ cõi Trời, hay là vị ẩn sĩ có đại thần lực? Ngài là ai mà đã ngự đến đây? Xin ngài hãy cho thiếp biết về bản thân ngài.”
2053. “Hội chúng chư Thiên hội tụ ở giảng đường Sudhammā đảnh lễ vị nào, thì vị ấy chính là ta, Thiên Chủ Sakkha, vị có ngàn mắt, ta đã đi đến gặp nàng.
2054. Các người nữ ở thế gian của cuộc sống là những người sống yên tịnh, có trí tuệ, có giữ giới, kính mẹ chồng như Thiên thần, chung thủy.
2055. Với người nữ thông minh, có việc làm trong sạch như thế ấy, chư Thiên, hạng không phải là người, đi đến gặp nàng, thuộc hạng người.
2056. Này người nữ hiền thục, với thiện hạnh đã khéo được thực hành trước đây, nàng đã được sanh vào gia tộc vua chúa ở nơi này, là người nữ có sự thành tựu mọi ước muốn.
2057. Hỡi nàng công chúa, đây là vận mệnh tốt đẹp của nàng ở cả hai nơi: sự sanh lên thế giới chư Thiên và danh tiếng ở cuộc sống tại nơi này.
2058. Này người nữ thông minh, này người nữ có hạnh phúc, nàng hãy gìn giữ thiện pháp lâu dài ở bản thân. Ta đây đi về cõi Trời. Việc gặp gỡ nàng là đáng quý đối với ta.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Mahesī surucino † bhariyā, ānītā paṭhamaṃ ahaṃ;
Dasa vassasahassāni, yaṃ maṃ surucimānayi.
489. I am the chief queen, the wife of Suruci, brought here first. For ten thousand years I have dwelt in this palace since Suruci brought me.
Tôi là chánh hậu, là vợ của vua Suruci, được đưa về đây đầu tiên. Đã mười ngàn năm, kể từ khi vua Suruci rước tôi về.
103.
103.
103.
Sāhaṃ brāhmaṇa rājānaṃ, vedehaṃ mithilaggahaṃ;
Nābhijānāmi kāyena, vācāya uda cetasā;
Suruciṃ atimaññittha †, āvi † vā yadi vā raho.
O Brahmin, I do not recall ever having transgressed against the king, Suruci, ruler of Videha and lord of Mithila, by body, speech, or mind, whether openly or in secret.
Này Bà-la-môn, tôi không hề nhớ rằng đã từng xem thường vua Suruci, đấng cai trị xứ Videha, chúa tể thành Mithilā, bằng thân, khẩu, hay ý, dù là ở trước mặt hay sau lưng.
104.
104.
104.
Etena saccavajjena, putto uppajjataṃ ise;
Musā me bhaṇamānāya, muddhā phalatu sattadhā.
By this declaration of truth, may a son be born, O sage. If I am speaking falsely, may my head split into seven pieces.
Thưa vị ẩn sĩ, do lời chân thật này, mong rằng con trai sẽ sanh ra. Nếu con nói lời dối trá, mong rằng đầu của con vỡ ra làm bảy mảnh.
105.
105.
105.
Bhattu mama sassu mātā, pitā cāpi ca sassuro;
Te maṃ brahme vinetāro, yāva aṭṭhaṃsu jīvitaṃ.
O holy one, my husband's mother, my mother-in-law, and his father, my father-in-law—they were my instructors for as long as they lived.
Thưa bậc Phạm hạnh, mẹ chồng của con, tức là mẹ của phu quân con, và cả cha chồng nữa, cả hai vị ấy đã dạy dỗ con, chừng nào các vị ấy còn sống.
106.
106.
106.
Sāhaṃ ahiṃsāratinī, kāmasā † dhammacārinī †;
Sakkaccaṃ te upaṭṭhāsiṃ, rattindivamatanditā.
I, delighting in non-harming and practicing the Dhamma, respectfully and untiringly served them, day and night.
Con là người thích thú trong sự không hãm hại, là người thực hành theo Chánh pháp. Con đã hầu hạ hai vị ấy một cách kính cẩn, không mệt mỏi, cả ngày lẫn đêm.
107.
107.
107.
Etena saccavajjena, putto uppajjataṃ ise;
Musā me bhaṇamānāya, muddhā phalatu sattadhā.
By this declaration of truth, may a son be born, O sage. If I am speaking falsely, may my head split into seven pieces.
Thưa vị ẩn sĩ, do lời chân thật này, mong rằng con trai sẽ sanh ra. Nếu con nói lời dối trá, mong rằng đầu của con vỡ ra làm bảy mảnh.
108.
108.
108.
Soḷasitthisahassāni, sahabhariyāni brāhmaṇa;
Tāsu issā vā kodho vā, nāhu mayhaṃ kudācanaṃ.
O Brahmin, there were sixteen thousand co-wives, and never did jealousy or anger arise in me towards them.
Thưa vị Bà-la-môn, có mười sáu ngàn người nữ là những người vợ cùng chồng với con. Đối với họ, lòng ganh tỵ hay sân hận chưa từng có nơi con, dù chỉ một lần.
109.
109.
109.
Hitena tāsaṃ nandāmi, na ca me kāci appiyā;
Attānaṃvānukampāmi, sadā sabbā sapattiyo.
I rejoiced in their welfare, and not one of them was displeasing to me. I always had compassion for all my co-wives, as for myself.
Con vui mừng với lợi ích của họ, và không có ai là người con không thương mến. Con luôn thương xót tất cả những người vợ cùng chồng như chính bản thân mình.
110.
110.
110.
Etena saccavajjena, putto uppajjataṃ ise;
Musā me bhaṇamānāya, muddhā phalatu sattadhā.
By this declaration of truth, may a son be born, O sage. If I am speaking falsely, may my head split into seven pieces.
Thưa vị ẩn sĩ, do lời chân thật này, mong rằng con trai sẽ sanh ra. Nếu con nói lời dối trá, mong rằng đầu của con vỡ ra làm bảy mảnh.
111.
111.
111.
Dāse kammakare pesse †, ye caññe anujīvino;
Pesemi † sahadhammena, sadā pamuditindriyā.
Slaves, workers, messengers, and other dependents—I direct them in accordance with duty, always with joyful faculties.
Những người nô lệ, những người làm công, những người phục dịch, và những người khác sống nương nhờ con, con sai khiến họ một cách đúng pháp, luôn luôn với các căn hoan hỷ.
112.
112.
112.
Etena saccavajjena, putto uppajjataṃ ise;
Musā me bhaṇamānāya, muddhā phalatu sattadhā.
By this declaration of truth, may a son be born, O sage. If I am speaking falsely, may my head split into seven pieces.
Thưa vị ẩn sĩ, do lời chân thật này, mong rằng con trai sẽ sanh ra. Nếu con nói lời dối trá, mong rằng đầu của con vỡ ra làm bảy mảnh.
113.
113.
113.
Samaṇe brāhmaṇe cāpi, aññe cāpi vanibbake;
Tappemi annapānena, sadā payatapāṇinī.
Ascetics and brahmins, and other mendicants as well, I always satisfy with food and drink, with hands made pure.
Các vị Sa-môn và cả các vị Bà-la-môn, và cả những người hành khất khác, con luôn làm cho họ thỏa mãn với vật thực và thức uống, với đôi tay trong sạch.
114.
114.
114.
Etena saccavajjena, putto uppajjataṃ ise;
Musā me bhaṇamānāya, muddhā phalatu sattadhā.
By this declaration of truth, may a son be born, O sage. If I am speaking falsely, may my head split into seven pieces.
Thưa vị ẩn sĩ, do lời chân thật này, mong rằng con trai sẽ sanh ra. Nếu con nói lời dối trá, mong rằng đầu của con vỡ ra làm bảy mảnh.
115.
115.
115.
Cātuddasiṃ pañcaddasiṃ †, yā ca pakkhassa aṭṭhamī †;
Pāṭihāriyapakkhañca, aṭṭhaṅgasusamāgataṃ †;
Uposathaṃ upavasāmi †, sadā sīlesu saṃvutā.
On the fourteenth, the fifteenth, and the eighth day of the fortnight, and on the special observance days, I observe the Uposatha, complete with its eight factors, always restrained in virtue.
Vào ngày mười bốn, ngày mười lăm, và ngày thứ tám của mỗi nửa tháng, và cả những ngày phụ trội đặc biệt, con thực hành ngày Bố-tát gồm tám chi phần được khéo thọ trì, luôn luôn thu thúc trong các giới.
116.
116.
116.
Etena saccavajjena, putto uppajjataṃ ise;
Musā me bhaṇamānāya, muddhā phalatu sattadhā.
By this declaration of truth, may a son be born, O sage. If I am speaking falsely, may my head split into seven pieces.
Thưa vị ẩn sĩ, do lời chân thật này, mong rằng con trai sẽ sanh ra. Nếu con nói lời dối trá, mong rằng đầu của con vỡ ra làm bảy mảnh.
117.
117.
117.
Sabbeva te dhammaguṇā, rājaputti yasassini;
Saṃvijjanti tayi bhadde, ye tvaṃ kittesi attani.
All these qualities of Dhamma which you have declared of yourself, O renowned princess, O gracious lady, are indeed found in you.
Thưa công chúa danh tiếng, thưa hiền nương, tất cả những đức hạnh mà nàng đã kể về chính mình, đều có hiện hữu nơi nàng.
118.
118.
118.
Khattiyo jātisampanno, abhijāto yasassimā;
Dhammarājā videhānaṃ, putto uppajjate tava †.
A khattiya, endowed with noble birth, of high lineage and great renown, a righteous king of the Videhans—such a son shall be born to you.
Một người con trai dòng Sát-đế-lỵ, đầy đủ về dòng dõi, thuộc dòng dõi cao quý, có danh tiếng, một vị vua trị vì theo Chánh pháp của xứ Videha, sẽ sanh ra cho nàng.
119.
119.
119.
Dummī † rajojalladharo, aghe vehāyasaṃ ṭhito;
Manuññaṃ bhāsase vācaṃ, yaṃ mayhaṃ hadayaṅgamaṃ.
Of unsightly appearance, covered in dust and dirt, standing unsupported in the sky, you speak a pleasing word that goes to my heart.
Mặt mày lem luốc, mang đầy bụi bẩn, ngài đứng trên không trung không vướng mắc, và nói lời khả ái đi vào lòng tôi.
120.
120.
120.
Devatānusi saggamhā, isi vāsi † mahiddhiko;
Ko vāsi tvaṃ anuppatto, attānaṃ me pavedaya.
Are you a deva come from heaven, or a sage of great power? Who are you that has arrived here? Reveal yourself to me.
Phải chăng ngài là một vị trời từ thiên giới, hay là một vị ẩn sĩ có đại thần lực? Ngài là ai đã đến đây? Xin hãy cho tôi biết về ngài.
121.
121.
121.
Yaṃ devasaṅghā vandanti, sudhammāyaṃ samāgatā;
Sohaṃ sakko sahassakkho, āgatosmi tavantike.
I am Sakka, the thousand-eyed, whom the assemblies of devas, gathered in the Sudhammā Hall, revere. I have come into your presence.
Người mà chúng chư thiên đảnh lễ khi hội họp tại thiên đình Sudhammā, Ta chính là Sakka, người có ngàn mắt, đã đến trước mặt nàng.
122.
122.
122.
Itthiyo † jīvalokasmiṃ, yā hoti † samacārinī †;
Medhāvinī sīlavatī, sassudevā patibbatā.
Whatever woman in this world of living beings is of even conduct, intelligent, virtuous, reveres her parents-in-law as devas, and is devoted to her husband—
Trong thế giới chúng sanh, người nữ nào có hạnh kiểm thuần nhất, có trí tuệ, có giới hạnh, kính trọng mẹ chồng như trời, và chung thủy với chồng.
123.
123.
123.
Tādisāya sumedhāya, sucikammāya nāriyā;
Devā dassanamāyanti, mānusiyā amānusā.
Non-human devas come to see such a woman, one who is human, of great wisdom, and of pure deeds.
Các vị trời, những bậc phi nhân, đến cõi người để diện kiến một người nữ như vậy, một người có trí tuệ tốt đẹp và hành động trong sạch.
124.
124.
124.
Tvañca bhadde suciṇṇena, pubbe sucaritena ca;
Idha rājakule jātā, sabbakāmasamiddhinī.
And you, gracious lady, through well-practiced and good conduct in the past, were born here in a royal family, endowed with all desired things.
Và nàng, thưa hiền nương, do sự thực hành tốt đẹp và hạnh kiểm tốt đẹp trong quá khứ, đã sanh vào hoàng tộc này, được thành tựu mọi mong muốn.
125.
125.
125.
Ayañca te rājaputti, ubhayattha kaṭaggaho;
Devalokūpapattī ca, kittī ca idha jīvite.
And this, O princess, is for you a victorious grasp in both worlds: rebirth in the deva world and fame here in this life.
Thưa công chúa, sự thực hành tốt đẹp này của nàng là sự nắm giữ chiến thắng ở cả hai nơi: đó là sự tái sanh vào cõi trời và danh tiếng trong đời sống này.
126.
126.
126.
Ciraṃ sumedhe sukhinī, dhammamattani pālaya;
Esāhaṃ tidivaṃ yāmi, piyaṃ me tava dassananti.
O Sumedhā, be happy and long protect the Dhamma within yourself. I am now going to heaven; your sight is dear to me.
Này Sumedhā, hãy được an lạc lâu dài, hãy hộ trì Chánh pháp nơi chính mình. Việc gặp gỡ nàng thật là đáng quý đối với ta. Ta đây sẽ đi về cõi trời Tam thập tam.
Surucijātakaṃ chaṭṭhaṃ.
The Jātaka of Suruci, the Sixth.
Chuyện Bổn sanh Suruci, thứ sáu.